Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

PA nhà văn hóa lao động khánh hòa


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "PA nhà văn hóa lao động khánh hòa ": http://123doc.vn/document/567077-pa-nha-van-hoa-lao-dong-khanh-hoa.htm


MẬT Loại : II
PHƯƠNG ÁN CHỮA CHÁY
CƠ SỞ : NHÀ VĂN HÓA LAO ĐỘNG KHÁNH HÒA
ĐỊA CHỈ : SỐ 22 PHẠM VĂN ĐỒNG - P. VĨNH HẢI
TP.NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA
ĐIỆN THOẠI : ( 058 ) 3837759 - 3836977
CƠ QUAN QUẢN LÝ CẤP TRÊN TRỰC TIẾP :
LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH KHÁNH HÒA

Nha Trang, 05 - 2010
1
2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
o0o
MẬT Loại : II
PHƯƠNG ÁN CHỮA CHÁY
CƠ SỞ : NHÀ VĂN HÓA LAO ĐỘNG KHÁNH HÒA
ĐỊA CHỈ : SỐ 22 PHẠM VĂN ĐỒNG - P. VĨNH HẢI
TP.NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA
ĐIỆN THOẠI : ( 058 ) 3837759 - 3836977
CƠ QUAN QUẢN LÝ CẤP TRÊN TRỰC TIẾP :
LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH KHÁNH HÒA
Nha trang, ngày 22/05/2010 Nha Trang , ngày 20 / 05 / 2010
CQ QUẢN LÝ TRỰC TIẾP ĐƠN VỊ LẬP PHƯƠNG ÁN


3
A. ĐẶC ĐIỂM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỮA CHÁY
I. Vò trí đòa lý : Nhà văn hóa Lao động Khánh Hòa tọa lạc tại số 22 đường Phạm
Văn Đồng, phường Vónh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Nhà văn hóa có diện tích đất : 14.397,9 m
2

- Tổng diện tích sàn xây dựng: 6.615 m
2
.
- Nhà văn hóa có tứ cận như sau :
+ Phía Đông giáp đường Phạm Văn Đồng (rộng 26 mét).
+ Phía Tây giáp đường số 2.
+ Phía Bắc giáp đường Mai Xuân Thưởng (rộng 18)
+ Phía Nam giáp đường Nguyễn Biểu (rộng 10 mét) .
II. Giao thông bên trong và bên ngoài :
- Giao thông bên trong : Nhà văn hóa lao động bao gồm 4 ngôi nhà được
xây dựng cách tương đối xa nhau nên giao thông nội bộ trong cơ sở tương
đối thuận lợi cho công tác chữa cháy. Trong toà nhà 5 tầng có 3 cầu thang
bộ phục vụ cho việc đi lại và thoát nạn khi có sự cố. Các cầu thang bộ có
chiều rộng thông thủy của vế thang là 1,25 mét, bảo đảm thoát nạn cho
người khi có sự cố xảy ra.
- Giao thông bên ngoài : Nhà văn hóa lao động nằm ở vò trí có 4 phía đều
tiếp giáp với đường giao thông có chiều rộng từ 10 đến 26 mét, nên rất
thuận lợi cho giao thông chữa cháy.
III. Nguồn nước :
TT NGUỒN NƯỚC
Trữ lượng( m
3
)
hoặc lưu lượng
(l/s )
Vò trí khoảng cách
Nguồn nước (m)
NHỮNG ĐIỂM
CẦN LƯU Ý
1 2 3 4 5

Bên trong :
Bể nước ngầm 60 m
3
Tại tầng trệt quán
cafe
Bể nước mái 50 m
3
Trên mái của nhà
5 tầng
4

Bên ngoài :
Trụ nước CC thành
phố
10 l/s 10 m
Trên đường Phạm
Văn Đồng
Xe và máy bơm
CC có thể hút
nước để chữa
cháy được.
IV. Tính chất, đặc điểm nguy hiểm về cháy , nổ, độc :
Nhà văn hóa lao động là một cơ sở làm việc hành chính, là nơi tổ chức
các diễn đàn, hội họp và là nơi luyện tập thể thao. Đồng thời cũng là nơi cho các
đoàn khách lưu trú. Nhà văn hóa lao động bao gồm 04 ngôi nhà như sau:
+ Nhà1: Nhà 1 tầng kết cầu BTCT, diện tích 1.420 m
2
. Là nhà thể thao
đa năng.
+ Nhà 2: Nhà 5 tầng, kết cấu BTCT. Trong đó có 2 tầng dùng để làm
việc, 3 tầng dùng để tiếp đón khách lưu trú nghỉ.
+ Nhà 3: Nhà 1 tầng, tường gạch mái ngói, diện tích 178 m
2
.
+ Nhà 4: Nhà 1 tầng, khung thép , mái tole, diện tích xây dựng 140 m
2
.
Nhà văn hóa lao động có số người làm việc thường xuyên khoảng 20 người. Các
chất cháy chủ yếu tại cơ sở là giấy tờ, hồ sơ sổ sách, máy móc thiết bò điện, phong
màn, drag, nệm Nguyên nhân gây cháy chủ yếu là do sự cố của hệ thống
điện và các thiết bò điện rồi gây cháy Khi xảy ra cháy tại trụ sở làm việc, cháy
có thể gây cháy lan từ phòng này sang phòng khác. Đồng thời chất cháy là những
chất giấy, gỗ, nhựa, vải, cao su, nệm mút…. , nên khi cháy tỏa ra nhiều khói độc .
Vì vậy khi xảy ra cháy dễ gây ra cháy lớn.
V. Lực lượng, phương tiện chữa cháy tại chỗ :
1. Lực lượng :
Tổng số nhân viên làm việc tại Nhà văn hóa lao động gồm 22 người.
Trong đó: Đội chữa cháy cơ sở gồm 16 người.
( Có quyết đònh thành lập đội chữa cháy kèm theo PA )
2. Phương tiện chữa cháy :
Phương tiện Phòng cháy chữa cháy được trang bò tại trụ sở gồm :
+ Hệ thống chữa cháy vách tường: 01 máy bơm chữa cháy TOHATSU-V20,
15 hộp chữa cháy vách tường (mỗi hộp bao gồm 01 cuộn vòi chữa cháy Þ50
5
mm, dài 20 m; 01 lăng phun nước Þ13mm). 02 cột lấy nước chữa cháy loại
02 họng Þ 65mm.
+ Phương tiện chữa cháy xách tay gồm: 44 bình chữa cháy MT3.
+ Hệ thống báo háy tự động gồm: 01 tủ trung tâm báo cháy, 50 đầu báo
cháy.
B - PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CHÁY LỚN PHỨC TẠP NHẤT :
I. Giả đònh tình huống cháy :
 Giả sử hồi 9 h 30 phút ngày 10 tháng 01 năm 2010 . Xảy ra cháy tại
Khu vực sân khấu, Nhà văn hóa lao động, đòa chỉ số 22 đường Phạm Văn Đồng,
phường Vónh Hải, thành phố Nha Trang, đám cháy ban đầu có diện tích S
c
= 70
m
2
.
 Nguyên nhân cháy : Do đang tổ chức hội nghò thì chập điện tại sân khấu
và gây cháy.
 Dự kiến thời gian đám cháy phát triển tự do là 2 phút . Khi xảy ra cháy
đám cháy phát triển trong phạm vi khu vực sân khấu và có diện tích cháy ban đầu
là 70 m
2
và có thể lan sang khu vực khán giả. Đám cháy tỏa ra nhiều khói độc nên
chú ý có thể bò ngạt đối với số khán giả đang dự hội nghò và nguy hiểm cho mọi
người khi tham gia chữa cháy.

II. Tính toán lực lượng, phương tiện :
1. Lực lượng phương tiện chữa cháy tại chỗ :
A/ Phương tiện :
 Phương tiện chữa cháy phục vụ cho tình huống chữa cháy gồm: 01 máy
bơm chữa cháy TOHATSU V20; 06 cuộn vòi; 03 lăng chữa cháy; 06 bình chữa
cháy MT3.
B/ Lực lượng :
 Lực lượng chữa cháy chủ yếu là sử dụng số người có mặt thường xuyên
tại Nhà văn hóa lao động gồm 16 người, mà những nhân viên này đều nằm trong
đội chữa cháy và đã được huấn luyện về nghiệp vụ chữa cháy và có thể huy động
bà con ở xung quanh để hỗ trợ.
6
III. Kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy :
TT
Đơn vò
Huy đôïng
Điện thoại
Số người
Huy động
Số lượng, chủng
loại phương tiện
huy động
Ghi chú
1
Đội chữa cháy
chuyên nghiệp
114
058.3510134
15 người 02 xe chữa cháy
2
Công an phường
Vónh Hải
058.3831026
02 người
IV. Kế hoạch triển khai chữa cháy :
1/.Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng tại chỗ :
Khi có cháy xảy ra thực hiện các bước và qui trình cứu chữa như sau:
1.1 Báo động, báo cháy:
 Khi có cháy xảy ra, ngươiø phát hiện cháy hô to: Cháy ! Cháy, để báo cho
mọi người trong cơ quan biết có cháy xảy ra.
 Nhân viên lễ tân Nguyễn Thò Ngọc Mỹ sử dụng điện thoại tại lễ tân gọi
điện báo cho:
7
+ Đơn vò Phòng cháy chữa cháy số : 114 hoặc (058) 3510134
+ Báo cho Giám đốc Nhà văn hóa (nếu vắng mặt): 0983005125
+ Báo cho Chủ tòch Liên đoàn Lao động tỉnh Khánh Hòa số:
+ Công an phường Vónh Hải số : (058) 3831026
 Nhân viên bảo vệ Trần Bình Lương có nhiệm vụ đón và hướng dẫn cho
xe chữa cháy tiếp cận nguồn nước và bảo vệ tài sản cứu được.
1.2 Cắt điện:
 Nhân viên Văn phòng Lê Xuân Khánh nhanh chóng cắt điện toàn bộ
Nhà văn hóa tại vò trí cầu dao tổng, đồng thời gọi điện báo cho Chi nhánh điện lực
Vónh Hải số: 058.38 để cắt điện khu vực nếu xét thấy cần thiết. Sau
đó cùng tổ chữa cháy sử dụng các bình chữa cháy tham gia cứu chữa.
1.3 Tổ chức cứu người, cứu tài sản:
 Tổ di chuyển tài sản do Ông Đặng Ngọc Thành phụ trách hướng dẫn lực
lượng hỗ trợ của bà con xung quanh tới hỗ trợ có nhiệm vụ di chuyển những tài
sản ra nơi an toàn, giao cho tổ bảo vệ quản lý.
1.4 Tổ chức chữa cháy:
 Khi có báo động cháy xảy ra thì người Đội trưởng chữa cháy do Ông
Phạm Hoàng Anh phụ trách nhanh chóng xác đònh rõ vò trí xảy ra cháy, loại chất
cháy, qui mô đám cháy, diễn biến đám cháy để đưa ra phương án chữa cháy đạt
hiệu quả nhất.
 Người Đội trưởng chữa cháy cùng các đội viên đội chữa cháy cơ sở còn
lại gồm bảo vệ, trực buồng, văn hóa, tạp vụ… nhanh chóng tới vò trí đám cháy và
phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người như sau:
+ Nhân viên bảo vệ Nguyễn Thành Khải làm nhiệm vụ cho máy bơm chữa
cháy hoạt động và thực hiện thao tác phun hút nước sẵn sàng chờ lệnh của chỉ huy
chữa cháy.
+ Nhân viên văn phòng Ông Lê Xuân Khánh phụ trách cùng các nhân viên
trực buồng sử dụng 6 cuộn vòi lấy ở tầng 1 và tầng 2 lắp vào 2 họng nước chữa
cháy vách tường gần điểm cháy kéo đến vò trí chữa cháy để cứu chữa. Đồng thời
sử dụng 06 bình chữa cháy MT3 để ở 03 hộp đựng bình tại tầng 1 để tham gia
chữa cháy.
 Khi có lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp đến thì ngưòi Giám đốc Nhà
văn hóa báo cáo tình hình cháy cho chỉ huy chữa cháy chuyên nghiệp . Sau đó
thực hiện các nhiệm vụ do chỉ huy chữa cháy chuyên nghiệp phân công. Lúc này
việc tổ chức chữa cháy theo phương án, chiến thuật của lực lượng chữa cháy
chuyên nghiệp.
8
1.5 Tham gia bảo vệ hiện trường:
 Khi đám cháy được dập tắt thì người Giám đốc Nhà văn hóa cử người
bảo vệ hiện trường cháy. Cung cấp các thông tin xác thực về vụ cháy cho cơ quan
có thẩm quyền. Cùng tham gia với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện
trường , điều tra nguyên nhân cháy.
1.6 Khắc phục hậu quả vụ cháy:
 Tổ chức cấp cứu người bò nạn, cứu trợ, giúp đỡ người bò thiệt hại để ổn
đòng cuộc sống;
 Thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường, trật tự an toàn xã
hội;
 Nhanh chống phục hồi hoạt động của đơn vò, cơ sở;
 Kiện toàn, bổ sung trang thiết bò PCCC đưa vào thường trực.
2. Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy :
Khi đội chữa cháy chuyên nghiệp nhận được điện báo của cơ sở thì chỉ huy
chữa cháy ra lệnh điều động lực lượng gồm 15 CBCS và 02 xe chữa cháy triển
khai phương án của lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp .
3. Nhiệm vụ cụ thể của các lượng khác :
Nhiệm vụ của Công an Phường Vónh Hải : Khi được tin báo cháy của cơ sở
Công an Phường Vónh Hải cử ngay 02 CBCS xuống nơi xảy ra cháy , huy động lực
lượng chữa cháy dân phòng ở đòa phương phối hợp cùng cơ sở chữa cháy, di
chuyển tài sản và bảo vệ tài sản , giữ gìn ANTT tại khu vực.
V. Sơ đồ bố trí lực lượng, phương tiện để chữa cháy tình huống cháy lớn phức tạp
nhất
( Có sơ đồ mặt bằng tổng thể và sơ đồ phương án chữa cháy kèm theo )
9
C. PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ MỘT SỐ
TT
Giả đònh tình huống và kết quả tính
toán Lượng lực, phương tiện chữa
cháy
Kế hoạch huy động lực lượng,
phương tiện chữa cháy
1 2 3
A Giả sử cháy xảy ra vào hồi 18 giờ 30
ngày 10/01/209 tại Phòng nghỉ số 503
– Tầng 5 của Nhà văn hóa . Trong tình
huống này đám cháy xảy ra vào buổi
tối vì vậy trong quá trình tổ chức chữa
cháy phải chú ý đến việc chiếu sáng
cho công tác chữa cháy. Tổ chức hướng
dẫn cho con ngøi thoát nạn. Mọi công
tác tổ chức chữa cháy diễn ra theo như
giải quyết tình huống ở trên.
Giống như tình huống đã triển khai ở
trên. Đơn vò chữa cháy chuyên nghiệp
huy động 01 xe thang chữa cháy
chuyên dùng.
B Giả sử cháy xảy ra vào hồi 9 giờ 30
ngày 11/01/2009 tại Văn phòng làm
việc. Nguyên nhân do chập điện gây
cháy. Trong trường hợp này đám cháy
vừa xảy ra đã được phát hiện ngay nên
việc tổ chức chữa cháy chỉ xảy ra cục
bộ như cúp điện tại cầu dao khu vực;
sử dụng các bình chữa cháy tại chỗ để
chữa cháy cục bộ là đủ.
Không huy động lực lượng CC bên
ngoài
10
TÌNH HUỐNG CỤ THỂ :
NHIỆM VỤ CỦA LƯNG
Lực lượng tại chỗ Lực lượng cảnh sát PCCC Các lực lượng khác
4 5 6
Giống như tình huống đã
triển khai ở trên
Giống như tình huống đã triển khai
ở trên
Chỉ sử dụng lực lượng,
phương tiện cục bộ tại chỗ.
Không
11
B. BỔ SUNG CHỈNH LÝ PHƯƠNG ÁN CHỮA CHÁY :
TT
Ngày
Tháng
năm
NỘI DUNG BỔ SUNG CHỈNH LÝ
Chữ ký của
người Có trách
nhiệm xây dựng
phương án
1 2 3 4
12
Đ. THEO DÕI TÌNH HÌNH HỌC, THỰC TẬP PHƯƠNG ÁN CHỮA CHÁY:
Ngày
Tháng
năm
Nội dung
Hình thức học,
thực tâïp
Tình huống
cháy
Lực lượng,
phương tiện
tham gia
Nhận xét đánh
giá kết quả
1 2 3 4 5
13

