1
Lecture 4: Giớithiệu Lý thuyếtsố
1.
1.
M
M
ộ
ộ
t s
t s
ố
ố
đ
đ
ị
ị
nh ngh
nh ngh
ĩ
ĩ
a
a
2.
2.
C
C
á
á
c s
c s
ố
ố
nguyên t
nguyên t
ố
ố
-
-
Prime Numbers
Prime Numbers
3. Phân tích ra thừa số nguyên tố - Prime Factorisation
4. Các số nguyên tố cùng nhau và greatest common divisor
(GCD)
5. Định lý Ferma nhỏ - Fermat's Little Theorem
6. Hàm Ơle ø(n)
7. Định lý Ole - Euler's Theorem
8. Kiểm tra tính nguyên tố -Thuật toán Miller - Rabin
9. Định lý phần dư Trung Hoa
2
Một số định nghĩa
•Tập số tự nhiên:
– N = {0, 1, 2, 3, 4, . . . }
•Tập số nguyên:
– Z = {0, ±1, ±2, ±3, . . . }
3
Các số nguyên tố - Prime Numbers
• Là các số nguyên dương chỉ có ướcsố là 1 và chính nó.
• Chúng không thểđượcviếtdướidạng tích của các số khác
•1 làsố nguyên tố, nhưng không quan tâm đếnnó
• 2, 3, 5, 7 là số nguyên tố; 4, 6, 8, 9, 10 không phảilàsố nguyên tố
•Cácsố nguyên tố là trung tâm của lý thuyếtsố
• Danh sách các số nguyên tố nhỏ hơn 200
2 3 5 7 11 13 17 19 23 29 31 37 41 43 47 53
59 61 67 71 73 79 83 89 97 101 103 107 109
113 127 131 137 139 149 151 157 163 167 173
179 181 191 193 197 199
4
Phân tích ra thừasố nguyên tố
• Phân tích ra thừasố nguyên tố số N tứclàviếtnó
dướidạng tích của các số nguyên tố: n=a x b x c
–Vídụ: 91=7x13 ; 3600=2
4
x3
2
x5
2
• Bài toán phân tích ra thừa số nguyên tố là bài toán
khó.
5
Các số nguyên tố cùng nhau và greatest
common divisor (GCD)
•Haisố a và b không có ước chung nào ngoài 1, đượcgọi là nguyên
tố cùng nhau
–Vídụ: 8 và 15 là nguyên tố cùng nhau, vì ướccủa 8 là 1, 2, 4, 8,
còn ướccủa 15 là 1, 3, 5, 15. Chỉ có 1 là ước chung
•Ngượclạicóthể xác định ước chung lớnnhất -GCD bằng cách
trong các phân tích ra thừasố của chúng, tìm các thừasố nguyên tố
chung và lấybậclũythừanhỏ nhất.
–Vídụ: 300=2
1
x3
1
x5
2
18=2
1
x3
2
,suy ra
GCD(18,300)=2
1
x3
1
x5
0
=6
6
Định lý Ferma nhỏ
Fermat's Little Theorem
•Giả sử p là số nguyên tố và a là số tự nhiên thì
a
p
=a (mod p)
•Nếu p là số nguyên tố và GCD(a, p) = 1
a
p-1
= 1 (mod p)
–Vídụ:
2
7-1
mod 7 = 2
6
mod 7 = 64 mod 7 = 1
3
5-1
mod 5 = 3
4
mod 5 = 81 mod 5 = 1
• Định lý Fermat nhỏ được dùng trong khoá công khai và kiểm
tra tính nguyên tố:
7
Hàm Ole - ø(n)
•Tập đầy đủ các phầndư theo n là: 0, 1, 2, …, n-1
•Xéttập rút gọncủatậpphầndư trên bao gồm các số nguyên tố cùng
nhau vớin.
•Vídụ với n = 10
–Tập đầy đủ các phầndư là {0,1,2,3,4,5,6,7,8,9}
•Tập rút gọn các phầndư nguyên tố cùng nhau với 10 là: {1,3,7,9}
•Số các phầntử củatập rút gọntrênlàgiátrị của hàm Ole ø(n)
8
Hàm Ơle ø(n)
•Muốn tính ø(n) việc đếmsố các số nguyên tố cùng nhau với n và có
giá trị nhỏ hơnnđượcloạibỏ vì đây là bài toán tốn nhiềucôngsức
• Nói chung cầnbiểuthứcphântíchrathừasố
–Nếu p là số nguyên tố ø(p) = p-1
–Nếu p và q là hai số nguyên tố khác nhau
ø(p.q) = (p-1)(q-1)
–Vídụ :
ø(37) = 36
ø(21) = ø( 3&7)=(3–1)×(7–1) = 2×6 = 12
9
Tính ø(n)
•Vídụ:
ø(72) = ø(8.9) = ø(8). ø(9) = ø(2
3
).ø(3
2
) =
= (2
3
-2
2
)(3
2
-3
1
) = 4.6 = 24
Công thức tính ø(n):
10
Định lý Ole - Euler's Theorem
•Tổng quát hoá của Định lý Ferma
a
ø(n)
= 1 (mod n) -
vớimọi a, n trong đó gcd(a,n)=1
•Vídụ:
– a=3; n=10; ø(10)=4;
Suy ra: 3
4
= 81 = 1 mod 10
– a=2; n=11; ø(11)=10;
Suy ra 2
10
= 1024 = 1 mod 11
11
Kiểm tra tính nguyên tố
Primality Testing
•Giả sử cầnphải tìm mộtsố nguyên tố rấtlớn
–Lấymộtsốđủlớn. Phương pháp truyềnthống là thử bằng phép
chia: chia cho tấtcả các số (chỉ cần nguyên tố) nhỏ hơnhoặc
bằng cănbậchaicủasốđó.
–Phương pháp chia chỉ hiệuquả khi cần kiểm tra các số nhỏ.
•Cóphương pháp khác sử dụng các phép kiểm tra tính nguyên tố dựa
trên các tính chất:
–Màmọisố nguyên tố phảithỏamãn
–Nhưng có mộtsố số không phải là số nguyên tố, gọilàgiả
nguyên tố cũng thoả mãn tính chất đó.
12
Thuật toán Miller - Rabin
13
Thuật toán Miller - Rabin
14
Thuật toán Miller - Rabin
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Hoàn thiện chính sách sản phẩm Inbound tại công ty TNHH Quốc tế Hoàng Cầu-IGB TOURS .doc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phần và các yếu tố của sản phẩm:
Một sản phẩm thường có ba thành phần:
+ Thành phần trọng tâm của sản phẩm: Cho biết chất của sản phẩm,
sản phẩm được tạo ra từ chất gì, nguyên liệu nào.
+ Thành phần mục tiêu: Mỗi sản phẩm sẽ thể hiện mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp.
+ Thành phần bổ sung: Bao gồm dịch vụ hậu mãi, tín dụng, chăm sóc
khách hàng.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch :
Sản phẩm của các công ty du lịch là các sản phẩm du lịch. Đây là
những hàng hóa mang tính chất vô hình. Khi chúng ta tìm hiểu về chính sách
sản phẩm du lịch thì cũng phải tìm hiểu xem thế nào là một sản phẩm du lịch
và những đặc điểm của nó.
“ Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách,
được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với
việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở,
một vùng hay một quôc gia nào đó.”
(GS.TS. Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình kinh tế
du lịch, NXB Lao động và xã hội, 2004, trang 31).
Sản phẩm du lịch cũng có thể hiểu là một tập hợp các yếu tố thoả mãn
và những yếu tố không được thoả mầnm du khách nhận được trong quá trình
đi du lịch.
Sản phẩm du lịch = Hàng hóa du lịch + Dịch vụ du lịch+ Tài nguyên du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa hàng hóa du lịch, dịch vụ du lịch
và tài nguyên du lịch. Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm cả những yếu tố vô
hình (dịch vụ) và yếu tố hữu hình( hàng hóa). Chúng ta có thể tổng hợp các
thành phần trong sản phẩm du lịch xét theo quá trình tiêu dùng của khách bao
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gồm các nhóm cơ bản :
Dịch vụ tham quan giải trí
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Dịch vụ vận chuyển
Hàng hóa tiêu dung và đồ lưu niệm
Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Giá trị tài nguyên du lịch bao gồm: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa
hình, nguồn nước, khí hậu, sinh vật, các di sản thiên nhiên…), tài nguyên du
lịch nhân văn( các giá trị lịch sử, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, một
số thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa…).
Dịch vụ du lịch : là tất cả những dịch vụ cơ bản( vận chuyển, lưu trú,
ăn uống) và bổ sung( tham quan, giải trí…)
Hàng hóa du lịch: Gồm cả những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu hàng
ngày tiêu dùng trong quá trình đi du lịch( hàng thực phẩm, đồ dùng, đồ
uống…) và hàng lưu niệm (hàng được bán tại điểm tham quan du lịch, hay
được sản xuất tại nơi đến…, khách du lịch có thể mua những về để tặng cho
người than, bạn bè để làm quà kỷ niệm cho một chuyến đi.