Báo cáo hoạt động kinh doanh Khách Sạn Bộ Xây Dựng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Báo cáo hoạt động kinh doanh Khách Sạn Bộ Xây Dựng ": http://123doc.vn/document/567234-bao-cao-hoat-dong-kinh-doanh-khach-san-bo-xay-dung.htm


Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian ba năm học tập tại trường Đại học Thương Mại tuy thời
gian học tập và rèn luyện không nhiều nhưng những gì em học được đã giúp em có hành
trang để tự tin bước vào cuộc sống mới áp dụng những kiến thức đã học vào công việc trở
thành người công dân tốt có ích cho xã hội, để có được thành tựu như ngày hôm nay em
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy cô giáo trong trường và thầy cô giáo bộ môn
Quản trị nghiệp vụ dịch vụ Khách sạn- Du lịch. Thầy cô đã truyền đạt những nền tảng kiến
thức quý báu, giúp em có thể có thêm nhưng kiến thức không chỉ là những kiến thức
chuyên ngành mà còn cả những kiến thức trong thực tế cuộc sống. Em xin chân thành gửi
lời cảm ơn đến cô giáo Trần Thị Kim Anh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em có thể
hoàn thành tốt bài báo cáo này, giúp em có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ thực tập của mình.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ nhân viên trong
Khách sạn Bộ Xây Dựng, cảm ơn các cô chú, anh chị làm việc tại khách sạn đã nhiệt tình
giúp đỡ, tạo điều kiện giúp em có thể tham gia vào công việc thực tế trong quá trình sản
xuất kinh doanh và cung cấp tài liệu giúp em có thể hoàn thành tốt bài báo cáo thực tập.
Cuối cùng em xin kính chúc thầy cô, các cô chú, anh chị luôn mạnh khỏe, công tác
tốt, luôn hạnh phúc và thành công trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội ngày 9 tháng 9 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Hoàng
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
1
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT VỀ KHÁCH SẠN BỘ XÂY DỰNG 3
1.1. Thông tin chung về khách sạn 3
1.2. Lịch sử hình thành khách sạn Bộ Xây Dựng 4
1.2.1.Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 4 - 2000 4
1.2. 2. Giai đoạn từ tháng 4 - 2000 đến nay 4
1.3. Bộ máy tổ chức lao động Khách sạn 4
1.3.1. Sơ đồ bộ máy lao động 4
1.4. Các lĩnh vực kinh doanh 7
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA KHÁCH SẠN 7
2.3. Nhận xét chung 9
CHƯƠNG 3:THỰC TẾ NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU 10
3.1 Những vấn đề thực tế đang được đặt ra tại doanh nghiệp 11
3.1.1. Ưu điểm 11
3.1.2.Nhược điểm 11
3.2 Một số kiến nghị, đề xuất nghiên cứu 11
KẾT LUẬN 12
Nhận Xét Của Giáo Viên Hướng Dẫn 13
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh
chóng. Nếu chỉ cách đây 15 năm lượng khách du lịch nước ngoài vào nước ta chỉ tính trên
con số hàng ngàn còn lượng khách du lịch nội địa cũng rất ít thì giờ đây nước ta đã thu hút
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
2
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
hơn 1,8 triệu khách du lịch nước ngoài mỗi năm, đó là chưa kể đến vô số những tour du
lịch trong nước. Khách du lịch đến tới Việt Nam không chỉ bị thu hút bởi những phong
cảnh thiên nhiên kì thú, những công trình văn hoá lịch sử đã được hội di sản văn hóa/ thiên
nhiên thế giới (UNESCO) công nhận mà còn bởi một đất nước Việt Nam hoà bình, ổn
định, mở cửa và hội nhập, tự tin và sáng tạo, với trình độ tổ chức những sự kiện, lễ hội văn
hoá quốc tế lớn và những dịch vụ du lịch chất lượng.
Đến với Việt Nam, khách du lịch sẽ có một khoảng thời gian tuyệt vời để
thưởng thức những sản phẩm cũng như dịch vụ của ngành du lịch Việt Nam. Hàng năm,
hàng nghìn khách sạn nhà hàng được mọc lên để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao
của khách du lịch trong và ngoài nước về nhu cầu lưu trú và thưởng thức văn hoá ẩm thực
của địa phương. Khách du lịch trầm trồ bởi những cảnh quan kì thú mà họ thấy,yêu mến
những phong tục văn hóa đặc sắc của địa phương và cảm nhận sâu sắc tất cả những điều
trên trong mỗi món ăn mà họ được thưởng thức. Điều này khiến các khách sạn nhà hàng
muốn đứng vững trong ngành phải liên tục nâng cao chất lượng của dịch vụ lưu trú ăn ở và
du lịch cho khách chỉ nhằm một mục đích chung là thấy họ thực sự thoải mái và hài lòng.
Được sự giúp đỡ của nhà trường với sự chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô giáo và các
anh chị ở các bộ phận trong Khách Sạn Bộ Xây Dựng. Qua thời gian thực tập em đã
hiểu được phần nào về lịch sử hình thành và phát triển của Khách Sạn Bộ Xây Dựng
cũng như công tác quản lý hoạt động của các bộ phận về nghiệp vụ khách sạn trên cơ sở
lý luận đã được học tập tại trường và quá trình tìm hiểu thực tế của Khách Sạn Bộ Xây
Dựng em đã hoàn thành báo cáo thực tập của mình.
Báo cáo hoạt động kinh doanh Khách Sạn Bộ Xây Dựng được bố trí như sau:
Chương I: Khái Quát về Khách Sạn Bộ Xây Dựng.
Chương II: Tình hình hoạt động kinh doanh của Khách Sạn .
Chương III: Thực tế những vấn đề tồn tại và phương hướng nghiên cứu
CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT VỀ KHÁCH SẠN BỘ XÂY DỰNG
1.1. Thông tin chung về khách sạn
Tên doanh nghiệp: Trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng Sầm Sơn, Thanh
Hóa. Khách sạn Bộ Xây Dựng
Địa chỉ: bãi tắm B, đường Hồ Xuân Hương, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
3
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Điện Thoại: (037) 3821050, (037) 3821051.
Giám Đốc: Ông Tống Văn Thống
1.2. Lịch sử hình thành khách sạn Bộ Xây Dựng
Khách sạn Bộ Xây Dựng tiền thân là nhà khách Bộ xây dựng được xây dựng và hình
thành từ năm 1992 đến nay, qua hơn 20 năm hoạt động trải qua bao khó khăn trên con
đường kinh doanh, khách sạn Bộ Xây Dựng vẫn vững vàng và không ngừng phát triển.
Chặng đường phát triển ấy trải qua hai giai đoạn chính:
1.2.1.Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 4 - 2000
Được xây dựng năm 1992 với tên gọi là nhà khách Bộ Xây Dựng, chức năng
của nhà khách trong giai đoạn này là tiếp nhận điều dưỡng – phục hồi chức năng, chăm sóc
sức khỏe cho CBCNV từ các đơn vị trong và ngoài ngành xây dựng
1.2. 2. Giai đoạn từ tháng 4 - 2000 đến nay.
Ngày 24 - 4 - 2000 Bộ trưởng Bộ Xây Dựng ra quyết định số 541/BXDTCL, đổi
tên nhà khách Bộ Xây Dựng thành “doanh nghiệp” kinh doanh khách sạn trực thuộc bộ với
phương thức hạch toán độc lập có con dấu riêng được mở tài khoản tại ngân hàng nhà
nước Việt Nam. Chức năng chủ yếu của khách sạn Bộ Xây Dựng là tổ chức đón tiếp phục
vụ lưu trú ăn ở cho khách trong và ngoài ngành xây dựng, khách trong nước và nước ngoài.
Khuân viên của khách sạn rộng, nhiều cây xanh bóng mát, vườn hoa cây cảnh,gara và bãi
đỗ xe thuận lợi. Khách sạn có 150 phòng nghỉ với đầy đủ các thiết bị, có hội trường, phòng
hội thảo rộng, đầy đủ tiện nghi. Hệ thống nhà ăn lớn có thể phục vụ từ 800 – 1000 thực
khách/1 lượt, phòng ăn lạnh phục vụ từ 30 – 80 thực khách/ 1 lượt.
Như vậy, các dịch vụ của khách sạn gồm:Dịch vụ buồng,dịch vụ ăn uống,tổ chức các
dịch vụ thương mại,vui chơi giải trí.Các dịch vụ bổ sung: giặt là, karaoke, trung tâm
massage, gian hàng lưu niệm, tập luyện phục hồi chức năng, phòng vật lý trị liệu, sân chơi
tennis…
1.3. Bộ máy tổ chức lao động Khách sạn.
1.3.1. Sơ đồ bộ máy lao động
Bộ máy lao động khách sạn Bộ Xây Dựng
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
4
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Chú thích: Quan hệ quản lý:
Quan hệ phối hợp:
Khách sạn Bộ Xây Dựng những ngày đầu mới thành lập với 40 cán bộ công nhân
viên. Qua những năm tháng xây dựng phát triển và trưởng thành đội ngũ cán bộ công nhân
viên đã lên 180 người, tất cả họ đều là những nhân viên lành nghề và giàu kinh nghiệm
phục vụ khách 24/24, luôn luôn cố gắng hoàn thành công việc tốt nhất. Tất cả các thành
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
Giám đốc
Đội lễ tân -
bảo vệ
Tổ giặt làTổ kỹ thuật
buồng
Tổ bếp Tổ bàn bar
Đội lễ tân
- phục vụ
Cửa hàng
ăn uống
Khách sạn
Phòng kế
hoạch - KD
Khối khách
sạn
Phòng du
lịch
Phòng kế
toán
Phó giám đốc
5
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
viên của khách sạn đều có một tôn chỉ chung đó là “ chất lượng dịch vụ phải xứng đáng
với từng đồng tiền mà khách hàng trả”
Trong bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào, một doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển một cách bền vững thì doanh nghiệp ấy đòi hỏi phải lấy nhân tố con người làm
trung tâm . Đó chính là phải có một người lãnh đạo sáng suốt nhanh nhẹn lắm bắt thời cơ
và quyết đoán trong công việc cũng với một đội ngũ công nhân viên có kĩ năng chuyên
nghiệp, làm việc nghiêm túc và hiệu quả. Tất cả mọi người đều phải chung sức chung lòng
xây dựng phát triển công ty. Chính vì vậy mà khách sạn Bộ Xây Dựng với ban điều hành
đã xây dựng nên một bộ máy tổ chức như trên.
1.3.2. Cơ cấu tổ chức lao động.
Qua mô hình trên ta thấy mô hình cơ cấu tổ chức của Khách Sạn thuộc mô hình tổ chức
theo chức năng, trong đó các bộ phận của Khách Sạn có mối quan hệ chặt chẽ được phối
hợp nhip nhàng với nhau.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của từng dịch vụ, cơ cấu tổ chức lao động của khách
sạn Bộ Xây Dựng được phân bố như sau:
- Lãnh đạo đơn vị: giám đốc, phó giám đốc
- Các phòng chức năng: Phòng kế hoạch- kinh doanh, phòng kế toán
- Các bộ phận kinh doanh dịch vụ:Phòng du lịch.Đội lễ tân- bảo vệ (tổ lễ tân, bảo vệ,
tổ kĩ thuật buồng).Nhà hàng ăn uống (tổ bàn bar, bếp).
1.3.3. Mối quan hệ giữa các bộ phận.
- Giám đốc: Ông Tống Văn Thống là người đại diện và có thẩm quyền cao nhất của
khách sạn, chịu trách nhiệm trước công ty, pháp luật nhà nước về quản lý, điều hành hoạt
động của khách sạn
- Phó giám đốc: Ông Nguyễn Lương Ngọc là người giúp Giám đốc quản lý điều hành
một hoặc một số lĩnh vực hoạt động theo phân công của giám đốc và chịu trách nhiệm
trước giám đốc về nhiệm vụ được phân công
- Phòng kế hoạch - kinh doanh:Là một bộ phận, thực hiện công việc chuyên môn về lĩnh
vực kế hoạch – kinh doanh, đầu tư, mua sắm, sửa chữa, kho tàng; công tác lao động tiền
lương, hành chính, văn thư lưu trữ…
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
6
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
- Phòng kế toán- thống kê:Là một bộ phận, thực hiện công việc chuyên môn về lĩnh vực
kế toán thống kê.
- Phòng du lịch:Là một bộ phận dịch vụ, đảm nhiệm về lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du
lịch và các dịch vụ khác có liên quan.
-Đội lễ tân - phục vụ:Là một bộ phận dịch vụ, đảm nhiệm công việc trong lĩnh vực
kinh doanh khách sạn như: lễ tân, bảo vệ, buồng, giặt là, điện nước, bảo dưỡng, sửa
chữa…
- Nhà hàng ăn uống:Là một bộ phận dịch vụ, đảm nhiệm công việc trong lĩnh vực kinh
doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng bao gồm: trưởng nhà hàng, tổ bàn – bar, tổ bếp.
1.4. Các lĩnh vực kinh doanh.
-Dịch vụ kinh doanh lưu trú:Đây chính là chức năng kinh doanh chính của khách
sạn. Với các trang thiết bị phòng ốc đạt tiêu chuẩn quốc tế, khách sạn Bộ Xây Dựng tổ
chức lưu trú cho khách, chào đón và sắp xếp phòng cho khách, tạo điều kiện thuận lợi để
khách ăn ở, đăng kí nhận và trả phòng nhanh chóng.
-Dịch vụ kinh doanh ăn uống: Nhà hàng thường phục vụ nhu cầu ăn uống của khách
ở trong khách sạn, nhân viên khách sạn, cán bộ công nhân viên ở các cơ quan thuộc bộ
xung quanh khách sạn, kế đó là khách du lịch, khách vãng lai
-Các dịch vụ bổ sung:Đó là các dịch vụ giặt là - quần áo, dịch vụ điện thoại, dịch vụ
massage, dịch vụ karaoke. Đặc biệt, khách sạn có phòng phục hồi chức năng và vật lý trị
liêu…
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA KHÁCH SẠN
2.1.Đặc điểm nguồn khách.
Để phục vụ khách được tốt nhất, chu đáo nhất và khách hài lòng nhất. Khách
sạn đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm nguồn khách: mọi nhân viên khách sạn phải nắm rõ
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
7
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
được từng đối tượng khách, xác định đối tượng mình phục vụ là người nước nào để dựa
vào đó ta đưa ra thực đơn phù hợp với tâm lý của khách. Vì thế trước khi phục vụ nhân
viên phải tìm hiểu được tâm lý của các đối tượng khách khác nhau.
Tuy khách sạn Bộ Xây Dựng là một đơn vị kinh doanh độc lập nhưng vẫn là
một đơn vị thành viên của Bộ Xây Dựng do đó nhiệm vụ trước tiên của khách sạn vẫn là
để phục vụ một số lượng khách tương đối lớn và thường xuyên chính là các cán bộ công
nhân viên trong ngành Xây Dựng. Đó có thể là các đơn vị cơ quan đoàn thể tới Thanh Hóa
để tham dự một hội thảo chuyên ngành xây dựng, tham quan du lịch. Các chuyên gia đầu
ngành của Bộ có cả người trong và ngoài nước. Nhưng chủ yếu vẫn là người Việt, nên đối
với đối tượng khách này họ thường ở từ 3 đến 7 ngày và đi theo đoàn, việc phục vụ ăn
uống chủ yếu là theo thực đơn các món ăn Việt Nam, được xen kẽ giữa các món ăn truyền
thống của Thanh Hóa và một số món ăn mang hương vị địa phương của chính họ
Nguồn khách đông thứ hai sử dụng các dịch vụ của khách sạn chính là các du
khách đến Sầm Sơn để nghĩ dưỡng và du lich. Vào những mùa du lịch cao điểm trong năm
khách sạn vẫn đón tiếp một lượng khách du lịch chủ yếu là đi theo tour do Khách sạn tự tổ
chức hoặc tiếp nhận từ các công ty du lịch khác. Khách du lịch thường đến từ nhiều quốc
gia khác nhau: như Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Mĩ … Chính vì thế phong tục tập
quán của họ cũng phức tạp, đòi hỏi khách sạn luôn cố gắng hơn trong giao tiếp với khách
trong khi phục vụ khách, nên việc lên kế hoạch từ phương thức phục vụ cũng như xây
dựng thực đơn đều được nghiên cứu kĩ lưỡng cho từng loại khách sao cho vừa gần gũi với
phong tục của họ vừa thể hiện được văn hoá ẩm thực của Việt Nam trong đó.
2.2.Kết quả kinh doanh năm 2011 và năm 2012
Năm 2011 và năm 2012 là 2 năm mà lượng khách du lịch về Sầm Sơn gia tăng.
Nguồn khách của khách sạn từ trước tới nay vẫn luôn đều đặn được gửi đến từ các cơ quan
trong ngành xây dựng và cũng do sự điều chỉnh giá phòng hợp lý của ban giám đốc nên
một số các cơ quan lân cận cũng đã gửi khách đến. Bên cạnh đó khách sạn đã đưa thêm
một số dịch vụ bổ sung như giặt là , karaoke vào phục vụ khách để hình thành nên một hệ
thống dịch vụ nhằm phục vụ khách có hiệu quả hơn.
Kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn năm 2011 và 2012 như sau:
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
8
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Tăng giảm tuyệt đối năm
2012/2011
Số tiền (
triệu)
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
( triệu)
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
( triệu)
Tỷ lệ
(%)
Tỷ
trọng
(%)
1. Tổng doanh thu
- doanh thu phòng
- doanh thu ăn uống
- doanh thu dv khác
1928
1034
653
241
100
53,63
33,87
12,5
2226
1206
723
297
100
54,18
32,48
13,34
298
172
70
56
115,45
116,63
110,72
123,23
0,55
-1.39
0,84
2. Tổng lợi nhuận
- Kinh doanh phòng
- Kinh doanh ăn uống
- Kinh doanh dv khác
1334
785
389
160
100
58,84
29,16
12
1545
936
399
210
100
60,58
25,82
13.6
211
151
10
50
115,8
119,2
102,57
131,25
1,74
-3,34
1,6
3. Tổng chi phí
- Tỷ suất
- Mức độ tăng giảm
594
30,81%
681
30,59%
87
-0,22%
114,65
4. Thuế lợi tức phải nộp 333,5 386,25 52,75 115,82
5. Lợi tức còn lại sau
thuế
1000,5 1158,75 158,25 115,82
2.3. Nhận xét chung
Nhìn vào bảng phân tích trên chúng ta có thể thấy tổng doanh thu của khách sạn
được cấu thành từ doanh thu phòng, doanh thu ăn uống và doanh thu các dịch vụ khác.
Khách sạn đã lựa chọn và thực hiện đúng các chức năng, doanh thu phòng chiếm tỷ trọng
lớn hơn cả. năm 2012 doanh thu phòng có tăng lên một số tiền ( 172 triệu đồng) tỷ trọng
tăng 0,55%. Điều này chứng tỏ khách sạn kinh doanh tốt hơn năm 2011. Mặc dù vậy
khách sạn đã tạo ra các dịch vụ bổ sung góp phần làm tăng tổng doanh thu chung. Tuy
doanh thu phòng tăng hơn năm trước nhưng doanh thu về mặt hàng ăn uống lại giảm(70
triệu đồng) tỷ trọng giảm 1,39%. Điều này đã khẳng định khách sạn thực hiện đúng chức
năng.
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
9
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Tình hình thực hiện lợi nhuận của khách sạn là bình thường vì tổng lợi nhuận
tăng và lợi nhuận các hoạt động đều tăng trong đó đáng chú ý là lợi nhuận kinh doanh
phòng. Đây là khoản lợi nhuận gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của khách sạn và chiếm
tỷ trọng lớn. Lợi nhuận kinh doanh phòng tăng lên về tỷ lệ là không cao. Điều này chứng
tỏ khách sạn chưa thực hiện tốt hoạt động kinh doanh.
Như vậy có thể nói trong hai kỳ kinh doanh cả về chủ quan lẫn khách quan
khách sạn Bộ Xây Dựng kinh doanh tương đối thuận lợi trong đó do phía chủ quan của
khách sạn là chính. Nếu tính riêng do chủ quan từ phía khách sạn trong việc tổ chức và
quản lý chỉ đạo kinh doanh đã làm tăng lợi nhuận là 211 triệu đồng, tỷ lệ tăng do chủ quan
là 25,78%. Do thực hiện khá tốt lợi nhuận của các hoạt động vì vậy đã góp phần thực hiện
tốt 3 mục đích đó là nhà nước tập thể người lao động cụ thể là phần đóng góp cho ngân
sách nhà nước tăng lên với số tiền là 52,75 triệu đồng và phần để lại cho khách sạn phục
vụ lợi ích tập thể và người lao động với số tiền là 158,25 triệu đồng.
Qua nghiên cứu về khách sạn Bộ Xây Dựng ta thấy chỉ từ một nhà khách của Bộ Xây
Dựng chỉ phục vụ cho các cuộc hội họp của các cán bộ chuyên gia trong ngành giờ đây
khách sạn đã trở thành nơi thu hút mọi đối tượng khách trong nước và nước ngoài. Thành
công ấy đạt được hoàn toàn là nhờ độ ngũ nhân viên nhiệt tình luôn luôn cố gắng tự nâng
cao trình độ chuyên môn của mình và luôn sẵn sàng đưa ra những ý kiến đóng góp vào
việc tạo dựng và xây dựng nên danh tiếng của khách sạn.
CHƯƠNG 3:THỰC TẾ NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì lợi ích của khách hàng luôn được đặt lên
hàng đầu, đặc biệt là trong ngành dịch vụ, khách hàng không chỉ là người tiêu dùng các
dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp mà họ còn là những người góp phần tạo ra những sản
phẩm dịch vụ đó. Nhu cầu của con người ngày càng cao, phát triển dần theo sự phát triển
của nền kinh tế xã hội. Để đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao đó của khách hàng
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
10
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
và tạo cho doanh nghiệp một tập khách hàng ổn định cũng như thu hút được khách hàng
mới, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách.
3.1 Những vấn đề thực tế đang được đặt ra tại doanh nghiệp
3.1.1. Ưu điểm
- Sầm Sơn, Thanh Hóa là nơi du lich nổi tiếng. Đây là cơ hội giúp khách sạn có thể mở
rộng quy mô và tìm kiếm thị trường khách hàng tiềm năng mới
- Khách sạn có đội ngũ nhân viên trẻ năng động, có tay nghề, hiểu biết ham học hỏi và yêu
thích với nghề
- Có vị trí địa lý đẹp, tầm nhìn và diện tích khá rộng, có thế mạnh trong việc mở rộng quy
mô và cung cấp các dịch vụ bổ sung khác
- Có mối quan hệ tốt đẹp và uy tín với các nhà cung ứng nguyên vật liệu, các cơ sở trung
gian trong việc cung ứng tổ chức sự kiên,
- Thị trường khách của nhà hàng nhà hàng ngày càng được mở rộng
- Định hướng khách hàng có thu nhập trung bình do đó nên khách sạn có cơ cấu giá cả khá
hợp lý
3.1.2.Nhược điểm
- Chất lượng sản phẩm các loại hình dich vụ nhìn chung còn thấp hơn so với các đối thủ
cạnh tranh.
- Cơ cấu quản lý nhân sự của khách sạn chưa thực sự có hiệu quả dẫn đến tình trạng lương,
thưởng và các khoản đãi ngộ chưa được chú trọng, nhà quản lý chưa có chính sách, hoạch
định cụ thể trong việc tuyển dụng và phân công lao đông.
- Khách sạn còn thụ động trong khâu tìm kiếm nguồn khách hàng, chủ yếu chỉ trông chờ
vào nguồn khách tự đến mà chưa có chiến dịch marketing cụ thể, dịch vụ chăm sóc khách
hàng sau bán chưa được chú trọng, khách tìm đến chủ yếu vẫn là khách quen và là khách
trong ngành.
3.2 Một số kiến nghị, đề xuất nghiên cứu
Trong quá trình thực tập được tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh
trong khách sạn, trực tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách tại khách sạn,e nhận thấy
một số mặt còn hạn chế trong việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ, em xin mạnh dạn đưa
ra một số kiến nghị đối với khách sạn
+ Nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nhân việc nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho
nhân viên
+ Có chiến lược marketing cụ thể và dài hơi đối với thị trường khách truyền thống và
khách hàng tiềm năng của khách sạn, chú trọng việc chăm sóc khách hàng trong việc cung
ứng dịch vụ bán và sau bán
+ Nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị đối với khách sạn, đối mới quy mô tạo
sự khác biệt đối với các đối thủ cạnh tranh
+ Nên có những chương trình khuyến mãi, trò chơi hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng, mở
rộng mô hình cung ứng các dịch vụ bổ sung
Từ những kiến nghị trên em xin đề xuất vấn đề nghiên cứu
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ kinh doanh ăn uống tại khách sạn Bộ Xây Dựng
+ Hoàn thiện các chiến lược Marketing tại khách sạn Bộ Xây Dựng
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
11
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
KẾT LUẬN
Đối với một sinh viên trong thời gian thực tập là thời gian tốt nhất và thực tế nhất
để tự đánh giá khẳng định những kiến thức đã được học trong trường. Không sách vở nào
có thể dạy cho sinh viên những kiến thức thực tế ngoài môi trường làm việc tại cơ sở mình
thực tập.
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
12
Nguyễn Ngọc Hoàng Lớp: CD13B1
Do trình độ hiểu biết và trình độ kiến thức có hạn hẹp nên bài viết của em còn nhiều
hạn chế chưa hoàn chỉnh. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo để bài
báo cáo của em đạt yêu cầu và hoàn chỉnh hơn.
Trong 3 tuần thực tập vừa qua, nhờ sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các cô chú
trong nhà hàng, sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Trần Thị Kim Anh và nỗ lực
hết sức của bản thân, em đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành tốt đợt
thực tập này.
Một lần nữa , em xin chân thành cảm ơn quý khách sạn đã tạo điều kiện cho em
thực tập tốt nghiệp tại khách sạn một cách có hiệu quả và đảm bảo được tiến độ thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nhận Xét Của Giáo Viên Hướng Dẫn
Khách Sạn Bộ Xây Dựng
13