Một số đặc điểm của sản phẩm du lịch:
+ Trong thành phần của sản phẩm du lịch thì dịch vụ chiếm chủ yếu
( gần 90%). Dịch vụ chiếm tỷ trọng và chiếm ưu thế về mặt giá trị chứ không
phải về mặt số lượng. Dịch vụ du lịch mang tính chất vô hình. Việc đánh giá
chất lượng sản phẩm du lịch mang tính chất chủ quan, từ phía người tiêu
dùng. Để tạo ra một sản phẩm du lịch phù hợp thì phải nghiên cứu thật kỹ nhu
cầu của người tiêu dùng, lấy thông tin từ người tiêu dùng phản hồi lại.
+ Việc tạo ra sản phẩm du lịch lại gắn liền với tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên lại cố định nên việc tạo ra sản phẩm du lịch sẽ trùng
với tài nguyên du lịch về mặt không gian và thời gian. Điều này sẽ gây một số
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vấn đề khó khăn cho các nhà quản trị du lịch.
+ Sản phẩm du lịch không thể tồn kho hay dịch chuyển được, nó chỉ
tồn tại trong một thời gian nhất định. Điều này sẽ gây khó khăn cho các nhà
quản lý trong việc hạch toán chi phí cho hoạt động kinh doanh, dự báo công
suất, tính chi phí phân bổ.
+ Kênh phân phối gián tiếp nhiều cấp nên việc phân phối sản phẩm
cũng gặp nhiều khó khăn.
+ Việc tạo ra và tiêu dung sản phẩm du lịch bị chi phối bởi yếu tố mùa
vụ. Hoạt động kinh doanh diễn ra không đều đặn theo thời gian: lúc cung lớn,
lúc cầu nhỏ và ngược lại. Đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm du lịch
dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Điều này gây khó khăn cho hạch toán chi phí
vì mùa du lịch phải gánh chi phí cho những mùa chết. Chính vì vậy giá các
sản phẩm mùa du lịch thường cao hơn các mùa khác. Việc tổ chức và quản lý
lao động cũng vô cùng khó khăn trong mùa thấp điểm.
Một công ty có thể cung cấp các sản phẩm du lịch khác nhau để đáp
ứng nhiều loại khách khác nhau, có động cơ du lịch khác nhau. Mỗi công ty
lữ hành cần phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch. Trong sự đa dạng phức
tạp đó, để định hướng phát triển sản phẩm du lịch, các công ty cần phải quản
lý các sản phẩm của mình một cách toàn diện, hệ thống thông qua việc phân
chia và tập hợp các sản phẩm theo một tiêu chí chung nào đó. Bởi thế mà
chính sách sản phẩm cần được các công ty lữ hành ngày càng quan tâm, chú ý
nghiên cứu và phát triển.
1.1.3.Hệ thống sản phẩm của các doanh nghiệp lữ hành:
1.1.3.1.Các dịch vụ trung gian:
Người ta còn gọi các dịch vụ trung gian là các dịch vụ đơn lẻ. Đây là
loại sản phẩm mà hầu hết các công ty lữ hành nào cũng có. Việc tiêu thụ các
sản phẩm này sẽ giúp các nhà cung cấp du lịch hưởng hoa hồng. Các dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trung gian bao gồm:
Dịch vụ vận chuyển hàng không (gồm: đăng ký, đặt chỗ, bán vé máy bay)
Dịch vụ vận chuyển bằng tàu thủy( gồm: Đăng ký, đặt chỗ, bán vé tàu thủy)
Dịch vụ vận chuyển đường sắt( gồm: đăng ký, đặt chỗ, bán vé tàu hỏa)
Dịch vụ vận chuyển đường bộ
Dịch vụ vận chuyển bằng các phương tiện khác.
Dịch vụ bán vé xem biểu diễn các chương trình nghệ thuật, tham quan…
Các dịch vụ khác.
1.1.3.2. Các chương trình du lịch ( TOURS)
Đây là sản phẩm đặc trưng và chủ yếu của các công ty lữ hành. Có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về chương trình du lịch. Ở đây, chúng ta xét theo
định nghĩa: “ Chương trình du lịch có thể được hiểu là sự liên kết ít nhất một
dịch vụ đặc trưng và một dịch vụ khác với thời gian và không gian tiêu dung
và mức giá đã được xác định trước. Đơn vị tính của chương trình di lịch là
chuyến và được bán trước cho khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc
trưng và một nhu cầu nào đó trong quá trình thực hiện chuyến đi”.
( TS. Nguyễn Văn Mạnh, Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB
Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2006, trang 44).
Tính chất và đặc điểm của chương trình du lịch:
+ Tính chất hàng hóa của chương trình du lịch:
Xét theo tư cách là hàng hóa thì sản phẩm chương trình du lịch có hai
mặt: Giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của nó thể hiện ở chỗ nó thỏa
mãn tổng hợp, đồng bộ các nhu cầu khi đi du lịch: Nhu cầu sinh lý, giao tiếp,
an ninh, an toàn…Chỉ có thông qua tiêu dùng thì du khách mới có thể đánh
giá và đo lường giá trị sử dụng của chương trình du lịch. Còn việc xác định
giá trị của các chương trình du lịch là rất khó khăn. Người ta xác định giá trị
của chương trình du lịch dựa vào ba yếu tố: sản phẩm vật thể, giá trị dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
du lịch, giá trị tài nguyên du lịch với tư cách là đối tượng thu hút khách.
+ Đặc điểm của chương trình du lịch:
Chương trình du lịch là một sản phẩm dịch vụ tổng hợp, gồm nhiều
loại dịch vụ do các nhà cung cấp khác nhau cung ứng. Các chương trình du
lịch có các đặc điểm:
Tính vô hình: Việc đánh giá chất lượng các chương trình du lịch chỉ
thông qua việc tiêu dùng sản phẩm.
Tính không đồng nhất: Các chương trình du lịch không giống nhau,
cùng một chương trình du lịch nhưng chất lượng lại không giống nhau nên
dẫn đến cảm nhận của khách cũng khác nhau. Do chất lượng của các
chương trình du lịch phụ thuộc nhiều vào chất lượng các dịch vụ của các
nhà cung cấp.
Tính phụ thuộc vào uy tín: Uy tín của các nhà cung cấp có ảnh hưởng
rất lớn đến việc hấp dẫn khách du lịch trong mỗi tour du lịch.
Tính dễ bị sao chép và bắt chước: Các chương trình du lịch ở Việt Nam
rất dễ bị sao chép do chưa thực hiện nghiêm luật bảo vệ bản quyền tác giả.
Tính thời vụ: Sản phẩm của chương trình du lịch có tính thời vụ cao, rất
nhạy cảm với các yếu tố trong môi trường kinh doanh.
Tính khó bán: Khi mua chương trình, khách du lịch thường băn khoăn
về chất lượng của sản phẩm, về sự an ninh, an toàn nên các chương trình du
lịch rất khó trong việc bán cho khách.
Phân loại các chương trình du lịch:
+ Căn cứ vào các dịch vụ cấu thành và hình thức tổ chức: chia làm 2 loại:
Chương trình du lịch trọn gói( package tour): là chương trình du lịch
trong đó bao gồm tất cả các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong
quá trình du lịch. Mức giá bán cho khách trước chuyến đi là giá trọn gói.
Chương trình du lịch không trọn gói: Là chương trình không có đầy đủ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các thành phần chính như trong chương trình du lịch trọn gói. Chương trình
này thích hợp với những người thích đi du lịch mang tính tự do cá nhân, thích
tiêu dùng độc lập. Nó còn được gọi là chương trình Du lịch mở ( Open Tour)
+ Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh:
Chương trình du lịch chủ động: Là các chương trình du lịch trọn gói do
các doanh nghiệp du lịch chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các
chương trình du lịch, khảo sát, kiểm tra, ấn định ngày thực hiện và cuối cùng
là tổ chức bán và thực hiện các chương trình du lịch. Các chương trình du lịch
này có tính mạo hiểm rất cao nên chỉ áp dụng với các công ty lữ hành lớn, có
thị trường tương đối ổn định.
Chương trình du lịch bị động: Là chương trình du lịch trọn gói hoặc
không trọn gói do khách du lịch đến trực tiếp các công ty lữ hành đưa ra các
yêu cầu của mình trong chuyến hành trình. Dựa trên những yêu cầu của
khách, các công ty lữ hành sẽ tiến hành nghiên cứu cung du lịch và xây dựng
các chương trình du lịch theo thiết kế. Sau khi hai bên đã xem xét, chỉnh sửa
và đi đến nhất trí thì sẽ ký kết hợp đồng. Chương trình du lịch này mang tính
rủi ro thấp, nhưng công ty lữ hành lại bị động trong kinh doanh, không thích
hợp trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Chương trình du lịch kết hợp: Là chương trình du lịch mà các công ty
lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, nghiên cứu, xây dựng và thiết kế các
chương trình du lịch. Sau đó công ty cũng đảm nhiệm luôn việc tuyên truyền,
quảng bá, xúc tiến bán các chương trình du lịch. Khách du lịch sẽ đến các
công ty lữ hành để mua các chương trình du lịch phù hợp. Loại chương trình
du lịch này rất thích hợp với những thị trường có nguồn khách lớn nhưng
không thường xuyên và ổn định. Các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam phần
lớn áp dụng các chương trình du lịch loại này.