Tu ay (To Huu)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tu ay (To Huu)": http://123doc.vn/document/567469-tu-ay-to-huu.htm




- Trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và Mỹ cho đến năm 1986, Tố Hữu
liên tục giữ nhiều chức vụ quan trọng
trong bộ máy lãnh đạo nhà nước.


KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY SINH CỦA
TỐ HỮU


Lễ truy điệu của nhà thơ Tố Hữu












2. T¸c phÈm
- “Từ ấy” là bài thơ mở đầu cho phần thơ
“Máu lửa” trong tập thơ “TỪ Ấy” của Tố
Hữu ( sáng tác từ năm 1937 -1946).
- Bài thơ ra đời khi Tố Hữu tìm đến với lý
tưởng của Đảng và ánh sáng của cách
mạng và thực sự được đứng vào hàng ngũ
của Đảng ( lúc nhà thơ 18 tuổi).



Tõ Êy
Tõ Êy trong t«i bõng n¾ng h¹
MỈt trêi ch©n lÝ chãi qua tim
Hån t«i lµ mét v­êng hoa l¸
RÊt ®Ëm h­¬ng vµ rén tiÕng chim …
T«i bc lßng t«i víi mäi ng­êi
§Ĩ t×nh trang tr¶i kh¾p tr¨m n¬i
§Ĩ hån t«i víi bao hån khỉ
GÇn gòi nhau thªm m¹nh khèi ®êi
T«i ®· lµ con cđa v¹n nhµ
Lµ em cđa v¹n kiÕp ph«i pha
Lµ anh cđa v¹n ®Çu em nhá
Kh«ng ¸o c¬m cï bÊt cïa b¬

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

AN APPLICATION OF FAMA FRENCH 3 FACTORS MODEL ON HOSE


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "AN APPLICATION OF FAMA FRENCH 3 FACTORS MODEL ON HOSE": http://123doc.vn/document/567690-an-application-of-fama-french-3-factors-model-on-hose.htm


1. INTRODUCTION
1.1. Overview of Research
The Viet Nam stock market has been formed since July, 1998. Having some certain
achievements, there is still riskiness and weakness. Currently, in Viet Nam, most of investment
decisions of individual investor and business were based on recommendations of securities
companies which using discounted cash flow method or relative method. However, with the
current volatility of the market, these methods proved to be inefficient and could not predict the
real market price of stock. So that investors could not make decisions in a more flexible way.
Therefore, the study of the application of modern financial theory of investment in Viet Nam
stock market in the current period is very important and urgent. Moreover, there were several
researches in the world in applying of the theory of financial investment in the stock market,
especially the empirical research on the stock market in emerging countries. These researches
gave significant and extremely practical results. It reinforces more accuracy and empirical
models. Seeing the need of the application of the asset pricing model to predict the stock
market, I decided to investigate research topic: AN APLICATION OF FAMA FRENCH 3
FACTORS MODEL ON HOSE (HO CHI MINH CITY STOCK EXCHANGE).
The Fama French 3 factors model has been one of the most widely used techniques in the global
investing community for calculating the required return of risky asset but it seems very new in
Viet Nam. This is the reason that motivates me empirically analyse the Fama French model in
the context of Viet Nam stock market.
This project aims to test whether Fama French model is a valid model for estimating risk and
return of stocks listed on the HOSE.
The study’s result might be useful recommendations for investor about how and what Fama
French can be used for predicting risk and return and making investment decision in Viet Nam
stock market.
5
1.2. Research Objectives
With the motivation of specifying appropriate measurement for investors to evaluate risk and
return, this study’s main objective is to evaluate the explanatory power of this model in Viet
Nam stock market. While most empirical tests of this models’ validity conducted with HOSE
data. Therefore, this study will re-examine the forecasting capability of Fama French 3 factors
model for 120 companies listed on HOSE which is listed from July 2008 to June 2013. The
study will examine the effect of market premium, size premium and book value/market value
premium to the stock and portfolio. It is expected to estimating risk and return of stock and
portfolio during the period of down-turn to find whether this model is suitable to evaluate cost
of equity in Viet Nam stock market or not?
1.3. Research Structure
I intend to organize my study as follows: section 1 introduces the thesis topic, section 2 reviews
the literature on Fama French model. Section 3 describes the data of 120 companies in HOSE
(excluding banks, insurance companies, securities firms), which is employed to test the
predicting capability of explanatory variables. Section 4 discusses about the methodology which
is used to conduct the testing. Section 5 reports and analyses the empirical test results. In final
section, summary and limitations of the study are provided.
1.4. Previous Research in Viet Nam
In Vietnam, there are few previous studies on capital asset pricing model, as Vietnam stock
market has been formed 15 years ago. So I will summarize some typical researches on
CAPM and Fama French in Viet Nam.
In 2009, Doctor Quach Manh Hao, a lecturer at the National Economics University, has a
research “Finding an asset pricing model in Viet Nam” posted in Financial Market
imagine. He collected 50 stocks on HOSE and HASTC from 2007 to 2009. He found
that there were 4 most important factors that effect to stock return: Rm, P/E, liquidity
and company size. He applied Fama French model and found the result: R2: 55% and
confidence level: 95%.
In 2010, Vuong Minh Giang has a research ''An Empirical Examination of the Validity of the
CAPM in the Vietnamese Stock Market” at Social Science Research Network. The author
6
collected data from 30 largest capitalization stocks in the period 2007-2009. The linear relation
between risk and rate of return in Vietnam stock market is tested for the falling period 2007-
2009 based on adjusted-price data. As a result, the failure of the test shows that VN-Index,
conventionally regarded as the "market portfolio", is not mean-variance efficient to the asset set
being examined. By optimization calculation, a general envelope containing the efficient
frontier of the stock set in the Vietnamese case of short-sales restrictions is produced. Finally,
some remarks are noted for stock pricing practice in the emerging market.
In 2011, a group of students in Ho Chi Minh Economics University conduct a research, namely
“Application CAPM and Fama French Model in Viet Nam stock market”. The authors collected
data from 88 stocks from 2007 to 2010 and reach a result as follow: R
2
is 90.56% and
confidence level is 95%
In my study, I would like to confirm that I cannot create a new model but basing on the result of
previous researches in Viet Nam and Fama French methodology, I want to conduct a intensive
study with more observation in a longer period, through a bigger portfolio (120 tickers) to find
out more useful results.
7
2. LITERATURE REVIEW
2.1. The Fama French 3 factors model
The capital asset pricing model is a set of predictions concerning equilibrium expected returns
on risky assets. Harry Markowitz laid down the foundation of model portfolio management in
1952. The CAPM was developed 12 years later in articles by William Sharp, John Lintner and
Jan Mossi. The time for this gestation indicates that the leap from Markowitz’s portfolio
selection model to the CAPM is not trivial.
CAPM tests the relation between market risk and asset return, assuming that investors are risk
averse and only mean and variance of their assets return are occupied. Thus, the portfolio is
chosen if it can minimize loss, given expected return or maximize return at a certain level of
risk.
The CAPM equation is as follows:
• Denote E(r
i
) and E(r
M
) as expected return of asset i and market portfolio, respectively.
• R
f
is the return of risk-free asset.
• is the relationship between excess expected return of asset i and that of market
portfolio as a fraction of total variance of market portfolio .
In Roll’s critique, he also points out a number of drawbacks of CAPM such as its implication of
market efficiency or formation of market portfolio which challenge the practical of the model.
Roll and Ross (1994) and Kandel and Stambaugh (1995) support for Roll’s view. They argue
that CAPM provides an adequate evaluation of beta only in an efficient market which is hardly
measured in the real world. Thus, it is uncertain about the predicting capability of CAPM.
Besides, numerous studies suggest other factors which might outweigh beta in estimating
companies’ return such as price to earnings (Basu, 1977), firm size (Banz, 1981 and
Reinganum, 1981). Findings of other significant variables in explaining rate of return imply the
need to incorporate additional factors to modify CAPM (Lawrence et al, 2007).
Fama and French (1992) confirm the insufficiency of CAPM by illustrating a weak relation
between market beta and average US return of the period 1963-1990 by cross-sectional test.
8
They point out other variables, namely E/P, leverage, firm size (market equity) and book to
market equity (hereafter BE/ME) can explain the stock returns. Combining these variables, two
latter variables seem to absorb explanation power of the two former. In short, firm size (market
equity) and BE/ME could enhance CAPM’s efficiency in pricing stocks.
Fama French three factors model is presented as follow:
Where , , , are expected premiums, is a constant
term; , , are parameters in the regression.
The ex-post regression of Fama French three factors model is given by:
Where , are excess asset and market return, respectively.
Fama and French’s later study (1993) expands the previous one in three dimensions. First, they
involve US government and corporate bonds in the set of tested assets instead of stock only in
Fama and French (1992). Second, one more variable, term-structure, which plays an important
role in bonds’ value, is added. In their theory, bonds and stocks might be closely related as
markets are integrated. Hence, they try to test whether a crucial variable of bonds has
significant explanation power to stocks’ returns or not, and vice versa. Third, the methodology
used to examine assets’ returns is different. If bonds is included in the cross- sectional
regression, size and BE/ME variables have no relation to bonds. Therefore, Black, Jensen and
Scholes (1972)’s approach, a time series regression, is adopted while cross-sectional test in
Fama French (1992) might be unsuitable in this case. Portfolios are therefore formed on size
and book to market equity. It is suggested that size factor be equal to the monthly average return
of small companies minus that of big companies, denoted by SMB (small minus big). The other
explanatory variable, book to market is the difference between return of stocks with high book
to market ratio and that of stock with low book to market ratio, given by HML (high minus
low).
9
Fama and French (1995, 1996a) continue to prove the outperformance of Fama-French three
factors model compared to CAPM, using time series regression. They point out the trend that
strong firms with high earnings usually have low book to market equity and negative slope on
HML. In contrast, weak firms with low earnings tend to have high book to market equity and
positive slope on HML.
2.2. Extended Fama-French 3 factors model- Carhart (1997) four factor model
Mark Carhart (1997) continues the momentum issue studied by Jegadesh and Titman (1993).
He constructs a risk factors relating to momentum effect (WML- Winner Minus Loser) and
makes a four factors model by adding momentum factor into the Fama French 3 factors model.
The momentum effect is the effect that past winner or loser continues performing well or
poorly. The WML factor is measured by the return of winner stocks portfolio minus the return
of loser stocks portfolio. As momentum strategy, the investors buy the stock with higher returns
as well as sell stocks with lower return over the previous 3 to 12 months could largely generate
returns in the stock market.
The theoretical model of 4 factors regression is as follow:
Where: WML is the return difference between past 1 year winner and loser portfolios, is
parameters in the regression and the others are the same in Fama French model.
From the result of Carhart’s study, we get the flowing suggestion. We should not invest in the
funds that their rate of returns always are negative. The funds that having the high return in the
year before will continuously generate the higher return in the year after, but it is not accurate in
a long term. Management cost, total net asset, investment cost effect directly and inversely to
fund’s return and take away the excess return of the fund having high return in the year before
in a long term.
Toward the result of Carhart (1997), Daniel et al.(1997) and Wermers (1997) find evidence that
four factor model of Carhart (1997) does well in investigating the strategies that drive the
persistence in mutual fund performance. Brave et al.(2000) reveals that the four factors model
of Carhart could explain the underperformance in return from a sample of IPO (initial public
offering) and SEO (seasoned equity offering) companies.
10
In fact, results from some research in the global indicated that the four factors model have
significant exposure in explaining the variations in average excess stock return. R
2
from Carhart
model is just slightly higher than Fama French model.
In Viet Nam, a group of students in Ho Chi Minh Economics University (2011) conduct a
research, namely “Application financial models in pricing investment portfolio in Viet Nam
stock market”. They find that four factor model of Carhart have higher capability in explaining
the variations in average excess portfolio return. R
2
in CAPM, Fama French and Carhart is
respectively 71.66%, 86.23%, 88.41%.
2.3. Empirical evidence of Fama French
2.3.1 Empirical of Fama French model in developed markets
Evidence of Fama French three factors model can be seen mostly in US market such as Fama
and French (1992, 1993, 1995, 1996a, 2006). In these studies, Fama and French show
statistically insignificant of the CAPM factor in estimating cost of equity during different
periods of time in the US market. Meanwhile, size and book to market factor are proved to have
a significant role in explaining asset return (ibid). In contrast, examining the validity of the two
models in the US, Bartholy and Pearre (2005) find out that there is no significant difference
between their estimates. Thus, they raise the issue that whether or not the other two variables of
Fama French should be adopted while they insignificantly contributed to cost of equity
evaluation.
According to Drew and Veeraraghavan (2003) and Artmann et al (2012), the efficiency of an
asset pricing model is strongly proved if its evidence is shown in sufficient new markets rather
than only in the biggest one. Using Australia data for the period 1981-1991, Halliwell et al
(1999) show the significance of Fama French factors in explaining Australian average returns.
But the role of BE/ME is not as powerful as it has been proved in Fama French’s studies. Faff
(2004) continues to research the validity of the Fama French model in Australia market, dealing
with daily data of industry portfolio from 1 May 1996 to 30 April 1999. His finding basically
supports Fama French factors. In the case that an estimated risk premium is considered,
robustness of the model is decreased. Expanding the examined time from 1982 to 2006,
Brailsford et al (2012) prove the superior performance of Fama French model in comparison
with CAPM in evaluating Australia stocks. Their empirical test results show the statistical
11
significance of book to market factor and the opposite in case of size effect in explaining assets’
returns.
However, studying Germany firms’ data for the period from 1969-2002, Schrimpf et al (2007)
support the traditional asset pricing model, CAPM, rather than the modern one, Fama French in
the sense that it provides less error than its counterpart. Also dealing with German market but
for longer stage, 1960-2006, Artmann et al (2012) reject the explanatory power of both CAPM
and Fama French model. There is limited statistical evidence on both size and book to market
effect in German stock returns (ibid).
Chan and Chui (1996), when testing Fama French model for UK companies during the period
1971-1990, found out the significance of book to market factor but insignificance of firm size
factor in explaining stock returns. Meanwhile, Zhang (2009) and Chabi-Yo and Fourseni (2009)
demonstrate the strong capability in estimating UK stock returns of Fama-French factors.
Testing UK companies between 1975 and 2000, Hung et al (2003) combine Fama French
factors with the CAPM, then examine whether the additional factors support explanatory power
of CAPM beta or not. They conclude that both CAMP beta and Fama French factors are
significant in estimating the cross-section of UK stock returns. Similarly, using UK data (1992-
2001), Charitou and Constantinidi (2003) sum up with the outperformance of Fama French
model over the CAPM.
Various applications of the model result in conflicting conclusions about the explanation of
Fama French model. Kothari et al (1995) argue that book to market has a marginal relation to
expected stock returns. In their points of view, Fama and French (1992, 1993)’s results are due
to survivor bias in COMPUSTAT data. This data source usually includes historical firms’ data
in which survivor companies used to have unexpected higher return than the dead ones. Thus,
there might be a positive bias for the former (high book to market equity) in comparison to the
latter. On the contradictory, Chan et al (1995) and Fama and French (1996b) illustrate that
survivor bias plays no role in explaining the relation between average return and book to market
equity. In their arguments, omissions in COMPUSTAT data are financial institutions which
have higher leverage than other types of firms. The missing firms do not cause survivor bias.
Additionally, Fama and French (1993) use value-weighted portfolios in their test. Survivor bias
does not matter in these portfolios as high weights are given to large companies.
12
Black (1993) and MacKinlay (1995) state that the value premium of Fama-French’s factors
stems from data-snooping, whereas Lakonishok et al (1994) suggest, it is due to behavior of
investors. As investors are used to buying stocks which are big and well-performed in the past,
thus, overprice these stocks. Conversely, they tend to sell stocks which might be small but have
high growth rate. Thus, these stocks are underpriced. La Porta (1996) shares the same idea that
investors might favor value stocks as they concentrate on these firms’ enduring development
rather than those with rapid growth rate. Fama and French (1992) suppose that investing in
growth stocks which are small and have high book to market ratios should reward higher
returns as bearing higher risks.
Extending Fama and French (1992)’s research, Knez and Ready (1997) also apply Fama and
Macbeth procedure in their study. They compare a standard least square regression with a least
trimmed square regression which monthly omits 1% most extreme observations. The results
suggest that these trimmed observations are reasons for negative relation between firm size and
its average return. Without them, coefficient of size in the regression for stocks’ return is
significantly positive. They share the same idea with Fama French (1992)’s explanation that
investors who bearing risk investing in small firms should reward high returns. It is suggested
that there should be systematic driven forces for risk premium which also help explaining firm’s
development process. Vassalow (2003) points out a significant factor in explaining stock return
that is news related to future GDP growth. His study illustrate that including the variable in
CAPM model dramatically increases its explanatory power. Moreover, the existence of news
related to future GDP growth might outweigh HML and SMB role in pricing equities. Thus,
there might be a close relation between HML, SMB variables and news about future GDP
development.
Initially stated by Banz (1981), size effect has been found in all common stocks listed on NYSE
from 1926 to 1975. In his study, small firms are proved to bear higher risk than large ones.
These former stocks provide significantly higher average returns than the latter ones. According
to Banz (1981), one possible explanation for the phenomenon is limited information of small
firms which leads to higher risk-adjusted returns for holding these stocks. Studying the same
topic, Chan and Chen (1991) examine risk and return characteristic of 19 industry groups on
NYSE during the period 1956-1985. In their findings, production efficiency, leverage and the
ability to absorb external capital cause higher risk of small firms than large ones. Zarowin
(1990) also concludes a size effect in stocks’ returns when re-examining the overreaction
13
hypothesis stated by DeBondt and Thaler (1985). The hypothesis is about the outperformance of
loser to winner stocks. Following Zarowin (1990), losers tend to be small stocks and vice versa.
When winners are smaller than losers, they provide higher returns than the latter.
2.3.2.Empirical evidence of Fama French model in emerging markets
There is limited evidence on Fama French model’s validity in Asian countries. As Drew and
Veeraraghavan (2003) has observed, Chui and Wei (1998) are first examining the validity of
Fama French in Asian market. Their finding proves the significance of two more factors in
Fama French, firm size and book to market. In their study, the relation between market beta and
average return is weak, as opposed to that of Fama French factors. Similarly, Drew and
Veeraraghavan (2002, 2003) once comparing the validity of two models in emerging markets
(Malaysia, Hongkong, Korea and Philippines) during the 1990s, point out the outperformance
of Fama French over CAPM model. More recently, Taneja (2010) also confirms strong
explanatory power of Fama French in comparison with CAPM in Indian stock market, from
June 2004 to June 2009. His result shows that variations in stock average return can be captured
better by multifactor Fama French model than single factor model CAPM. Using Shanghai
Stock Exchange data, Lin et al (2012) illustrates the superior explanation power of Fama French
factors in estimating portfolios’ returns in China market. However, it is shown in their study
that market factor seems to be more appropriate in evaluating individual stock’s return.
3. DATA
Kothari, Shanken and Sloan (1995) report that beta from annual returns produce stronger
positive relation between beta and average return than beta from monthly return. But Fama-
French (1996) prove the contrast conclusion that annual and monthly returns have same
inferences about beta premium.
This study uses historical monthly data of 120 Viet Nam companies based on the following
criteria:
• Listed in HOSE at least 60 months (before July 31 2008). De-listed companies and
those which are listed after July 2008 are excluded to maintain the continuation of
portfolios.
• Banks, insurance companies, securities firms are excluded because of their distinctive
high leverage.
• Fiscal year ended on 31 December.
14

tai lieu on thi dai hoc 20009


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tai lieu on thi dai hoc 20009": http://123doc.vn/document/567907-tai-lieu-on-thi-dai-hoc-20009.htm


GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
+ Nhạc âm : Âm có tần số hoàn toàn xác đònh, gây cảm giác êm ái, dễ chòu
+ Tạp âm : Âm không có tần số nhất đònh
 Âm có tần số lớn gọi là âm cao ( hoặc thanh), âm có tần số nhỏ gọi là âm thấp ( hoặc trầm)
 Độ cao của âm là một đặc tính sinh lí của âm, nó dựa vào một đặc tính vật lí của âm là tần số
4. Âm sắc :
* Mỗi người mỗi nhạc cụ phát ra những âm sắc thái khác nhau mà tai ta phân biệt được gọi là âm sắc. Âm
sắc là một đặc tính sinh lí của âm, được hình thành trên cơ sở các đặc tính vật lí của âm tần số và biên độ.
• Họa âm : Thực nghiệm chứng tỏ một nhạc cụ hoặc một người phát ra một âm có tần số f
1
thì đồng thời
cũng phát ra các âm có tần số f
2
=2f
1
; f
3
=3f
1
; f
4
=4f
1
, f
1
gọi là âm cơ bản hoặc âm thứ nhất f
2
, f
3
, f
4
gọi là
các họạ âm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, âm phát ra là sự tổng hợp của âm cơ bản và các họạ âm.
5. Năng lượng của âm :
• Cường độ âm I : là lượng năng lượng được sóng âm truyền trong 1 đơn vò thời gian qua 1 đơn vò diện
tích đặt vuông góc với phương truyền. Đơn vò W/m
2
.
• Trong thực tế, người ta dùng mức cường độ âm L để đo cảm giác sinh lý của tai người. Ta có
L
=
lg
I
I
0
( Bell )
Thường, người ta dùng dB ( đề xi bel ) với :
L
=
10.lg
I
I
0

• Người ta chọn I
0
ở tần số f = 1000Hz để làm cường độ âm chuẩn (I
0
~10
–12
W/m
2
).
6.Độ to của âm :
• Ngưỡng nghe : Cường độ âm nhỏ nhất còn gây cảm giác âm
• Ngưỡng đau : Cường độ âm lớn nhất còn gây cảm giác âm bình thường
• Miền nghe được : Nằm giữa ngưỡng nghe và ngưỡng đau
7. Nguồn âm – Hộp cộng hưởng :
Mỗi loại đàn đều có một bầu đàn có hình dạng nhất đònh, đóng vai trò của hộp cộng hưởng, tức là một vật
rỗng có khả năng cộng hưởng đối với nhiều tần số khác nhau và tăng cường những âm có các tần số đó. Tùy theo
hình dạng và chất liệu của bầu đàn, mỗi loại đàn có khả năng tăng cường một số họa âm nào đó và tạo ra âm sắc
đặc trưng cho loại đàn đó.
Bài 11. GIAO THOA SÓNG :
1. Hiện tượng giao thoa :
 Giao thoa là sự tổng hợp của 2 hay nhiều sóng kết hợp trong không gian, trong đó có những chỗ cố đònh
mà biên độ sóng được tăng lên hoặc bò giảm bớt.
• Hai nguồn dao động cùng tần số , có độ lệch pha không đổi theo thời gian gọi là 2 nguồn kết hợp. Sóng
mà chúng tạo thành gọi là 2 sóng kết hợp.
2. Lí thuyết giao thoa :
• Một điểm M cách nguồn một đoạn d sẽ chậm pha hơn nguồn và có phương trình
u
M
= U
0
sin2πf(t -τ ) = U
0
sin(2πft –
d
2
λ
π
)
5
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
Xét 1 điểm M cách 2 nguồn A, B 1 đoạn d
1
, d
2
. Nếu tại A B có dao động được truyền tới :
u
A
= a.sin(2πft –

λ
d
1
)
u
B
= a.sin(2πft –

λ
d
2
)
Xét ∆ϕ = ϕ
1
– ϕ
2
=

λ
d
1
– d
2
 ⇒ ∆ϕ =

λ
d
Nhận xét :
• d = kλ ⇒ ∆ϕ = 2kπ : M dao động cực đại.
• d = ( 2k +1 )
λ
2
⇒ ∆ϕ = ( 2k + 1 )π : M đứng yên.
3. Sóng dừng :
♦ Đònh nghóa : Sóng có các nút và các bụng cố đònh trong không gian
 Các điểm bụng hoặc các điểm nút cách đều nhau một số nguyên lần
λ
2

♦ Giải thích :
- Tại mọi điểm trên dây có sự tổng hợp của sóng tới và sóng phản xạ( 2 sóng kết hợp )
- Điểm bụng : Tại đó sóng tới và sóng phản xạ cùng pha
- Điểm nút : Tại đó sóng tới và sóng phản xạ ngược pha
CHƯƠNG III : DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
Bài 12. HIỆU ĐIỆN THẾ DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
1. Hiệu điện thế dao động điều hòa :
• Quay 1 khung dây kim loại có diện tích S và có N vòng dây, quanh 1 trục đối xứng trong 1 từ trường đều
B với vận tốc góc
ω
không đổi.
Từ thông qua khung là : Φ =NBS cosωt =Φ
0
cosωt với : Φ
0
= NBS
Suất điện động cảm ứng :
e =Φ‘ = ω.Φ
0
.sinωt =E
0
.sinωt
với E
0
= ω.Φ
0
=ω.NBS
Vậy, trong khung dây xuất hiện 1 suất điện động biến thiên điều hòa.
• Hiệu điện thế biến thiên điều hòa : u = U
0
sinωt
2. Dòng điện xoay chiều :
HĐT xoay chiều : u = U
0
sinωt
Dòng điện xoay chiều : i = I
0
sin(ωt + ϕ )
 Dòng điện được mô tả bằng đònh luật dạng sin – Biến thiên điều hoà theo t
3. Cường độ hiệu dụng :
• Cường độ hiệu dụng của dòng điện xoay chiều bằng cường độ dòng điện không đổi khi chúng lần
lượt đi qua 1 điện trở, trong cùng 1 thời gian thì chúng tỏa ra những nhiệt lượng bằng nhau.
I =
I
0
2
U =
U
0
2
và E =
E
0
2
6
A

M
d
1
d
2

B
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
• Cường độ hiệu dụng : là cường dộ dòng điện một chiều qua điện trở R cùng thời gian cùng tỏ ra một nhiệt
lượng như nhau đặc trưng là tác dụng nhiệt.
• Khi dùng ampe kế, vôn kế đo dòng điện xoay chiều ta chỉ đo được giá trò hiệu dụng .
• C ác giá tri hiệu dụng : trong dòng điện xoay chiều có các giá trị hiệu dụng sau đây: U, I, E
Chú ý : * Trong dòng điện xoay chiều chỉ có R là tiêu thụ điện năng
* Điện lượng tải qua mạch xoay chiều trong một chu kì = 0.
* Trong một chu kì cường độ dòng điện đạt cực đại 2 lần
• Mối liên hệ giữa dòng điện và các đại lượng hiệu điện thế:
u
L
= U
oL
sin (wt +
ϕ
i
+
2
π
)
-
2
π
+
2
π
u
R
= U
oR
sin(wt +
ϕ
i
)
¬
i = I
0
sin(wt +
i
ϕ
)

u = U
0
sin(wt +
i
ϕ
+
ϕ
)
-
2
π
+
2
π
u
C
= U
oC
sin(wt +
i
ϕ
-
2
π
)
• Tần số dòng điện : Khi f tăng thì cảm kháng tăng (Z
L
= wL),dung kháng giảm (Z
C
=
1
wC
),
• Độ lệch pha giữa hiệu điện thế và cường độ dòng điện (
ϕ
): Phụ thuộc vào bản chất mạch
• Tg
ϕ
=
L C L C
R
Z Z U U
R U
− −
=
.
• NHẬN XÉT :
• Khi Z
L
> Z
C
: Mạch có tính cảm kháng, u nhanh pha hơn i 1 góc ϕ
• Khi Z
L
< Z
C
: Mạch có tính dung kháng, u chậm pha hơn i 1 góc ϕ
• Khi Z
L
> Z
C
: Mạch cộng hưởng, u cùng pha với i.
* Ta có thể coi cuộn L có thêm một điện trở R
0
( do dây gây ra ) như một mạch R
0
nối tiếp cuộn dây L.
2. Hiện tượng cộng hưởng trong đoạn mạch RLC :
Khi
1
L
C
ω =
ω
<=>
2
1
LC
ω =
thì
- Dòng điện qua mạch có giá trò cực đại
U
I
R
=
- Hiệu điện thế cùng pha với cường độ dòng điện
CÔNG SUẤT DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
Đặt 1 hiệu điện thế xoay chiều ở 2 đầu 1 đoạn mạch. Dùng ampe kế, vôn kế và Oát kế để đo U,I và P tiêu
thụ trên mạch. Thực nghiệm cho thấy :
• Mạch chỉ có R : P =U.I
Mạch có thêm L hoặc C hoặc có cả 2 : ⇒ P = U.I.cosϕ
2. Ý nghóa của hệ số công suất :
• cosϕ =1 ⇒ ϕ =0 : Mạch chỉ có R hoặc mạch cộng hưởng : P=U.I
7
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
• cosϕ =0 ⇒ ϕ =±
2
π
: Mạch chỉ có L hoặc C hoặc L,C nối tiếp : P = 0
• 0< cosϕ <1 ⇒
2
π

< ϕ < 0 hoặc 0< ϕ <
2
π
: Mạch gồm RLC nối tiếp.
• Trong thực tế người ta không dùng những thiết bò sử dụng dòng điện xoay chiều mà cos
ϕ
< 0.8
• Người ta mắc song song một tụ điện vào mạch để tăng cos
ϕ

MÁY PHÁT ĐIỆN XOAY CHIỀU
1. Nguyên tắc hoạt động : Tất cả các loại máy phát điều có chung ngun tắc hoạt động là dựa vào hiện
tượng cảm ứng điện từ, biến cơ năng thành điện năng( Tạo ra dòng điện)
2. Cấu tạo của máy phát điện xoay chiều 1 pha:
• Máy phát điện xoay chiều gồm 2 phần cơ bản :
+ Phần cảm : phần tạo ra
B
r
- Nam châm điện, nam châm vónh cửu
+ Phần ứng :Trong đó sẽ xuất hiện suất điện động - cuộn dây nhiều vòng
• Một trong hai phần cơ bản sẽ quay được gọi là rotor. Phần còn lại đứng yên gọi là stator
• Để lấy dòng điện ra ngoài, người ta dùng hệ thống 2 vành khuyên và 2 chổi quét tì vào. Hệ thống
này gọi là bộ góp.
• Để giảm vận tốc quay của rotor thì phần cảm và phần ứng được cấu tạo nhiều cặp cực và nhiều cuộn
dây. Số cặp cực nam châm bằng số cuộn dây. Số cặp cực tăng lên bao nhiêu lần thì vận tốc quay
giảm xuống bấy nhiêu lần.
Gọi n là số vòng quay / phút, p là số cặp cực thì tần số dòng điện máy phát sẽ là f =
n
60
p
3. Cấu tạo của máy phát điện 1 chiều: Tương tự máy phát điện xoay chiều 1 pha chỉ khác chổ bộ góp là 2
vành bán khun
DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU BA PHA
1. Đònh nghóa : Dòng điện xoay chiều 3 pha là 1 hệ thống gồm 3 dòng điện xoay chiều có cùng biên độ,
cùng tần số nhưng lệch pha nhau về pha 1 góc 2
π
/3 , hay về thời gian là 1/3 chu kỳ.
• Máy gồm 2 bộ phận :
+ Phần ứng : gồm 3 cuộn dây giống hệt nhau được đặt lệch nhau 1/3 vòng tròn trên stator
+ Phần cảm : là 1 nam châm điện làm rotor.
• Nếu nối 3 cuộn dây nối 3 mạch ngoài giống nhau, ta có 3 dòng điện xoay chiều lệch pha nhau 2π/3 :
i
1
= I
0
.sinωt
i
2
= I
0
.sin(ωt - 2π/3)
i
3
= I
0
.sin(ωt + 2π/3)
2. Cách mắc hình sao :
U
P
: HĐT giữa dây pha và dây trung hòa – gọi là HĐT pha .
U
d
: HĐTá giữa 2 dây pha với nhau – gọi là HĐT dây.
I
d
= I
p
; U
d
= 3 U
P
, cường độ trong dây trung hòa rất nhỏ gần bằng 0 là cách mắc thường sử dụng nhất để
truyền tải điện năng đi xa
Dòng điện trên dây trung hòa : i = i
1
+ i
2
+ i
3
= 0
8
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
* Trong thực tế bao giờ cũng có sự lệch pha giữa các tải nên trong dây trung hòa có dòng điện nhỏ
3. Cách mắc hình tam giác :
I
d
= 3 I
p
; U
d
= U
p
ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ BA PHA
1. Nguyên tắc hoạt động của động cơ không đồng bộ :
- Động cơ điện xoay chiều biến điện năng thành cơ năng
- Hoạt động trên cơ sở hiện tượng cảm ứng điện từ và bằng cách sử dụng từ trường quay
* vận tốc khung ln nhỏ hơn vận tốc từ trường quay
* Sử dụng dòng điện 3 pha chứ khơng tạo ra dòng điện xoay chiều 3 pha
2. Từ trường quay của dòng điện ba pha:
- Từ trường quay được tạo ra bằng cách cho dòng điện ba pha chạy vào ba nam châm điện đặt lệch nhau
120
0
trên một vòng tròn
- Từ trường tổng cộng của cả ba cuộn dây quay quanh tâm O với tần số bằng tần số của dòng điện
BÀI 21. MÁY BIẾN THẾ – SỰ TRUYỀN TẢI ĐIỆN NĂNG
1. Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo máy biến thế :
• Máy biến thế : là thiết bò cho phép biến đổi hiệu điện thế của dòng điện xoay chiều.
• Nguyên tắc : Dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ.
• Cấu tạo : gồm 2 cuộn dây quấn trên cùng 1 lõi sắt hình khung. Lõi sắt này nhiều lá sắt mỏng ghép cách
điện với nhau.
Cuộn nối với nguồn gọi là cuộn sơ cấp; cuộn nối với tải tiêu thụ gọi là cuộn thứ cấp.
• Hoạt động: Dựa vào hiện tượng cảm ứng điện từ
* dòng điện qua cuộn sơ cấp gây ra từ trường biến thiên trong lõi sắt.
* Từ thông biến thiên qua cuộn thứ cấp gây ra suất điện động cảm ứng trong cuộn thứ cấp
* Dòng điện trong cuộn sơ và cuộn thứ cùng tần số.
* Do số vòng dây ở các cuộn dây là khác nhau nên hiệu điện thế ở 2 đầu các cuộn cũng khác nhau
2. Sự quan hệ giữa hiệu điện thế và cường độ dòng điện qua máy biến thế :
U
U
N
N
' '
=
+ Nếu N > N’ thì U > U’ : Máy hạ thế.
+ Nếu N < N’ thì U < U’ : Máy tăng thế.
Tỉ số hiệu điện thế ở hai đầu cuộn thứ cấp và sơ cấp bằng tỉ số vòng dây của hai cuộn dây.
U
U
N
N
' '
= =
I
I'
Dùng máy biến thế làm hiệu điện thế tăng bao nhiêu lần thì cường độ dòng điện giảm bấy nhiêu lần
và ngược lại.
3. Sự truyền tải điện năng :
Công suất hao phí ∆P biến thành nhiệt : ∆P = R.I
2
= P
2
R
U
2
9
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
Như vậy, tăng U lên bao n lần thì

P giảm đi n
2
lần.
Để giảm sự hao phí ∆P, người ta dùng máy biến thế tăng U trước khi truyền. Đến nơi tiêu thụ, người ta dùng
máy hạ thế hạ dần điện thế xuống cho phù hợp với sinh hoạt và kỹ thuật.
CÁCH TẠO RA DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU
1. Lợi ích của dòng điện một chiều :
- Dùng mạ điện, đúc điện, nạp acquy, sản xuất hóa chất …
- Chạy các động cơ điện một chiều
2. Phương pháp chỉnh lưu dòng điện :
Chỉnh lưu hai nửa chu kỳ :
• Dùng 4 diod mắc theo sơ đồ sau :
+ Giả sử nửa chu kỳ đầu V
A
> V
B
: Dòng điện đi từ A → diod Đ
2
→ C →điện trở R →D → diod
Đ
4
về B.
+ Nửa chu kỳ sau V
A
< V
B
: Dòng điện đi từ B → diod Đ
3
→ C →điện trở R→ D→ diod Đ
1

về A.


• Vậy, trong cả hai nửa chu kỳ dòng điện truyền qua tải tiêu thụ theo 1 chiều nhất đònh
MẠCH DAO ĐỘNG – DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ
1. Mạch dao động : Gồm cuộn cảm L và tụ điện C mắc thành mạch kín
2. Sự biến thiên điện tích trong mạch dao động :
Phương trình dao động của điện tích trong mạch dao động :
q = Q
0
sin(ωt + ϕ ) Với ω
2
=
1
LC

Vậy, điện tích của tụ trong mạch dao động biến thiên điều hòa với
LC
1


3. Năng lượng trong mạch dao động :
∗ Năng lượng điện trường của tụ :
W
đ
=
1
2
q.u =
1
2
0
2
Q
C
sin
2
ωt = W

sin
2
ωt Với W

=
1
2
0
2
Q
C
∗ Năng lượng từ trường qua cuộn L là :
W
t
=
1
2
Li
2
=
1
2
0
2
Q
C
cos
2
ωt = W

cos
2
ωt Với W
0t
=
1
2
0
2
Q
C
10
D
1
D
2
D
3
D
4
A
B
C
D
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
∗ Vậy : W
đ
+ W
t
=
1
2
0
2
Q
C
= const
Kết luận :
 Năng lượng mạch dao động gồm W
đ
tập trung ở tụ C, W
t
tập trung ở cuộn dây L.
 W
đ
và W
t
biến thiên tuần hoàn cùng tần số. ( 2 f )
 Tổng năng lượng trong mạch dao động không đổi. ( f )
Dao động điện tự trong mạch chỉ phụ thuộc vào đặc tính của mạch được gọi là dao động điện từ tự do và
nó dao động với tần số riêng là :

ω
=
1
L C.
Bài 25. ĐIỆN TỪ TRƯỜNG
1. Điện trường và từ trường biến thiên :
• Bằng phương pháp toán học, Maxwell khẳng đònh :
+ Từ trường biến thiên theo thời gian sẽ sinh ra điện trường xoáy.
+ Điện trường xoáy là điện trường mà các đường sức bao quanh các đường cảm ứng từ.
• Dựa trên tính toán lý thuyết, Maxwell còn khẳng đònh :
+ Điện trường biến thiên theo thời gian sẽ sinh ra từ trường xoáy.
+ Từ trường xoáy là từ trường mà các đường cảm ứng từ bao quanh các đường sức điện.
2. Trường điện từ :
Với 2 kết luận trên , ta thấy điện trường và từ trường đồng thời tồn tại. Chúng là 2 mặt thể hiện khác nhau của
1 trường duy nhất gọi là trường điện từ
3. Sự lan truyền tương tác điện từ :
• Giả sử tại O trong không gian có điện trường biến thiên E
1
không tắt dần. Nó sinh ra ở các điểm lân cận
O 1 từ trường xoáy B
1
. Do B
1
cũng biến thiên nên B
1
gây ra điện trường biến thiên E
2
ở các điểm lân cận
nó.
• Quá trình này lặp đi lặp lại và điện từ trường lan truyền trong không gian.
Tương tác điện từ thực hiện thông qua điện từ trường từ 1 điểm này đến điểm khác sẽ mất một thời gian lan truyền
SÓNG ĐIỆN TỪ
1 1. Sóng điện từ
2
Điện từ trường lan truyền trong không gian dưới dạng sóng gọi là sóng điện từ.
2. Tính chất của sóng điện từ :
• Sóng điện từ là một sóng ngang
VEB

⊥⊥
• Sóng điện từ có các tính chất của sóng cơ học
• sóng điện từ truyền được trong tất cả các môi trường vật chất kể cả chân không
• Vận tốc truyền sóng điện từ bằng vận tốc ánh sáng v = 3.10
8
m/s
* Sóng điện từ mang năng lượng.
* Năng lượng sóng điện từ tỉ lệ với luỹ thừa bậc 4 của tần số sóng
11
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
Khi truyền qua các môi trường khác nhau vận tốc của sóng điện từ thay đổi nên bước sóng điện từ thay đổi còn tần
số của sóng điện từ thì không đổi.
Công thức tính bước sóng : λ =
ff
c
8
10.3
=
3. Sóng điện từ và thông tin vô tuyến :
LOẠI SÓNG
λ
F
Ứng dụng
Sóng dài

100 - 1Km 3 - 300 KHz Năng lượng thấp, thông
tin dưới nước
Sóng trung 1Km - 100m 0.3 - 3 MHz Ban ngày bò tầng điện ly hấp thụ
nên không truyền được xa, ban
đêm truyền xađ
Sóng ngắn 100 - 10 m 3 - 30 MHz Phản xạ trên tầng điện ly →đài
phát công suất lớn khắp trái đât
Sóng cực ngắn 10 - 0.1 m 30 –3.10
4
MHz
Không phản xạ trên tầng điện ly,
truyền thẳng dùng cho sóng vô
tuyến
SỰ PHÁT VÀ THU SÓNG ĐIỆN TỪ
1. Máy phát dao động điều hoà dùng transistor :
Khi mạch dao động hoạt động , do hiện tượng cảm ứng giữa L và L’ nên hiệu điện thế giữa chân B - E thay đổi
theo nhòp dao động điều khiển dòng I
C
của nguồn P.
+ Nếu dòng I
C
tăng, V
B
cao hơn V
E
sẽ làm T không dẫn .
+ Nếu dòng I
C
giảm, V
B
thấp hơn V
E
làm T dẫn điện bổ sung năng lượng cho mạch dao động .
Vì vậy, dao động điện từ trong mạch sẽ được duy trì.
2. Ăng ten phát và thu :
Để bức xạ năng lượng điện từ ra không gian ngoài thì mạch dao động phải hở. Mạch dao động hở khi các
vòng dây của cuộn L hoặc 2 bản tụ C phải cách xa nhau.
Ăng ten phát là khung dao động hở, có cuộn dây mắc xen gần cuộn dây của máy phát. Nhờ cảm ứng,
bức xạ sóng điện từ cùng tần số máy phát sẽ phát ra ngoài không gian.
Ăng ten thu là 1 khung dao động hở, nó thu được nhiều sóng nên được nối thêm 1 khung dao động có
tụ C thay đổi. Nhờ sự cộng hưởng với tần số sóng cần bắt ta thu được sóng điện từ cần bắt.
f = f
0
12
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
SỰ PHẢN XẠ VÀ KHÚC XẠ ÁNH SÁNG
Bài 30. SỰ TRUYỀN ÁNH SÁNG. SỰ PHẢN XẠ ÁNH SÁNG.GƯƠNG PHẲNG
1. Sự truyền ánh sáng :
 đònh luật truyền thẳng ánh sáng :
" Trong môi trường trong suốt và đồng tính, ánh sáng truyền theo đường thẳng."
Trong môi trường trong suốt và đồng tính thì tia sáng được biểu diễn bằng đường thẳng.
 nguyên lý thuận nghòch về chiều truyền tia sáng :
" Nếu một tia sáng xuất phát từ A truyền đến B, theo đường ACB thì ngược lại tia sáng xuất từ B về A sẽ truyền
theo đường BCA. "
2. Sự phản xạ ánh sáng :
Hiện tượng :Tia sáng bò đổi hướng, trở lại môi trường cũ khi gặp một bề mặt nhẵn
Đònh luật phản xạ ánh sáng :
• Tia phản xạ nằm trong mp tới và ở phía bên kia pháp tuyến so với tia tới.
• Góc phản xạ bằng góc tới. i’ = i
3. Gương phẳng :
 Đònh nghóa : Gương phẳng là một phần mặt phẳng mặt phẳng phản xạ ánh sáng .
 Tính chất :
• Ảnh và vật đối xứng nhau qua gương.
• Vật thật cho ảnh ảo, vật ảo cho ảnh thật.
Bài 31. GƯƠNG CẦU LÕM
1. Khái niệm :
• Gương cầu lõm là một phần của mặt cầu phản xạ được ánh sáng tới, mặt phản xạ quay về tâm mặt
cầu.
• Tâm gương : tâm C - Đỉnh gương : đỉnh O của chỏm cầu.
• Trục chính là trục CO qua đỉnh và tâm gương - Các đường thẳng qua tâm gương được gọi là trục phụ.
• Góc mở của gương ϕ tạo bởi hai trục phụ qua hai mép gương.
2. Tiêu điểm chính - Tiêu cự :
• Một chùm tia tới song song với trục chính sau khi phản xạ trên gương cầu lõm sẽ hội tụ tại một điểm F
trên trục chính. Điểm F gọi là tiêu điểm chính.(tiêu điểm thật)
OF = FC =
2
R
= f
• f được gọi là tiêu cự của gương.
* Để ảnh của vật rõ nét thì góc mở
ϕ
phải nhỏ và các tia tới phải gần như song song. Đó là điều kiện
tương điểm.
13
GV: NGUYỄN HỮU THẢO ƠN TẬP LÝ THUYẾT TN
3. nh của vật qua gương cầu lõm (TKHT)
VT 1

1’ ảnh thật nc nhỏ hơn vật
VT 2

2’ ảnh thật nc lớn hơn vật
VT 3

3’ ảnh ảo cc lớn hơn vật
V ảo 4

4’ ảnh thật cc nhỏ hơn vật
+ Ảnh của vật ảo qua gương cầu lõm bao giờ cũng là ảnh thật
Bài 32. GƯƠNG CẦU LỒI
1. Các khái niệm :
• Gương cầu lồi là một phần của mặt cầu phản xạ được ánh sáng tới, tâm mặt cầu nằm phía sau gương.
• Một chùm tia tới song song với trục chính sau khi phản xạ trên gương cầu lồi sẽ bò phân kì. Đường kéo
dài của các tia phản xạ ra sau gương sẽ đồng quy tại một điểm F trên trục chính. Điểm F gọi là tiêu
điểm chính.
• Các khái niệm khác và cách vẽ cũng giống như gương cầu lõm.
2. nh của vật qua gương cầu lồi (TKPK)
V ảo
1

1’ ảnh ảo nc nhỏ hơn vật
V ảo 2

2’ ảnh ảo nc lớn hơn vật
V ảo 3

3’ ảnh thật cc lớn hơn vật
V Thật 4

4’ ảnh ảo cc nhỏ hơn vật
• Ảnh của vật thật qua gương cầu lồi bao giờ cũng là ảnh ảo.
 ỨNG DỤNG :
a. Gương cầu lõm
• Trong các lò mặt trời, gương cầu lõm có bề mặt rất lớn tập trung năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu
vào tiêu điểm của gương. Tại tiêu điểm đặt các bộ phận sử dụng năng lượng mặt trời như lò hơi, lò
nung.
• Trong các kính thiên văn phản xạ: gương cầu lõm rất lớn, các thiên thể cần nghiên cứu (mặt trời, mặt
trăng ) cho ảnh thật hiện lên ở tiêu điểm.
• Ở một số loại đèn chiếu: nguồn sáng đặt tại tiêu điểm của gương cho chùm tia phản xạ song song đủ
mạnh chiếu đi xa.
• Trong một số công việc ở bệnh viện và trong việc trang điểm của các diễn viên.
b. Gương cầu lồi
• Được dùng làm gương nhìn sau của xe ôtô, xe máy
14

điều kỳ diệu ở thái độ sống


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "điều kỳ diệu ở thái độ sống": http://123doc.vn/document/568127-dieu-ky-dieu-o-thai-do-song.htm



5
Tôi thật sự cảm ơn Anna vì đã gửi cho tôi một bài thơ xúc động như vậy. Các bạn biết
không, một trong những điều tuyệt vời khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống đó là mỗi sớm
mai thức dậy, ta đều cảm thấy một điều gì đó để yêu thương, một người nào đó để gặp gỡ
và những điều bí ẩn của cuộc sống nhiệm màu đang đợi chính chúng ta khám phá.