+ Căn cứ vào tính chất và mức độ phụ thuộc trong tiêu dùng:
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương trình du lịch có hướng dẫn viên tháp tùng toàn tuyến: Trong
tour du lịch này, công ty lữ hành sẽ cử hướng dẫn viên cùng đi với đoàn trong
toàn bộ hành trình của chuyến đi. Hướng dẫn viên sẽ có trách nhiệm quản lý
và phụ trách chung các hoạt động trong đoàn. Giữa các khách du lịch có sự
phụ thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng.
Chương trình du lịch trọn gói phụ thuộc có hướng dẫn viên từng chặng:
Tour này cũng có đặc điểm giống tour ở trên ở chỗ là khách du lịch có sự phụ
thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng. Mặc dù có khách thích hay không thích nhưng
vẫn phải sử dụng các dịch vụ chung như trong đoàn. Điều khác biệt là trong
tour này, khách du lịch còn có thêm hướng dẫn viên ở từng chặng. Họ là
những người dân địa phương nên am hiểu kiến thức hơn, họ sẽ cung cấp cho
khách du lịch những thông tin rất mới lạ.
Chương trình du lịch độc lập: Đây là chương trình du lịch sẽ cung cấp
cho khách du lịch ít nhất 2 dịch vụ là lưu trú và vận chuyển còn các dịch vụ
khác sẽ cung câp theo yêu cầu của khách du lịch. Việc tiêu dung giữa các cá
nhân không phụ thuộc vào nhau ngoài hai dịch vụ trên.
Chương trình du lịch độc lập toàn phần: Theo chương trình du lịch nay,
các dịch vụ khi đi du lịch đều được thỏa mãn và được phục vụ theo đúng yêu
cầu của khách. Sẽ không có sự phụ thuộc tiêu dung giữa các khách ở bất cứ
dịch vụ nào. Đây là chương trình du lịch phục vụ cho những khách thích sự tự
do cá nhân, có khả năng chi trả cao.
+ Căn cứ vào động cơ chính của chuyến đi:
Chương trình du lịch chữa bệnh: Khách du lịch đi theo chương trình du
lịch này do có nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ. Họ
có thể chữa bệnh bằng: Khí hậu, nước khoáng, bùn, hoa quả…
Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Chương trình du lịch này có
tác dụng phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Nó có tác dụng làm giải
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trí, làm cho cuộc sống thêm đa dạng, giải thoát con người khỏi công việc hàng
ngày, giảm stress.
Chương trình du lịch thể thao: Khách đi du lịch có thể tham gia trực
tiếp vào các hoạt động thể thao: Leo núi, săn bắn, câu cá…, tham gia các loại
thể thao: đá bóng, bóng chuyền …
Chương trình du lịch văn hóa: Là chương trình du lịch với mục đích
chính là nâng cao sự hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực: lịch sử, kinh tế,
hội họa, phong tục tập quán, lịch sử, kiến trúc…
Chương trình du lịch công vụ: Mục đích chính khi tham gia chương
trình này là thực hiện nhiệm vụ công tác: tham gia hội thảo, triển lãm,…
Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng: Chương trình thỏa mãn
những người có nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo
khác nhau.
Chương trình du lịch đặc biệt: Tham quan chiến trường xưa…
Chương trình du lịch tổng hợp.
1.1.3.3. Các sản phẩm tổng hợp khác:
- Chương trình du lịch khuyến thưởng của các công ty
- Chương trình du lịch hội nghị, hội thảo.
- Chương trình tham dự các sự kiện lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao.
1.2. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
1.2.1. Khái nịêm về chính sách sản phẩm:
Mỗi công ty đều có chính sách marketing phù hợp với từng thời kỳ phát
triển của mình. Chính sách là những biện pháp kinh doanh mà doanh nghiệp
đã nghiên cứu kỹ để áp dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong một thời kỳ. Chính sách sản phẩm là một trong bốn chính sách
marketing, nó được hiểu là chính sách giúp các doanh nghiệp có thể tạo ra
được những sản phẩm đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính sách sản phẩm đối với Marketing có hai vấn đề liên quan mật
thiết với nhau:
Một là, hình thành và phát triển sản phẩm
Hai là, các quyết định chiến lược sản phẩm.
Chính sách sản phẩm được áp dụng cho từng sản phẩm riêng lẻ, cho
tuyến sản phẩm ( product line) hay cho cả hệ sản phẩm( product mix).
Chính sách sản phẩm du lịch là chính sách giúp các doanh nghiệp lữ
hành có thể tạo ra các sản phẩm du lịch đúng đắn, phù hợp vớí nhu cầu của thị
trường(của khách du lịch).
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có thể của một vùng,
một quốc gia hay của một công ty. Các sản phẩm này cùng thỏa mãn một loại
động cơ du lịch, cùng diễn ra ở một điểm đến hay cùng phục vụ một đoạn thị
trường mục tiêu. Loại hình du lịch có thể được coi là một hệ sản phẩm của
một công ty lữ hành. Do nhu cầu du lịch và các điều kiện phát triển du lịch
thường xuyên biến đổi nên cần phải thường xuyên ra soát, kiểm tra các sản
phẩm du lịch. Việc xây dựng một chính sách sản phẩm sẽ giúp các doanh
nghiệp lữ hành định hướng và phát triển tốt.
1.2.2. Quy trình hình thành và phát triển của một sản phẩm:
( Product Planning and Development)
1.2.2.1. Khái niệm về sản phẩm mới:
Theo quan điểm trong Marketing, sản phẩm mới có thể là mới về
nguyên tắc. Nó có thể được cải tiến từ những sản phẩm hiện có hoặc có
những nhãn hiệu mới sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu của công ty. Một
dấu hiệu quan trọng nhất để đánh giá hàng hóa là mới hay không phải tùy
thuộc vào sự thừa nhận của khách hàng.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ về sản phẩm mới:
Như vậy, sản phẩm mới bao gồm:
- Các sản phẩm mới do phát minh, sáng kiến để đáp ứng một nhu cầu
hoàn toàn mới
- Sản phẩm mới được cải tiến, hoàn thiện từ sản phẩm hiện có.
- Sản phẩm bổ sung cho các sản phẩm hiện có để tạo ra sản phẩm mới.
- Sản phẩm hiện có nhưng được sản xuất bằng kỹ thuật mới, có khả
năng làm hạ thấp chi phí.
- Những sản phẩm cũ được tiêu thụ tại thị trường mới ( người ta thường
nói: Cũ người mới ta)
- Các sản phẩm cũ nhưng qua các biện pháp marketing đã trở thành
những sản phẩm mới ( rượu cũ, bình mới).
- Các chuyên gia marketing đã tổng kết trên thực tế chỉ có 10% số sản
phẩm mới là mới thực sự hoặc có đổi mới
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
14
Sản phẩm
Thị
trường
Giới thiệu sản
phẩm mới tại
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm hiện tại ở
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm mới ở thị
trường hiện tại
Thay đổi sản
phẩm hiện tại ở
thị trường hiện
tại
Mới
Hiện
tại
Mới Hiện tại
Thành phần và các yếu tố của sản phẩm:
Một sản phẩm thường có ba thành phần:
+ Thành phần trọng tâm của sản phẩm: Cho biết chất của sản phẩm,
sản phẩm được tạo ra từ chất gì, nguyên liệu nào.
+ Thành phần mục tiêu: Mỗi sản phẩm sẽ thể hiện mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp.
+ Thành phần bổ sung: Bao gồm dịch vụ hậu mãi, tín dụng, chăm sóc
khách hàng.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch :
Sản phẩm của các công ty du lịch là các sản phẩm du lịch. Đây là
những hàng hóa mang tính chất vô hình. Khi chúng ta tìm hiểu về chính sách
sản phẩm du lịch thì cũng phải tìm hiểu xem thế nào là một sản phẩm du lịch
và những đặc điểm của nó.
“ Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách,
được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với
việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở,
một vùng hay một quôc gia nào đó.”
(GS.TS. Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình kinh tế
du lịch, NXB Lao động và xã hội, 2004, trang 31).
Sản phẩm du lịch cũng có thể hiểu là một tập hợp các yếu tố thoả mãn
và những yếu tố không được thoả mầnm du khách nhận được trong quá trình
đi du lịch.
Sản phẩm du lịch = Hàng hóa du lịch + Dịch vụ du lịch+ Tài nguyên du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa hàng hóa du lịch, dịch vụ du lịch
và tài nguyên du lịch. Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm cả những yếu tố vô
hình (dịch vụ) và yếu tố hữu hình( hàng hóa). Chúng ta có thể tổng hợp các
thành phần trong sản phẩm du lịch xét theo quá trình tiêu dùng của khách bao
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gồm các nhóm cơ bản :
Dịch vụ tham quan giải trí
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Dịch vụ vận chuyển
Hàng hóa tiêu dung và đồ lưu niệm
Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Giá trị tài nguyên du lịch bao gồm: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa
hình, nguồn nước, khí hậu, sinh vật, các di sản thiên nhiên…), tài nguyên du
lịch nhân văn( các giá trị lịch sử, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, một
số thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa…).
Dịch vụ du lịch : là tất cả những dịch vụ cơ bản( vận chuyển, lưu trú,
ăn uống) và bổ sung( tham quan, giải trí…)
Hàng hóa du lịch: Gồm cả những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu hàng
ngày tiêu dùng trong quá trình đi du lịch( hàng thực phẩm, đồ dùng, đồ
uống…) và hàng lưu niệm (hàng được bán tại điểm tham quan du lịch, hay
được sản xuất tại nơi đến…, khách du lịch có thể mua những về để tặng cho
người than, bạn bè để làm quà kỷ niệm cho một chuyến đi.
Một số đặc điểm của sản phẩm du lịch:
+ Trong thành phần của sản phẩm du lịch thì dịch vụ chiếm chủ yếu
( gần 90%). Dịch vụ chiếm tỷ trọng và chiếm ưu thế về mặt giá trị chứ không
phải về mặt số lượng. Dịch vụ du lịch mang tính chất vô hình. Việc đánh giá
chất lượng sản phẩm du lịch mang tính chất chủ quan, từ phía người tiêu
dùng. Để tạo ra một sản phẩm du lịch phù hợp thì phải nghiên cứu thật kỹ nhu
cầu của người tiêu dùng, lấy thông tin từ người tiêu dùng phản hồi lại.
+ Việc tạo ra sản phẩm du lịch lại gắn liền với tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên lại cố định nên việc tạo ra sản phẩm du lịch sẽ trùng
với tài nguyên du lịch về mặt không gian và thời gian. Điều này sẽ gây một số
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vấn đề khó khăn cho các nhà quản trị du lịch.
+ Sản phẩm du lịch không thể tồn kho hay dịch chuyển được, nó chỉ
tồn tại trong một thời gian nhất định. Điều này sẽ gây khó khăn cho các nhà
quản lý trong việc hạch toán chi phí cho hoạt động kinh doanh, dự báo công
suất, tính chi phí phân bổ.
+ Kênh phân phối gián tiếp nhiều cấp nên việc phân phối sản phẩm
cũng gặp nhiều khó khăn.
+ Việc tạo ra và tiêu dung sản phẩm du lịch bị chi phối bởi yếu tố mùa
vụ. Hoạt động kinh doanh diễn ra không đều đặn theo thời gian: lúc cung lớn,
lúc cầu nhỏ và ngược lại. Đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm du lịch
dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Điều này gây khó khăn cho hạch toán chi phí
vì mùa du lịch phải gánh chi phí cho những mùa chết. Chính vì vậy giá các
sản phẩm mùa du lịch thường cao hơn các mùa khác. Việc tổ chức và quản lý
lao động cũng vô cùng khó khăn trong mùa thấp điểm.
Một công ty có thể cung cấp các sản phẩm du lịch khác nhau để đáp
ứng nhiều loại khách khác nhau, có động cơ du lịch khác nhau. Mỗi công ty
lữ hành cần phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch. Trong sự đa dạng phức
tạp đó, để định hướng phát triển sản phẩm du lịch, các công ty cần phải quản
lý các sản phẩm của mình một cách toàn diện, hệ thống thông qua việc phân
chia và tập hợp các sản phẩm theo một tiêu chí chung nào đó. Bởi thế mà
chính sách sản phẩm cần được các công ty lữ hành ngày càng quan tâm, chú ý
nghiên cứu và phát triển.
1.1.3.Hệ thống sản phẩm của các doanh nghiệp lữ hành:
1.1.3.1.Các dịch vụ trung gian:
Người ta còn gọi các dịch vụ trung gian là các dịch vụ đơn lẻ. Đây là
loại sản phẩm mà hầu hết các công ty lữ hành nào cũng có. Việc tiêu thụ các
sản phẩm này sẽ giúp các nhà cung cấp du lịch hưởng hoa hồng. Các dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trung gian bao gồm:
Dịch vụ vận chuyển hàng không (gồm: đăng ký, đặt chỗ, bán vé máy bay)
Dịch vụ vận chuyển bằng tàu thủy( gồm: Đăng ký, đặt chỗ, bán vé tàu thủy)
Dịch vụ vận chuyển đường sắt( gồm: đăng ký, đặt chỗ, bán vé tàu hỏa)
Dịch vụ vận chuyển đường bộ
Dịch vụ vận chuyển bằng các phương tiện khác.
Dịch vụ bán vé xem biểu diễn các chương trình nghệ thuật, tham quan…
Các dịch vụ khác.
1.1.3.2. Các chương trình du lịch ( TOURS)
Đây là sản phẩm đặc trưng và chủ yếu của các công ty lữ hành. Có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về chương trình du lịch. Ở đây, chúng ta xét theo
định nghĩa: “ Chương trình du lịch có thể được hiểu là sự liên kết ít nhất một
dịch vụ đặc trưng và một dịch vụ khác với thời gian và không gian tiêu dung
và mức giá đã được xác định trước. Đơn vị tính của chương trình di lịch là
chuyến và được bán trước cho khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc
trưng và một nhu cầu nào đó trong quá trình thực hiện chuyến đi”.
( TS. Nguyễn Văn Mạnh, Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB
Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2006, trang 44).
Tính chất và đặc điểm của chương trình du lịch:
+ Tính chất hàng hóa của chương trình du lịch:
Xét theo tư cách là hàng hóa thì sản phẩm chương trình du lịch có hai
mặt: Giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của nó thể hiện ở chỗ nó thỏa
mãn tổng hợp, đồng bộ các nhu cầu khi đi du lịch: Nhu cầu sinh lý, giao tiếp,
an ninh, an toàn…Chỉ có thông qua tiêu dùng thì du khách mới có thể đánh
giá và đo lường giá trị sử dụng của chương trình du lịch. Còn việc xác định
giá trị của các chương trình du lịch là rất khó khăn. Người ta xác định giá trị
của chương trình du lịch dựa vào ba yếu tố: sản phẩm vật thể, giá trị dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
du lịch, giá trị tài nguyên du lịch với tư cách là đối tượng thu hút khách.
+ Đặc điểm của chương trình du lịch:
Chương trình du lịch là một sản phẩm dịch vụ tổng hợp, gồm nhiều
loại dịch vụ do các nhà cung cấp khác nhau cung ứng. Các chương trình du
lịch có các đặc điểm:
Tính vô hình: Việc đánh giá chất lượng các chương trình du lịch chỉ
thông qua việc tiêu dùng sản phẩm.
Tính không đồng nhất: Các chương trình du lịch không giống nhau,
cùng một chương trình du lịch nhưng chất lượng lại không giống nhau nên
dẫn đến cảm nhận của khách cũng khác nhau. Do chất lượng của các
chương trình du lịch phụ thuộc nhiều vào chất lượng các dịch vụ của các
nhà cung cấp.
Tính phụ thuộc vào uy tín: Uy tín của các nhà cung cấp có ảnh hưởng
rất lớn đến việc hấp dẫn khách du lịch trong mỗi tour du lịch.
Tính dễ bị sao chép và bắt chước: Các chương trình du lịch ở Việt Nam
rất dễ bị sao chép do chưa thực hiện nghiêm luật bảo vệ bản quyền tác giả.
Tính thời vụ: Sản phẩm của chương trình du lịch có tính thời vụ cao, rất
nhạy cảm với các yếu tố trong môi trường kinh doanh.
Tính khó bán: Khi mua chương trình, khách du lịch thường băn khoăn
về chất lượng của sản phẩm, về sự an ninh, an toàn nên các chương trình du
lịch rất khó trong việc bán cho khách.
Phân loại các chương trình du lịch:
+ Căn cứ vào các dịch vụ cấu thành và hình thức tổ chức: chia làm 2 loại:
Chương trình du lịch trọn gói( package tour): là chương trình du lịch
trong đó bao gồm tất cả các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong
quá trình du lịch. Mức giá bán cho khách trước chuyến đi là giá trọn gói.
Chương trình du lịch không trọn gói: Là chương trình không có đầy đủ
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các thành phần chính như trong chương trình du lịch trọn gói. Chương trình
này thích hợp với những người thích đi du lịch mang tính tự do cá nhân, thích
tiêu dùng độc lập. Nó còn được gọi là chương trình Du lịch mở ( Open Tour)
+ Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh:
Chương trình du lịch chủ động: Là các chương trình du lịch trọn gói do
các doanh nghiệp du lịch chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các
chương trình du lịch, khảo sát, kiểm tra, ấn định ngày thực hiện và cuối cùng
là tổ chức bán và thực hiện các chương trình du lịch. Các chương trình du lịch
này có tính mạo hiểm rất cao nên chỉ áp dụng với các công ty lữ hành lớn, có
thị trường tương đối ổn định.