4. Nụ cười

“Nụ cười là ánh dương toả sáng đưa mọi người lại gần nhau hơn.”
- Mac Anderson
Mỉm cười với mọi người


“Thái độ tích cực chính là bí quyết nhỏ để làm nên sự khác biệt lớn.”
-Mac Anderson

Một lần, trên đường đi làm tôi ghé vào một cửa hàng nhỏ để mua tờ báo và mấy thanh
kẹo cao su. Cô gái trẻ ở quầy thu ngân đưa cho tôi hoá đơn với số tiền phải trả là năm đô-
la. Trong khi mở ví lấy tiền, tôi nhẩm tính một tờ báo và mấy thanh kẹo không thể đến
năm đô-la được nên có ý muốn hỏi lại. Nhưng tôi chưa kịp hỏi thì cô đã nở một nụ cười
thật tươi và dí dỏm:

- Cháu tính thêm tiền công vì đã làm cho bác vui đấy!

Tôi bật cười khi biết mình bị “lừa”. Cô gái nhìn qua tờ báo tôi vừa mới mua và nói:
- Cháu thật không hiểu sao người ta chỉ đưa những tin không hay lên trang đầu. Cháu
thích đọc những tin tốt lành hơn.
Rồi cô nói tiếp:

- Cháu nghĩ chắc phải có thêm một tờ báo đăng toàn những câu chuyện viết về những
người tốt và những việc hay lẽ phải để khơi dậy niềm tin và mang điều tốt lành đến cho
mọi người. Nếu có tờ báo ấy, cháu sẽ mua hàng ngày.

Cô gái cảm ơn tôi và nói với vẻ đầy lạc quan:
- Hy vọng là ngày mai sẽ có tin tức gì đó tốt lành, bác nhỉ!

Và cô lại cười. Cả ngày hôm ấy tôi cảm thấy phấn chấn và trong lòng tràn ngập niềm vui.
Ngày hôm sau, tôi ghé lại cửa hàng sau khi vừa giải quyết xong công việc với khác hàng.
Nhưng lần này tiếp tôi ở quầy thu ngân là một cô gái khác. Lúc thanh toán tiền cho mấy
thứ vừa mua, tôi chào cô nhưng cô chẳng buồn đáp lại, không một nụ cười, cũng không
một lời nói. Gương mặt không có vẻ gì là thân thiện và vui vẻ, cô ta chỉ thối lại tôi mấy
đồng tiền thừa, rồi uể oải nói: “mời người tiếp theo!”.

Hai cô gái, cùng một độ tuổi, cùng làm một công việc như nhau, nhưng lại gây cho tôi
những ấn tượng hoàn toàn khác biệt. Một người mang đến cho tôi niềm vui, sự gần gũi,
còn một người lại khiến tôi có cảm giác như thể sự xuất hiện của mình chỉ làm cho cô ấy
khó chịu.


6
Thông qua thái độ mà chúng ta lựa chọn để thể hiện với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè
hay thậm chí với người xa lạ mà chúng ta chỉ gặp một lần trong đời, chắc chắn rằng
chúng ta sẽ ít nhiều để lại những ấn tượng theo những mức độ khác nhau trong lòng họ.
Và biết đâu đôi khi nó còn có thể tạo ra những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cuộc
sống của họ về sau.

Do vậy, mỗi sáng khi soi mình trước gương, bạn hãy tự hỏi: “Hôm nay tôi muốn là người
như thế nào: một người cáu kỉnh hay người mang lại niềm vui cho mọi người?”. Câu trả
lời của từng ngày sẽ là kim chỉ nam cùng bạn đi suốt con đường tìm kiếm niềm vui và
hạnh phúc trong cuộc sống.

5. Lòng can đảm

“Lòng can đảm không chỉ thể hiện qua những lời hô hào mạnh mẽ, mà có khi nó chỉ là
một giọng nói nhẹ nhàng vào cuối mỗi ngày: Ngày mai tôi sẽ cố gắng hơn.”
- Mac Anderson
Từ bỏ thói quen xấu

“Can đảm là cánh cửa chỉ có thể mờ từ bên trong.”
- Terry Neil

Tôi vốn thích chơi bóng đá. Lúc còn học phổ thông, tôi là thành viên trong đội bóng của
trường. Nhưng có một điều tôi rất ngán, đó là hai tuần tập đầu tiên sau kỳ nghỉ hè, lúc đó
cường độ luyện tập thường rất căng thảng. Huấn luyện viên Kilzer của chúng tôi hiểu tầm
quan trọng của hai tuần này nên không cho phép ai lơ là hay vắng mặt. Nào là tập thể lực,
nào là chạy nước rút tiếp sức và cuối cùng là luyện sức bền mấy vòng sân. Mỗi lần nghĩ
đến năm vòng chạy quanh sân sau hơn ba giờ tập luyện, tôi lại sở hết da gà. Thân thể của
tôi mỏi nhừ sau mấy ngày đầu tiên, nên việc phải thức dậy và ra khỏi giường mỗi buổi
sáng trong suốt thời gian đó là điều vô cùng khổ sở. Nhưng ngày qua ngày, cơn đau cơ
bắp cũng giảm dần đi, để rồi ba bốn tuần sau, tôi đã có đầy đủ thể lực cần thiết để chơi
bóng.

Rất khó để từ bỏ một thói quen nào đó, đặc biệt là những thói quen xấu. Cho dù bạn định
luyện tập thể dục nhiều hơn, hút thuốc ít hơn, uống ít rượu bia hơn, ăn uống hợp lý hơn
hay làm việc ít hơn thì những khó chịu về mặt thể chất hay tinh thần đều sẽ xảy ra và rất
khó vượt qua. Thế nhưng, nếu cố gắng và can đảm thực hiện đến cùng thì bạn sẽ nhận lại
được kết quả vô cùng to lớn, có lợi cho bạn cả về sức khoẻ và tinh thần. Không chỉ có
thế, để thực sự bỏ được một thói quen xấu, chúng ta phải đủ kiên trì và tin tưởng mình sẽ
thành công.

Gần đây tôi có đọc được một bài thơ vui, xin chép ra để các bạn cùng đọc:

Tôi là bạn đồng hành
Tài sản hay gánh nặng
Tôi giúp anh công thành
Hay đẩy anh gục ngã

7
Thường những gì anh làm
Đều có tôi nhúng tay
Tôi giúp anh làm hay
Tôi giúp anh làm giỏi
Không đợi anh phải hỏi
Chẳng bao giờ tôi sai
Nếu anh thực có tài
Tôi nâng anh trên vai
Nếu anh – kẻ thất bại
Thì tôi biết trách ai?
Tôi không là cỗ máy
Thô ráp và vô tri
Nhưng tôi đúng từng ly
Và thông minh kiệt xuất
Biết làm anh ngã gục
Biết làm anh vững vàng.
Hãy dạy tôi nhẹ nhành
Những gì anh mong ước
Vì một điều biết trước
Rằng tôi sẽ vâng lời
Anh biết rồi, bạn ơi
“Thói quen” – tên tôi đó!

Tôi không biết tác giả là ai, nhưng lời lẽ bài thơ đó đã nói hết những điều tôi muốn nhắn
gửi đến các bạn. Nếu chúng ta tập những thói quen tốt, chúng ta sẽ nhận lại những kết
quả tốt đẹp. Ngược lại, thói quen xấu như đám cỏ dại lan nhanh, sẽ lấn áp những bông
hoa xinh đẹp trong mảnh đất đời bạn. Hãy dũng cảm từ bỏ chúng, nhổ chúng đi để cho
những thói quen tốt đẹp không ngừng sinh sôi, phát triển. Đó mới là cuộc đời mà chúng
ta đang chờ đợi.


6. Định hướng


“Trước cuộc đời, hãy biết nhìn xa trông rộng.”
- Mac Anderson
Xác định mục tiêu

“Một mục tiêu không được xác định rõ ràng sẽ chỉ là một mơ ước viển vông mà thôi.”
- Mac Anderson

Tôi đã học được một bài học hay ngay từ lúc còn trẻ. Lúc đó tôi là một sinh viên năm đầu
của trường đại học Murray State ở Kentucky. Vào dịp nhỉ hè, bạn tôi – Eddie Grogan,
giới thiệu tôi vào làm công việc bán sách cho công ty Southwestern. Công ty này có bề
dày hoạt động trên một thế kỷ nay, và hàng năm, họ thuê vài ngàn sinh viên đi bán sách.
Mùa hè năm trước, Eddie đã bán rất tốt và kiếm được số tiền gấp bốn lần thu nhập của tôi

8
từ công việc bán hàng ở một cửa hàng quần áo. Do vậy, tôi rất háo hức muốn thử công
việc mới để có thêm thu nhập. Nhưng có một vấn đề nhỏ, đó là cha tôi không muốn tôi
làm công việc bán sách dạo. Ông không chỉ không muốn tôi làm, mà còn không tin là tôi
có thể làm được.

Nhưng cũng chính điều này càng thôi thúc tôi quyết tâm thực hiện cho bằng được để
khẳng định cho cha tôi thấy tôi đã lớn và có thể làm được bất cứ việc gì.
Tuy nhiên khi mùa hè đến gần, tôi bắt đầu cảm thấy lo. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng việc
bán sách này cũng cực nhọc hơn tôi nghĩ. Hơn 60 giờ mỗi tuần trong suốt ba tháng. Tôi
vừa lo không đủ sức theo đuổi công việc đến cùng, vừa lo bị người ta từ chối không nhận
vào làm.

Cuối cùng tôi cũng đã quyết định sẽ làm tới cùng. Mong muốn chứng minh khả năng của
mình cho cha tôi thấy đã giúp tôi vượt qua những lo lắng, sợ hãi ban đầu. Để nhắc nhở
bản thân và tăng thêm sự quyết tâm, một hôm tôi nảy ra ý tưởng tuyệt vời là tự viết cho
mình một bức thư và tự nhủ sẽ đọc đi đọc lại hằng ngày để động viên tinh thần cho chính
mình. Và đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ nguyên bức thư đó:
Mac thân mến,

Đây là cơ hội để bạn khám phá khả năng của mình. Cha bạn không tin là bạn làm được,
nhưng bạn hoàn toàn có thể chứng minh điều ngược lại. Công việc sẽ rất cực, và tôi cam
đoan là sẽ có lúc bạn muốn buông xuôi, nhưng đừng bỏ cuộc Mac nhé, hãy bền bỉ và
chuyên tâm.

Tôi mong rằng khi mùa hè qua đi, bạn sẽ có thể tự hào đứng trước gương mà nói: “Mình
đã thành công”, và để cha bạn cũng tự hào mà nói: “Con trai tôi đó!”.

Đợt bán sách năm đó tôi xếp thứ bảy trên mấy ngàn sinh viên của nhiều trường khác nhau
trong danh sách những người bán sách có doanh số cao nhất. Tôi thật sự cảm thấy tự hoà
về mình. Tôi đã chứng minh mình có thể vượt qua những giới hạn của bản thân. Tôi cảm
thấy tự tin hơn bao giờ hết.

Về sau, mỗi khi nghĩ đến chuyện cũ, bao nhiêu lần tôi đã tự hỏi liệu mình có làm nên kỳ
tích không nếu không có bức thư kia, cũng là bấy nhiêu lần tôi lại khẳng định chính bức
thư, chứ không phải điều gì khác, là chìa khoá cho thành công đó. Công việc bán sách là
công việc khó khăn đầu tiên tôi bắt tay vào làm. Thời gian làm việc dài lê thê, bị nhiều
khách hàng từ chối thẳng thừng, và ít nhất cả chục lần trong tháng đầu tiên tôi đã muốn
bỏ cuộc.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy việc xác định mục tiêu trước khi bắt tay vào bất cứ việc gì
là vô cùng quan trọng. Tôi lấy bài học đầu tiên này làm kinh nghiệm cho suốt quãng thời
gian về sau của mình. Tôi luôn ghi nhớ rằng, khi làm việc gì, phải làm thật hăng say, có
phương pháp và mục tiêu rõ ràng. Như vậy, mọi thứ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều.




9
7. Yêu đời
“Hoa là nụ cười của đất.”
-Ralph Waldo Emerson

Hãy luôn cất tiếng cười

“Nụ cười là ánh sáng mặt trời soi tỏ cuộc đời.”
- William Thackery

Khoa học đã chứng minh tiếng cười rất cần thiết cho tinh thần của chúng ta. Các nhà
nghiên cứu nhận thấy chúng ta cần cười ít nhất 12 lần mỗi ngày để duy trì sức khoẻ.
Tiếng cười tác động lên hệ thần kinh và hệ miễn dịch, cung cấp năng lượng cần thiết giúp
chúng ta loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực.

Bất cứ khi nào cảm thấy chán nản, hãy tìm một điều gì đó khiến bạn vui và cười thật to,
bạn sẽ cảm thấy thoải mái trở lại trong tâm hồn mình.

Khi bạn cười, não bộ của bạn như được giải toả khỏi sự nặng nề, cảm giác khó chịu sẽ tan
biến, bạn bắt đầu cảm nhận được sự hưng phấn tràn vào cơ thể. Tiếng cười là một
phương thuốc rất diệu kỳ.

Có lẽ hiểu được tác dụng vô cùng to lớn này mà hãng hàng không Southwest Airlines
luôn biết cách gây cười cho toàn bộ nhân viên cũng như hành khách của mình. Đây được
xem như là chiến lược quan trọng của công ty để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của
họ. Khoảng sáu tháng trước, tôi có bay trên một chuyến bay của hãng này và nghe cơ
trưởng thông báo trên loa: “Hôm nay chúng ta trân trọng chúc mừng một cụ ông nhân dịp
sinh nhật lần thứ 99 của cụ. Đây cũng là chuyến bay đầu tiên trong đời cụ”. Chắc bạn
cũng có thể hình dung ra, cả khoang máy bay vỡ oà tiếng vỗ tay. Rồi vị cơ trưởng nói
tiếp: “Vậy trước khi quý vị xuống máy bay, hãy ghé qua buồng lái để chúc thọ “cụ”
nhé!”. Biết viên phi công đang đùa, tất cả mọi người cười rộ lên.

Đừng dè sẻn, tiết kiệm tiếng cười. Hãy cười thật nhiều, cười thật to để sự thư thái tràn
ngập trong lòng bạn. Nụ cười sẽ giúp bạn vui vẻ, khoẻ mạnh và cho bạn thái độ sống tích
cực để đi tiếp con đường phía trước.













10
8. Niềm tin

“Như ánh sáng xuyên qua màn đêm, niềm tin đâm chồi từ nghịch cảnh là niềm tin mãnh
liệt nhất.”
- R. Turnbull

Giữ vững niềm tin

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để
phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh.
Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ
thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên
đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân
là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu
xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta
tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu
lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuộc đời luôn là tâm điểm
cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney
[1]
trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá
sản. Bất chấp số phận, Helen Keller
[2]
đã không cam chịu để người đời thương hại.
Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng
triệu người noi theo.