Chương trình du lịch bị động: Là chương trình du lịch trọn gói hoặc
không trọn gói do khách du lịch đến trực tiếp các công ty lữ hành đưa ra các
yêu cầu của mình trong chuyến hành trình. Dựa trên những yêu cầu của
khách, các công ty lữ hành sẽ tiến hành nghiên cứu cung du lịch và xây dựng
các chương trình du lịch theo thiết kế. Sau khi hai bên đã xem xét, chỉnh sửa
và đi đến nhất trí thì sẽ ký kết hợp đồng. Chương trình du lịch này mang tính
rủi ro thấp, nhưng công ty lữ hành lại bị động trong kinh doanh, không thích
hợp trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Chương trình du lịch kết hợp: Là chương trình du lịch mà các công ty
lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, nghiên cứu, xây dựng và thiết kế các
chương trình du lịch. Sau đó công ty cũng đảm nhiệm luôn việc tuyên truyền,
quảng bá, xúc tiến bán các chương trình du lịch. Khách du lịch sẽ đến các
công ty lữ hành để mua các chương trình du lịch phù hợp. Loại chương trình
du lịch này rất thích hợp với những thị trường có nguồn khách lớn nhưng
không thường xuyên và ổn định. Các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam phần
lớn áp dụng các chương trình du lịch loại này.
+ Căn cứ vào tính chất và mức độ phụ thuộc trong tiêu dùng:
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương trình du lịch có hướng dẫn viên tháp tùng toàn tuyến: Trong
tour du lịch này, công ty lữ hành sẽ cử hướng dẫn viên cùng đi với đoàn trong
toàn bộ hành trình của chuyến đi. Hướng dẫn viên sẽ có trách nhiệm quản lý
và phụ trách chung các hoạt động trong đoàn. Giữa các khách du lịch có sự
phụ thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng.
Chương trình du lịch trọn gói phụ thuộc có hướng dẫn viên từng chặng:
Tour này cũng có đặc điểm giống tour ở trên ở chỗ là khách du lịch có sự phụ
thuộc lẫn nhau trong tiêu dùng. Mặc dù có khách thích hay không thích nhưng
vẫn phải sử dụng các dịch vụ chung như trong đoàn. Điều khác biệt là trong
tour này, khách du lịch còn có thêm hướng dẫn viên ở từng chặng. Họ là
những người dân địa phương nên am hiểu kiến thức hơn, họ sẽ cung cấp cho
khách du lịch những thông tin rất mới lạ.
Chương trình du lịch độc lập: Đây là chương trình du lịch sẽ cung cấp
cho khách du lịch ít nhất 2 dịch vụ là lưu trú và vận chuyển còn các dịch vụ
khác sẽ cung câp theo yêu cầu của khách du lịch. Việc tiêu dung giữa các cá
nhân không phụ thuộc vào nhau ngoài hai dịch vụ trên.
Chương trình du lịch độc lập toàn phần: Theo chương trình du lịch nay,
các dịch vụ khi đi du lịch đều được thỏa mãn và được phục vụ theo đúng yêu
cầu của khách. Sẽ không có sự phụ thuộc tiêu dung giữa các khách ở bất cứ
dịch vụ nào. Đây là chương trình du lịch phục vụ cho những khách thích sự tự
do cá nhân, có khả năng chi trả cao.
+ Căn cứ vào động cơ chính của chuyến đi:
Chương trình du lịch chữa bệnh: Khách du lịch đi theo chương trình du
lịch này do có nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ. Họ
có thể chữa bệnh bằng: Khí hậu, nước khoáng, bùn, hoa quả…
Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Chương trình du lịch này có
tác dụng phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Nó có tác dụng làm giải
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trí, làm cho cuộc sống thêm đa dạng, giải thoát con người khỏi công việc hàng
ngày, giảm stress.
Chương trình du lịch thể thao: Khách đi du lịch có thể tham gia trực
tiếp vào các hoạt động thể thao: Leo núi, săn bắn, câu cá…, tham gia các loại
thể thao: đá bóng, bóng chuyền …
Chương trình du lịch văn hóa: Là chương trình du lịch với mục đích
chính là nâng cao sự hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực: lịch sử, kinh tế,
hội họa, phong tục tập quán, lịch sử, kiến trúc…
Chương trình du lịch công vụ: Mục đích chính khi tham gia chương
trình này là thực hiện nhiệm vụ công tác: tham gia hội thảo, triển lãm,…
Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng: Chương trình thỏa mãn
những người có nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo
khác nhau.
Chương trình du lịch đặc biệt: Tham quan chiến trường xưa…
Chương trình du lịch tổng hợp.
1.1.3.3. Các sản phẩm tổng hợp khác:
- Chương trình du lịch khuyến thưởng của các công ty
- Chương trình du lịch hội nghị, hội thảo.
- Chương trình tham dự các sự kiện lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao.
1.2. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
1.2.1. Khái nịêm về chính sách sản phẩm:
Mỗi công ty đều có chính sách marketing phù hợp với từng thời kỳ phát
triển của mình. Chính sách là những biện pháp kinh doanh mà doanh nghiệp
đã nghiên cứu kỹ để áp dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong một thời kỳ. Chính sách sản phẩm là một trong bốn chính sách
marketing, nó được hiểu là chính sách giúp các doanh nghiệp có thể tạo ra
được những sản phẩm đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính sách sản phẩm đối với Marketing có hai vấn đề liên quan mật
thiết với nhau:
Một là, hình thành và phát triển sản phẩm
Hai là, các quyết định chiến lược sản phẩm.
Chính sách sản phẩm được áp dụng cho từng sản phẩm riêng lẻ, cho
tuyến sản phẩm ( product line) hay cho cả hệ sản phẩm( product mix).
Chính sách sản phẩm du lịch là chính sách giúp các doanh nghiệp lữ
hành có thể tạo ra các sản phẩm du lịch đúng đắn, phù hợp vớí nhu cầu của thị
trường(của khách du lịch).
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có thể của một vùng,
một quốc gia hay của một công ty. Các sản phẩm này cùng thỏa mãn một loại
động cơ du lịch, cùng diễn ra ở một điểm đến hay cùng phục vụ một đoạn thị
trường mục tiêu. Loại hình du lịch có thể được coi là một hệ sản phẩm của
một công ty lữ hành. Do nhu cầu du lịch và các điều kiện phát triển du lịch
thường xuyên biến đổi nên cần phải thường xuyên ra soát, kiểm tra các sản
phẩm du lịch. Việc xây dựng một chính sách sản phẩm sẽ giúp các doanh
nghiệp lữ hành định hướng và phát triển tốt.
1.2.2. Quy trình hình thành và phát triển của một sản phẩm:
( Product Planning and Development)
1.2.2.1. Khái niệm về sản phẩm mới:
Theo quan điểm trong Marketing, sản phẩm mới có thể là mới về
nguyên tắc. Nó có thể được cải tiến từ những sản phẩm hiện có hoặc có
những nhãn hiệu mới sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu của công ty. Một
dấu hiệu quan trọng nhất để đánh giá hàng hóa là mới hay không phải tùy
thuộc vào sự thừa nhận của khách hàng.
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ về sản phẩm mới:
Như vậy, sản phẩm mới bao gồm:
- Các sản phẩm mới do phát minh, sáng kiến để đáp ứng một nhu cầu
hoàn toàn mới
- Sản phẩm mới được cải tiến, hoàn thiện từ sản phẩm hiện có.
- Sản phẩm bổ sung cho các sản phẩm hiện có để tạo ra sản phẩm mới.
- Sản phẩm hiện có nhưng được sản xuất bằng kỹ thuật mới, có khả
năng làm hạ thấp chi phí.
- Những sản phẩm cũ được tiêu thụ tại thị trường mới ( người ta thường
nói: Cũ người mới ta)
- Các sản phẩm cũ nhưng qua các biện pháp marketing đã trở thành
những sản phẩm mới ( rượu cũ, bình mới).
- Các chuyên gia marketing đã tổng kết trên thực tế chỉ có 10% số sản
phẩm mới là mới thực sự hoặc có đổi mới
Nguyễn Thị Ngọc Mai Lớp: Du lịch 45B
14
Sản phẩm
Thị
trường
Giới thiệu sản
phẩm mới tại
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm hiện tại ở
thị trường mới
Giới thiệu sản
phẩm mới ở thị
trường hiện tại
Thay đổi sản
phẩm hiện tại ở
thị trường hiện
tại
Mới
Hiện
tại
Mới Hiện tại
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu 2
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
CHƯƠNG II
SQL
MỤC ĐÍCH
Giới thiệu một hệ CSDL chuẩn, SQL, các thành phần cơ bản của của nó.
YÊU CẦU
Hiểu các thành phần cơ bản của SQL-92
Hiểu và vận dụng phương pháp "dịch" từ câu vấn tin trong ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn
ngữ SQL và ngược lại
Hiểu và vận dụng cách thêm (xen), xóa dữ liệu
SQL là ngôn ngữ CSDL quan hệ chuẩn, gốc của nó được gọi là Sequel. SQL là viết tắt của
Structured Query Language. Có nhiều phiên bản của SQL. Phiên bản được trình bày trong giáo
trình này là phiên bản chuẩn SQL-92.
SQL có các phần sau:
• Ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu (DDL). DDL của SQL cung cấp các lệnh để định nghĩa
các sơ đồ quan hệ, xoá các quan hệ, tạo các chỉ mục, sủa đổi các sơ đồ quan hệ
• Ngôn ngữ thao tác dữ liệu tương tác (Interactive DML). IDML bao gồm một ngôn
ngữ dựa trên cả đại số quan hệ lẫn phép tính quan hệ bộ. Nó bao hàm các lệnh xen các
bộ, xoá các bộ, sửa đổi các bộ trong CSDL
• Ngôn ngữ thao tác dữ liệu nhúng (Embedded DML). Dạng SQL nhúng được thiết
kế cho việc sử dụng bên trong các ngôn ngữ lập trình mục đích chung
(genaral-purpose programming languages) như PL/I, Cobol, Pascal, Fortran, C.
• Đinh nghĩa view. DDL SQL cũng bao hàm các lệnh để định nghĩa các view.
• Cấp quyền (Authorization). DDL SQL bao hàm cả các lệnh để xác định các quyền
truy xuất dến các quan hệ và các view
• Tính toàn vẹn (Integrity). DDL SQL chứa các lệnh để xác định các ràng buộc toàn
vẹn mà dữ liệu được lưu trữ trong CSDL phải thoả.
• Điều khiển giao dịch. SQL chứa các lệnh để xác định bắt đầu và kết thúc giao dịch,
cũng cho phép chốt tường minh dữ liệu để điều khiển cạnh tranh
CHƯƠNG II SQL
trang
18
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Các ví dụ minh hoạ cho các câu lệnh SQL được thực hiện trên các sơ đồ quan hệ sau:
• Branch_schema = (Branch_name, Branch_city, Assets): Sơ đồ quan hệ chi
nhánh nhà băng gồm các thuộc tính Tên chi nhánh (Branch_name), Thành phố
(Branch_city), tài sản (Assets)
• Customer_schema = (Customer_name, Customer_street, Customer_city): Sơ đồ
quan hệ Khách hàng gồm các thuộc tính Tên khách hàng
(Customer_name), phố (Customer_street), thành phố (Customer_city)
• Loan_schema = (Branch_name, loan_number, amount): Sơ đồ quan hệ cho vay
gồm các thuộc tính Tên chi nhánh, số cho vay (Loan_number), số lượng (Amount)
• Borrower_schema = (Customer_name, loan_number): Sơ đồ quan hệ người mượn
gồm các thuộc tính Tên khách hàng, số cho vay
• Account_schema = (Branch_name, account_number, balance): Sơ đồ quan hệ tài
khoản gồm các thuộc tính Tên chi nhánh, số tài khoản (Account_number), số cân đối
(Balance: dư nợ/có)
• Depositor_schema = (Customer_name, account_number): Sơ đồ người gửi gồm
các thuộc tính Tên khách hàng, số tài khoản
Cấu trúc cơ sở của một biểu thức SQL gồm ba mệnh đề: SELECT, FROM và WHERE
♦ Mệnh đề SELECT tương ứng với phép chiếu trong đại số quan hệ, nó được sử dụng
để liệt kê các thuộc tính mong muốn trong kết quả của một câu vấn tin
♦ Mệnh đề FROM tương ứng với phép tích Đề các , nó nó liệt kê các quan hệ được quét
qua trong sự định trị biểu thức
♦ Mệnh đề WHERE tương ứng với vị từ chọn lọc, nó gồm một vị từ chứa các thuộc tính
của các quan hệ xuất hiện sau FROM
Một câu vấn tin kiểu mẫu có dạng:
SELECT A
1
, A
2
, , A
k
FROM R
1
, R
2
, , R
m
WHERE P
trong đó A
i
là các thuộc tính (Attribute), R
j
là các quan hệ (Relation) và P là một vị từ (Predicate).
Nếu thiếu WHERE vị từ P là TRUE.
Kết quả của một câu vấn tin SQL là một quan hệ.
MỆNH ĐỀ SELECT
Ta tìm hiểu mệnh đề SELECT bằng cách xét một vài ví dụ:
"Tìm kiếm tất cả các tên các chi nhánh trong quan hệ cho vay (loan)":
SELECT Branch_name
FROM Loan;
Kết quả là một quan hệ gồm một thuộc tính Tên chi nhánh (Branch_name)
Nếu muốn quan hệ kết quả không chứa các tên chi nhánh trùng nhau:
SELECT DISTINCT Branch_name
FROME Loan;
Từ khoá ALL được sử dụng để xác định tường minh rằng các giá trị trùng không bị xoá và nó là
mặc nhiên của mệnh đề SELECT.
Ký tự * được dùng để chỉ tất cả các thuộc tính:
SELECT *
FROM Loan;
CHƯƠNG II SQL
trang
19
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Sau mệnh đề SELECT cho phép các biểu thức số học gồm các phép toán +, -, *, / trên các hằng
hoặc các thuộc tính:
SELECT Branch_name, Loan_number, amount * 100
FROM Loan;
MỆNH ĐỀ WHERE
“Tìm tất cả các số cho vay ở chi nhánh tên Perryridge với số lượng vay lớn hơn1200$"
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’ AND Amount > 1200;
SQL sử dụng các phép nối logic: NOT, AND, OR. Các toán hạng của các phép nối logic có thể là
các biểu thức chứa các toán tử so sánh =, >=, <>, <, <=.
Toán tử so sánh BETWEEN được dùng để chỉ các giá trị nằm trong một khoảng:
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount BETWEEN 50000 AND 100000;
≈ SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount >= 50000 AND Amount <= 100000;
Ta cũng có thể sử dụng toán tử NOT BETWEEN.
MỆNH ĐỀ FROM
"Trong tất cả các khách hàng có vay ngân hàng tìm tên và số cho vay của họ"
SELECT DISTINCT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number;
SQL sử dụng cách viết <tên quan hệ >.< tên thuộc tính > để che dấu tính lập lờ trong trường hợp
tên thuộc tính trong các sơ đồ quan hệ trùng nhau.
"Tìm các tên và số cho vay của tất cả các khách hàng có vay ở chi nhánh Perryridge"
SELECT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
CÁC PHÉP ĐỔI TÊN
SQL cung cấp một cơ chế đổi tên cả tên quan hệ lẫn tên thuộc tính bằng mệnh đề dạng:
< tên cũ > AS < tên mới >
mà nó có thể xuất hiện trong cả mệnh đề SELECT lẫn FROM
SELECT DISTINCT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
Kết quả của câu vấn tin này là một quan hệ hai thuộc tính: Customer_name, Loan_number
Đổi tên thuộc tính của quan hệ kết quả:
SELECT Customer_name, Borrower.Loan_number AS Loan_Id
FROM Borrower, Loan
CHƯƠNG II SQL
trang
20
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
CÁC BIẾN BỘ (Tuple Variables)
Các biến bộ được định nghĩa trong mệnh đề FROM thông qua sử dụng mệnh đề AS:
SELECT DISTINCT Customer_name, T.Loan_number
FROM Borrower AS T, Loan AS S
WHERE T.Loan_number = S.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
“Tìm các tên của tất cả các chi nhánh có tài sản lớn hơn ít nhất một chi nhánh ở Brooklyn“
SELECT DISTINCT T.branch_name
FROM Branch AS T, Banch AS S
WHERE T.assets > S.assets AND S.Branch_City = ‘Brooklyn’
SQL92 cho phép sử dụng các viết (v
1
, v
2
, , vn) để ký hiệu một n-bộ với các giá trị v
1
, v
2
, , vn.
Các toán tử so sánh có thể được sử dụng trên các n-bộ và theo thứ tự tự điển. Ví dụ (a1, b1) <=
(a2, b2) là đúng nếu (a
1
< b
1
) OR ((a
1
= b
1
) AND (a
2
< b
2
)).
CÁC PHÉP TOÁN TRÊN CHUỖI
Các phép toán thường được dùng nhất trên các chuỗi là phép đối chiếu mẫu sử dụng toán tử
LIKE. Ta mô tả các mẫu dùng hai ký tự đặc biệt:
ký tự phần trăm (%): ký tự % tương xứng với chuỗi con bất kỳ
ký tự gạch nối (_): ký tự gạch nối tương xứng với ký tự bất kỳ.
- ‘Perry%’ tương xứng với bất kỳ chuỗi nào bắt đầu bởi ‘Perry’
- ‘%idge%’ tương xứng với bất kỳ chuỗi nào chứa ‘idge’ như chuỗi con
- ‘___’ tương xứng với chuỗi bất kỳ có đúng ba ký tự
- ‘___%’ tương xứng với chuỗi bất kỳ có ít nhất ba ký tự
"Tìm tên của tất cả các khách hàng tên phố của họ chứa chuỗi con ‘Main’
SELECT Customer_name
FROM Customer
WHERE Customer_street LIKE ‘%Main%’
Nếu trong chuỗi mẫu có chứa các ký tự % _ \ , để tránh nhầm lẫn ký tự với"dấu hiệu thay thế",
SQL sử dụng cách viết: ký tự escape (\) đứng ngay trước ký tự"đặc biệt". Ví dụ nếu chuỗi mẫu là
ab%cd được viết là ‘ab\%cd’, chuỗi mẫu là ab_cde được viết là ‘ab\_cde’, chuỗi mẫu là ab\cd
được viết là ‘ab\\cd’
SQL cho phép đối chiếu không tương xứng bằng cách sử dụng NOT LIKE
SQL cũng cho phép các hàm trên chuỗi: nối hai chuỗi (|), trích ra một chuỗi con, tìm độ dài chuỗi,
biến đổi một chuỗi chữ thường sang chuỗi chữ hoa và ngược lại
THỨ TỰ TRÌNH BÀY CÁC BỘ (dòng)
Mệnh đề ORDER BY tạo ra sự trình bày các dòng kết quả của một câu vấn tin theo một trình tự.