Hay câu chuyện về Abraham Lincoln là một trong những bài học về nghị lực phi thường.
Trong lịch sử, chắc khó có người nào gặp nhiều vận rủi hơn ông. Lincoln phá sản năm
1831 và bị xử thua kiện vào năm 1832. Ông lập một cơ sở kinh doanh mới vào năm tiếp
theo, nhưng lại thất bại. Vợ chưa cưới của ông mất năm 1835, rồi ông bị một chứng bệnh
về não năm 1836. Năm 1842 ông ứng cử vào quốc hội nhưng không thành công. Năm
1848, ông tái ứng cử và lại thất bại. Năm 1855, ông chạy đua vào chiếc ghế thượng viện
Mỹ nhưng bất thành. Năm tiếp theo, ông ra tranh cử chức phó tổng thống và cũng thua
cuộc. Năm 1859, ông ứng cử vào thượng viện và một lần nữa chuốc lấy thất bại. Cuối
cùng vào năm 1860, Abraham Lincoln mới được bầu làm tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ.
Gần đây tôi có nói chuyện với Mark Victor Hansen, đồng tác giả của bộ sách “Chicken
soup for the soul” (First News đã chuyển ngữ trong bộ sách “Hạt giống tâm hồn”) và
được ông kể cho nghe chuyện bản thảo quyển sách này đã bị 35 nhà xuất bản khác nhau
liên tiếp từ chối như thế nào. Mãi đến khi gặp nhà xuất bản thứ 36, bản thảo của ông mới
được đánh giá cao và trở thành một trong những loạt sách bán chạy nhất trong lịch sử với
hơn 75 triệu ấn bản. Hãy cứ thử hình dung 35 người cùng nói một câu: “Không, tôi
không muốn xuất bản sách của anh” để thấy niềm tin của Mark mạnh mẽ đến nhường
nào.


11
Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục
tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông
xuôi.

9. Nguyên tắc vàng

“Sống có nguyên tắc là một gia tài vô giá”.
- MarionWright Edelman

Nguyên tắc vàng

Tôi lớn lên ở Trenton, một thành phố 5.000 dân ở phía Tây Tennessen. Đến bây giờ tôi
vẫn còn giữ nguyên vẹn những kỷ niệm đẹp đẽ về 18 năm đầu đời. Những con người tốt
bụng ở thành phố Trenton nhỏ bé đó đã để lại nhiều ấn tượng khó phai mờ trong tôi.
Chẳng hạn như thầy Walter Kilzer, huấn luyện viên bóng đá, là người đã dạy tôi biết tuân
thủ kỷ luật và biết tin tưởng vào bản thân. Còn thầy Fred Culp dạy môn lịch sử lại là
người hết sức vui tính – thầy cho tôi sự tin tưởng vào những điều tốt đẹp; dưới con mắt
của thày, cuộc sống luôn tràn đầy niềm vui và hy vọng.
Nhưng chính cha tôi mới là người tôi xem như thần tượng. Ông dạy tôi nhiều điều, nhất
là về lẽ sống ở đời, về lòng kính trọng lẫn tình yêu thương. Tôi xem những điều cha dạy
là những nguyên tắc vàng, là kim chỉ nam cho bản thân mình trong những trải nghiệm
cuộc sống.

Cha tôi có một cửa hàng đồ gỗ. Để có tiền tiêu vặt, tôi nhận chân dọn dẹp phụ cha ở cửa
hàng mỗi thứ tư sau giờ học. Vào những ngày đó, tôi thường chú ý quan sát cách cha tôi
tiếp chuyện với khách hàng, từ những người bán dụng cụ làm bếp, nhân viên bán hàng,
bác nông dân, hay một ông bác sĩ. Một hôm vào cuối ngày, lúc cha tôi vừa định đóng cửa
hiệu thì có một người làm nghề thu dọn rác bước vào.

Lúc đó, tôi cũng đã xong công việc và đang đợi cha tôi cùng về nhà. Cha tôi chào đón
người dọn rác một cách chân tình ngay từ ngoài cửa, hỏi thăm vợ và con anh vừa bị tai
nạn xe vào tháng trước. Cha tôi an ủi, nghe anh trút bầu tâm sự, rồi lại quan tâm hỏi han
những chuyện khác. Trong suốt thời gian đó, tôi cứ sốt ruột nhìn đồng hồ. Ngay khi anh
ta đi khỏi, tôi liền hỏi: “Sao cha mất thời gian với anh ta làm gì, chỉ là người dọn rác thôi
mà”. Cha tôi nhìn tôi một hồi, chậm rãi khoá cửa rồi nói: “Con lại gần đây!”.
Ông nói: “Cha là cha của con, và như mọi người cha khác, cha đã dạy con nhiều điều.
Nhưng nếu con có quên hết tất cả những gì cha đã dạy, thì con cũng phải luôn ghi nhớ
điều này: “Con phải đối xử với người khác theo cách mà con muốn họ đối xử với mình”.
Ngưng một lúc, cha nói tiếp: “Cha biết đây không phải là lần đầu tiên con nghe nói về
chuyện này, nhưng cha nghĩ con chưa thật sự hiểu rõ về nó. Vì nếu con đã hiểu, con đã
không thốt ra những lời vừa rồi”. Cha kéo tay tôi ngồi xuống, rồi hai cha con tôi nói
chuyện thật lâu về ý nghĩ của điều ấy. Cha tôi nói: “Đấy là nguyên tắc vàng đó con ạ!
Nếu con áp dụng điều này vào cuộc sống, vào cách cư xử với những người xung quanh,
mọi sự trong đời con sẽ trở nên dễ dàng và suôn sử. Nếu không, con cũng sẽ chỉ nhận
được sự vô vị và chán ngán từ cuộc sống mà thôi”.


12
Bài học ấy đã theo tôi suốt quãng đời sau này, và cho đến bây giờ tôi càng thấy lời cha
dạy là hoàn toàn có lý. Cuộc sống luông đong đầy và hứa hẹn những điều tốt đẹp, chúng
ta hãy đón nhận nó bằng cách tốt nhất có thể.

“Hãy nhẹ nhàng với trẻ, sẻ chia với người già, cảm thông với người khó khăn và khoan
dung với người sai… Vì trong đời mình, bạn khó tránh khỏi có lúc trở thành những người
như thế.”
- Mac Anderson.


10. Nhân ái

“Cho đi là cái giá chúng ta phải trả để được tồn tại trên đời.”
- Marion Wright Edelman

Sự sẻ chia

“Giúp người cũng chính là giúp bản thân mình vậy”
- Ralph Waldo Emerson

Một trong những sở thích của tôi là dậy thật sớm vào sáng chủ nhật, mua báo, tự pha cho
mình một tách café nóng rồi ngả mình trên ghế đọc tin tức khắp nơi. Đó là khoảng thời
gian thư giãn riêng tư quý báu mà tôi tự dành cho mình.

Một buổi sáng chủ nhật nọ, tôi đang lướt qua những hàng tít trên báo thì có một nhan đề
làm tôi chú ý và dừng lại để đọc. Đó là bài viết có nhan đề “Ngày tri ân”, kể về Oral Lee
Brown – ân nhân của nhiều đứa trẻ mồ côi và thất học ở Oaklan. Năm 1987, Brown lúc
đó là nhân viên môi giới bất động sản, một ngày trên đường đi làm về cô bỗng trông thấy
một bé xin ăn bên đường. Sau khi dừng lại và hỏi han, cô nghĩ về số phận của những đứa
trẻ lang thang: chúng sẽ đi về đâu nếu không được xã hội bao bọc, không được học hành?
Chính vào ngày hôm đó, Brown đã quyết định sẽ thay đổi cuộc sống của nhiều đứa trẻ
bất hạnh. Cô nhận bảo trợ cho tất cả học sinh lớp một ở một trong những trường học
nghèo nhất Oakland và hứa sẽ đài thọ cho bất cứ đứa trẻ nào trong số đó học xong đại
học.
Nếu Oral Lee Brown là người giàu có thì không có gì để bàn, đằng này, cô chỉ có thu
nhập khiêm tốn hàng tháng và cũng còn đang nuôi hai đứa con. Nhưng Brown đã giữ lời
hứa. Từ năm 1876, cô đã tiết kiệm 10.000$ mỗi năm để đưa vào quỹ “giúp trẻ đến
trường”. Nhờ có hành động cao thượng đầy tình yêu thương này mà nhiều đứa trẻ vốn có
nguy cơ trở thành tội phạm đường phố đã tốt nghiệp đại học và trở thành những công dân
lương thiện.

Chúng ta ai cũng gắng tìm cho mình một mục đích sống trên đời. Chúng ta ai cũng muốn
làm một điều gì đó tốt đẹp cho người khác, nhưng giữa nói và làm là cả một khoảng cách.
Tuyệt diệu thay, Oral Lee Brown đã trở thành một tấm gương cho chúng ta soi chiếu.
Sống bằng tình yêu thương, quan tâm và sẻ chia với những số phận bất hạnh, mỗi sự

13
đóng góp nhỏ bé của chúng ta đang tạo nên những cơ hội lớn cho những số phận cần
được vun đắp trong cuộc đời.

“Bạn luôn luôn có thể hoặc không thể làm một việc gì đó.”
- Henry Ford

11. Vui với cuộc sống

“Cuộc đời sống động như một trò chơi.”
- Plato

Kiểm soát Stress

Căng thẳng thần kinh là ké sát nhân thầm lặng. Con người sống ở khắp nơi trên thế giới
không ai là không phải đối mặt với chúng. Ai cũng mong muốn có một cuộc sống thanh
thản, nhẹ nhàng, nhưng sự thật thì đã có mấy ai đạt được điều đó. Chúng ta không thoát
được chúng bởi vì chúng tồn tại cùng với suy nghĩ của chúng ta trong tất cả các mặt của
đời sống. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta chấp nhận để “kẻ sát nhân thầm
lặng” này chi phối đời sống tinh thần của mình, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được
stress. Đó là sự thật!

Nhưng cũng như nhiều vấn đề khác, kiểm soát sự căng thẳng như thế nào thì còn tuỳ
thuộc vào mỗi cá nhân. Sau đây tôi xin nêu ra cách thức của tôi để các bạn tham khảo.
Cách kiểm soát căng thẳng tốt nhất theo tôi là luyện tập thể dục thể thao. Bởi vì một tinh
thần minh mẫn chỉ tồn tại trong một cơ thể tràn đầy sinh lực. Khi bạn vận động, máu sẽ
lưu thông tốt hơn và lượng oxy chúng ta nhận được vào cơ thể cũng nhiều hơn, giúp hệ
thống hô hấp cũng như hệ thống tuần hoàn hoạt động nhịp nhành. Lúc này, những tác
nhân hoá học gây căng thẳng cũng sẽ dần bị đẩy lui.

Cuộc sống và công việc vốn tất bật, làm cách nào để có thể duy trì chế độ luyện tập
thường xuyên? Tôi có hai giải pháp. Thứ nhất, tham gia một câu lạc bộ thể dục thể thao.
Đó là cách để chúng ta bước vào một môi trường có thể thúc đẩy mình cùng luyện tập với
mọi người. Thứ hai, tôi tự thực hành những bài tập tay không khi có thời gian đến phòng
tập.
Bên cạnh đó, để kiểm soát căng thẳng, tôi vẫn dành cho mình những khoảng thời gian
riêng tư, không điện thoại, không email, chỉ một mình thư giãn và tận hưởng cảm giác
hoà mình vào thiên nhiên.

Có rất nhiều cách để bạn có thể thử nghiệm, nhưng điều quan trọng ở đây là bạn cần lên
lịch trình rõ ràng cho việc thư giãn chứ không phải đợi đến khi thực sự có nhiều thời
gian. Nếu bạn là người bận rộn, hay tham công tiếc việc, thì bạn lại càng cần phải học
cách thư giãn. Do đó, chẳng phải là nghịch lý khi có ý kiến cho rằng: “Cũng như trẻ con,
người lớn cũng phải được chơi. Đó là quá trình giúp người lớn hoàn thiện!”.



14
12. Sống nhiệt tình

“Thời gian hình thành tuổi tác, thsi độ tạo nên tâm hồn.”
- Samuel Ullman

Sống hết mình với hiện tại

“Chim hót không chỉ để đáp lại tiếng gọi bầy, mà còn để ngợi ca cuộc sống”
- Ngạn ngữ Trung Hoa

Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông. Quả vậy, những gì đã qua thuộc về quá
khứ, còn tương lai thì không biết trước được. Cái duy nhất thực sự có ý nghĩa là hiện tại.
Jim Valvano – một bình luận viên bóng rổ đã từng là một huấn luyện viên có sự nghiệp
lừng lẫy khi dẫn dắt đội North Carolina giành chức vô địch giải quốc gia NCAA trước
đội Houston năm 1983. Thế nhưng giải thưởng danh dự Arthur

Ashe là giải thưởng cho lòng dũng cảm mà ông được trao tặng năm 1993 lại chẳng có
liên quan gì đến sự nghiệp bóng rổ cả. Lúc đó, Valvano đang phải chịu đựng một chứng
ung thư hiểm nghèo và chỉ còn sống được sáu tháng. Trong bài diễn văn ông đọc lúc
nhận giải thưởng cao quý này, ông viết:

“Tôi tha thiết mong muốn các bạn hãy tận hưởng cuộc sống của mình. Hãy tận hưởng
mọi khoẳnh khắc ta có được trên cõi đời này. Hãy để tiếng cười tràn ngập mỗi ngày.
Đừng kìm nén những cảm xúc, hãy thể hiện chúng. Hãy sống với tất cả nhiệt tình, bởi vì
chúng ta sẽ không thể làm nên những thành tựu lớn lao nếu thiếu điềm đó. Và hãy sống
với những ước mơ của mình.”

Jim Valvano tuy mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo nhưng ông luôn sống hết mình,
yêu đời và tin tưởng vào mọi giá trị mà cuộc sống mang lại. Sự quý trọng từng phút giây
được sống trên đời, sống như thể ngày mai mình không còn được sống đã mang lại nhiệt
tình sống mạnh mẽ đến thế. Và tôi tin rằng mỗi ngày chúng ta cũng nên ý thức cho mình
điều đó, vì ngày mai còn quá xa vời, chỉ có thực tại mới là cái chúng ta đang đặt chân lên.
Vài tháng trước, một người bạn có gửi cho tôi bài viết của Samuel Ullman viết năm 1920
có tựa đề: “Tuổi trẻ”. Bài viết này đã khuấy động tâm hồn tôi để lại trong tôi nhiều điều
mà tôi muốn chia sẻ cùng các bạn:

“Tuổi trẻ không là khái niệm chỉ là một gia đoạn trong đời người, mà chỉ là một trạng
thái trong tâm hồn. Tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khoả và vẻ tráng kiện
bên ngoài, mà lại gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của
tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống.
Tuổi trẻ thể hiện ở lòng can đảm chứ không phải tính nhút nhát, ở sở thích phiêu lưu trải
nghiệm hơn là ở sự tìm kiếm an nhàn. Những đức tính đó thường dễ thấy ở những người
năm sáu mươi tuổi hơn là ở đa số thanh niên tuổi đôi mươi. Không ai già đi vì tuổi tác,
chúng ta chỉ già đi khi để tâm hồn mình héo hắt.