Để liết kê theo thứ tự alphabet tất cả các khách hàng có vay ở chi nhánh Perryridge:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = ‘Perryridge’
ORDER BY Customer_name;
CHƯƠNG II SQL
trang
21
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Mặc nhiên, mệnh đề ORDER BY liệt kê theo thứ tự tăng, tuy nhiên ta có thể làm liệt kê theo thứ
tự giảm/tăng bằng cách chỉ rõ bởi từ khoá DESC/ ASC
SELECT *
FROM Loan
ORDER BY Amount DESC, Loan_number ASC;
CÁC PHÉP TOÁN TẬP HỢP
SQL92 có các phép toán UNION, INTERSECT, EXCEPT chúng hoạt động giống như các phép
toán hợp, giao, hiệu trong đại số quan hệ. Các quan hệ tham gia vào các phép toán này phải tương
thích (có cùng tập các thuộc tính).
- Phép toán UNION
“tìm kiếm tất cả các khách hàng có vay, có tài khoản hoặc cả hai ở ngân hàng”
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
UNION
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
Phép toán hợp UNION tự động loại bỏ các bộ trùng, nếu ta muốn giữ lại các bộ trùng ta phải sử
dụng UNION ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
UNION ALL
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
- Phép toán INTERSECT
“tìm kiếm tất cả các khách hàng có vay và cả một tài khoản tại ngân hàng”
(SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Depositor)
INTERSECT
(SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower);
Phép toán INTERESCT tự động loại bỏ các bộ trùng, Để giữ lại các bộ trùng ta sử dụng
INTERSECT ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
INTERSECT ALL
(SELECT Customer_name FROM Borrower);
- Phép toán EXCEPT
“Tìm kiếm tất cả các khách hàng có tài khoản nhưng không có vay tại ngân hàng”
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
EXCEPT
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
EXCEPT tự động loại bỏ các bộ trùng, nếu muốn giữ lại các bộ trùng phải dùng EXCEPT ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
EXCEPT ALL
CHƯƠNG II SQL
trang
22
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
CÁC HÀM TÍNH GỘP
SQL có các hàm tính gộp (aggregate functions):
- Tính trung bình (Average): AVG()
- Tính min : MIN()
- Tính max: MAX()
- Tính tổng: SUM()
- Đếm: COUNT()
Đối số của các hàm AVG và SUM phải là kiểu dữ liệu số
"Tìm số cân đối tài khoản trung bình tại chi nhánh Perryridge”
SELECT AGV(balace)
FROM Account
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’;
SQL sử dụng mệnh để GROUP BY vào mục đích nhóm các bộ có cùng giá trị trên các thuộc tính
nào đó
"Tìm số cân đối tài khoản trung bình tại mỗi chi nhánh ngân hàng”
SELECT Branch_name, AVG(balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name;
“Tìm số các người gửi tiền đối với mỗi chi nhánh ngân hàng”
SELECT Branch_name, COUNT(DISTINCT Customer_name)
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number = Account.Acount_number
GROUP BY Branch_name
Giả sử ta muốn liệt kê các chi nhánh ngân hàng có số cân đối trung bình lớn hơn 1200$. Điều kiện
này không áp dụng trên từng bộ, nó áp dụng trên từng nhóm. Để thực hiện được điều này ta sử
dụng mệnh đề HAVING của SQL
SELECT Branch_name, AVG(balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name
HAVING AGV(Balance) > 1200$;
Vị từ trong mệnh đề HAVING được áp dụng sau khi tạo nhóm, như vậy hàm AVG có thể được sử
dụng
“Tìm số cân đối đối với tất cả các tài khoản”
SELECT AVG(Balance) FROM Account;
“Đếm số bộ trong quan hệ Customer”
SELECT Count(*) FROM Customer;
SQL không cho phép sử dụng DISTINCT với COUNT(*), nhưng cho phép sử dụng DISTINCT
với MIN và MAX.
Nếu WHERE và HAVING có trong cùng một câu vấn tin, vị từ sau WHERE được áp dụng trước.
Các bộ thoả mãn vị từ WHERE được xếp vào trong nhóm bởi GROUP BY, mệnh đề HAVING
(nếu có) khi đó được áp dụng trên mỗi nhóm. Các nhóm không thoả mãn mệnh đề HAVING sẽ bị
xoá bỏ.
“Tìm số cân đối trung bình đối với mỗi khách hàng sống ở Harrison và có ít nhất ba tài
khoản”
SELECT Depositor.Customer_name, AVG(Balance)
CHƯƠNG II SQL
trang
23
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
FROM Depositor, Account, Customer
WHERE Depositor.Account_number = Account.Account_number AND
Depositor.Customer_name = Customer.Customer_name AND
Customer.city =’Harrison’
GROUP BY Depositor.Customer_name
HAVING COUNT(DISTINT Depositor.Account_number) >= 3;
CÁC GIÁ TRỊ NULL
SQL cho phép sử dụng các giá trị null để chỉ sự vắng mặt thông tin tạm thời về giá trị của một
thuộc tính. Ta có thể sử dụng từ khoá đặc biệt null trong vị từ để thử một giá trị null.
"Tìm tìm tất cả các số vay trong quan hệ Loan với giá trị Amount là null"
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount is null
Vị từ not null thử các giá trị không rỗng
Sử dụng giá trị null trong các biểu thức số học và các biểu thức so sánh gây ra một số phiền phức.
Kết quả của một biểu thức số học là null nếu một giá trị input bất kỳ là null. Kết quả của một biểu
thức so sánh chứa một giá trị null có thể được xem là false. SQL92 xử lý kết quả của một phép so
sánh như vậy như là một giá trị unknown, là một giá trị không là true mà cũng không là false.
SQL92 cũng cho phép thử kết quả của một phép so sánh là unknown hay không. Tuy nhiên, trong
hầu khắp các trường hợp, unknown được xử lý hoàn toàn giống như false.
Sự tồn tại của các giá trị null cũng làm phức tạp việc sử lý các toán tử tính gộp. Giả sử một vài bộ
trong quan hệ Loan có các giá trị null trên trường Amount. Ta xét câu vấn tin sau:
SELECT SUM(Amount)
FROM LOAN
Các giá trị được lấy tổng trong câu vấn tin bao hàm cả các trị null. Thay vì tổng là null, SQL
chuẩn thực hiện phép tính tổng bằng cách bỏ qua các giá trị input là null.
Nói chung, các hàm tính gộp tuân theo các quy tắc sau khi xử lý các giá trị null: Tất cả các hàm
tính gộp ngoại trừ COUNT(*) bỏ qua các giá trị input null. Khi các giá trị nul bị bỏ qua, tập các
giá trị input có thể là rõng. COUNT() của một tập rỗng được định nghĩa là 0. Tất cả các hàm tính
gộp khác trả lại giá trị null khi áp dụng trên tập hợp input rỗng.
CÁC CÂU VẤN TIN CON LỒNG NHAU (Nested
Subqueries)
SQL cung cấp một cơ chế lòng nhau của các câu vấn tin con. Một câu vấn tin con là một biểu
thức SELECT-FROM-WHERE được lồng trong một caau vấn tin khác. Các câu vấn tin con
thường được sử dụng để thử quan hệ thành viên tập hợp, so sánh tập hợp và bản số tập hợp.
QUAN HỆ THÀNH VIÊN TẬP HỢP (Set relationship)
SQL đưa vào các phép tính quan hệ các phép toán cho phép thử các bộ có thuộc một quan hệ nào
đó hay không. Liên từ IN thử quan hệ thành viên này. Liên từ NOT IN thử quan hệ không là
thành viên.
"Tìm tất cả các khách hàng có cả vay lẫn một tài khoản tại ngân hàng"
Ta đã sử dụng INTERSECTION để viết câu vấn tin này. Ta có thể viết câu vấn tin này bằng các
sử dụng IN như sau:
SELECT DISTINCT Customer_name
CHƯƠNG II SQL
trang
24
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
FROM Borrower
WHERE Customer_name IN ( SELECT Customer_name
FROM Depositor)
Ví dụ này thử quan hệ thành viên trong một quan hệ một thuộc tính. SQL92 cho phép thử quan hệ
thành viên trên một quan hệ bất kỳ.
"Tìm tất cả các khách hàng có cả vay lãn một tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
Ta có thể viết câu truy vấn như sau:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower. Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = 'Perryridge' AND
(Branch_name. Customer_name IN
(SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number =
Account.Account_number )
"Tìm tất cả các khách hàng có vay ngân hàng nhưng không có tài khoản tại ngân hàng"
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM borrower
WHERE Customer_name NOT IN ( SELECT Customer_name
FROM Depositor)
Các phép toán IN và NOT IN cũng có thể được sử dụng trên các tập hợp liệt kê:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM borrower
WHERE Customer_name NOT IN ('Smith', 'Jone')
SO SÁNH TẬP HỢP (Set Comparision)
"Tìm tên của tất cả các chi nhánh có tài sản lớn hơn ít nhất một chi nhánh đóng tại Brooklyn"
SELECT DISTINCT Branch_name
FROM Branch AS T, Branch AS S
WHERE T.assets > S.assets AND S.branch_city = 'Brooklyn'
Ta có thể viết lại câu vấn tin này bằng cách sử dụng mệnh đề"lớn hơn ít nhất một"trong SQL
• SOME :
SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Assets > SOME ( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_city ='Brooklyn')
Câu vấn tin con
( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_city ='Brooklyn')
sinh ra tập tất cả các Assets của tất cả các chi nhánh đóng tại Brooklyn. So sánh > SOME trong
mệnh đề WHERE nhận giá trị đúng nếu giá trị Assets của bộ được xét lớn hơn ít nhất một trong
các giá trị của tập hợp này.
SQL cũng có cho phép các so sánh < SOME, >= SOME, <= SOME, = SOME, <> SOME
• ALL
"Tìm tất cả các tên của các chi nhánh có tài sản lớn hơn tài sản của bất kỳ chi nhánh nào
đóng tại Brooklyn"
CHƯƠNG II SQL
trang
25
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Assets > ALL ( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_citty = 'Brooklyn')
SQL cũng cho phép các phép so sánh: < ALL, <= ALL, > ALL, >= ALL, = ALL, <> ALL.
"Tìm chi nhánh có số cân đối trung bình lớn nhất"
SQL không cho phép hợp thành các hàm tính gộp, như vậy MAX(AVG ( )) là không được phép.
Do vậy, ta phải sử dụng câu vấn tin con như sau:
SELECT Branch_name
FROM Account
GROUP BY Branch_name
HAVING AVG (Balance) >= ALL ( SELECT AVG (balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
THỬ CÁC QUAN HỆ RỖNG
"tìm tất cả các khách hàng có cả vay lẫn tài khoản ở ngân hàng"
SELECT Customer_name
FROM Borrower
WHERE EXISTS ( SELECT *
FROM Depositor
WHERE Depositor.Customer_name = Borrower.Customer_name)
Cấu trúc EXISTS trả lại giá trị true nếu quan hệ kết quả của câu vấn tin con không rỗng. SQL
cũng cho phép sử dụng cấu trúc NOT EXISTS để kiểm tra tính không rỗng của một quan hệ.
"Tìm tất cả các khách hàng có tài khoản tại mỗi chi nhánh đóng tại Brooklyn"
SELECT DISTINCT S.Customer_name
FROM Depositor AS S
WHERE NOT EXISTS ( ( SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Branch_city = 'Brooklyn')
EXCEPT
( SELECT R.branch_name
FROM Depositor AS T, Account AS R
WHERE T.Acoount_number = R.Account_number
AND S.Customer_name = T.Customer_name) )
THỬ KHÔNG CÓ CÁC BỘ TRÙNG
SQL đưa vào cấu trúc UNIQUE để kiểm tra việc có bộ trùng trong quan hệ kết quả của một câu
vấn tin con.
"Tìm tất cả khách hàng chỉ có một tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
SELECT T.Customer_name
FROM Depositor AS T
WHERE UNIQUE ( SELECT R.Customer_name
FROM Account, Depositor AS R
WHERE T.Customer_name = R.Customer_name AND
R.Account_number = Account.Acount_number
AND Account.Branch_name = 'Perryridge')
CHƯƠNG II SQL
trang
26
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Ta có thể thử sự tồn tại của các bộ trùng trong một vấn tin con bằng cách sử dụng cấu trúc NOT
UNIQUE
"Tìm tất cả các khách hàng có ít nhất hai tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
SELECT DISTINCT T.Customer_name
FROM Account, Depositor AS T
WHERE NOT UNIQUE ( SELECT R.Customer_name
FROM Account, Depositor AS R
WHERE T.Customer_name=R.Customer_name
AND R.Account_number = Account.Account_number
AND Account.Branch_name = 'Perryridge')
UNIQUE trả lại giá rị false khi và chỉ khi quan hệ có hai bộ trùng nhau. Nếu hai bộ t
1
, t
2
có ít
nhất một trường null, phép so sánh t
1
= t
2
cho kết quả false. Do vậy UNIQUE có thể trả về giá trị
true trong khi quan hệ có nhiều bộ trùng nhau nhưng chứa trường giá trị null !
QUAN HỆ DẪN XUẤT
SQL92 cho phép một biểu thức vấn tin con được dùng trong mệnh đề FROM. Nếu biểu thức như
vậy được sử dụng, quan hệ kết quả phải được cho một cái tên và các thuộc tính có thể được đặt
tên lại (bằng mệnh đề AS)
Ví dụ câu vấn tin con:
(SELECT Branch_name, AVG(Balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
AS result (Branch_name, Avg_balace)
Sinh ra quan hệ gồm tên của tất cả các chi nhánh, và số cân đối trung bình tương ứng. Quan hệ
này được đặt tên là result với hai thuộc tính Branch_name và Avg_balance.
"Tìm số cân đối tài sản trung bình của các chi nhánh tại đó số cân đối tài khoản trung bình lớn
hơn 1200$"
SELECT Branch_name, avg_balance
FROM ( SELECT Branch_name, AVG(Balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
AS result (Branch_name, Avg_balace)
WHERE avg_balance > 1200
VIEWS
Trong SQL, để định nghĩa view ta sử dụng lệnh CREATE VIEW. Một view phải có một tên.
CREATE VIEW < tên view > AS < Biểu thức vấn tin >
"Tạo một view gồm các tên chi nhánh, tên của các khách hàng có hoặc một tài khoản hoặc vay
ở chi nhánh này"
Giả sử ta muốn đặt tên cho view này là All_customer.
CREATE VIEW All_customer AS
( SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number = Account.Account_number )
UNION
( SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number)
Tên thuộc tính của một view có thể xác định một cách tường minh như sau:
CHƯƠNG II SQL
trang
27
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
CREATE VIEW Branch_total_loan (Branch_name, Total_loan) AS
( SELECT Branch_name, sum(Amount)
FROM Loan
GROUP BY Branch_name)
Một view là một quan hệ, nó có thể tham gia vào các câu vấn tin với vai trò của một quan hệ.
SELECT Customer_name
FROM All_customer
WHERE Branch_name = 'Perryridge'
Một câu vấn tin phức tạp sẽ dễ hiểu hơn, dễ viết hơn nếu ta cấu trúc nó bằng cách phân tích nó
thành các view nhỏ hơn và sau đó tổ hợp lại.
Định nghĩa view được giữ trong CSDL đến tận khi một lệnh DROP VIEW < tên view > được gọi.
Trong chuẩn SQL 3 hiện đang được phát triển bao hàm một đề nghị hỗ trợ những view tạm không
được lưu trong CSDL.
SỬA ĐỔI CƠ SỞ DỮ LIỆU
DELETE
INSERT
UPDATE
XÓA (Delete)
Ta chỉ có thể xoá nguyên vẹn một bộ trong một quan hệ, không thể xoá các giá trị của các thuộc
tính. Biểu thức xoá trong SQL là:
DELETE FROM r
[WHERE P]
Trong đó p là một vị từ và r là một quan hệ.
Lệnh DELETE duyệt qua tất cả các bộ t trong quan hệ r, nếu P(t) là true, DELETE xoá t
khỏi r. Nếu không có mệnh đề WHERE, tất cả các bộ trong r bị xoá.
Lệnh DELETE chỉ hoạt động trên một quan hệ.
DELETE FROM Loan = Xoá tất cả các bộ của quan hệ Loan
DELETE FROM Depositor WHERE Customer_name = 'Smith'
DELETE FROM Loan
WHERE Amount BETWEEN 1300 AND 1500
DELETE FROM Account
WHERE Branch_name IN ( SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Branch_city = 'Brooklyn')
DELETE FROM Account
WHERE Balance < (SELECT AVG(Balance)
FROM Account)
XEN (Insert)
Để xen dữ liệu vào một quan hệ, ta xác định một bộ cần xen hoặc viết một câu vấn tin kết quả của
nó là một tập các bộ cần xen. Các giá trị thuộc tính của bộ cần xen phải thuộc vào miền giá trị của
thuộc tính và số thành phần của bộ phải bằng với ngôi của quan hệ.
“Xen vào quan hệ Account một bộ có số tài khoản là A-9732, số cân đối là 1200$ và tài khoản
này được mở ở chi nhánh Perryridge”
INSERT INTO Account
VALUES (‘Perryridge’, ‘A-9732’, 1200);
CHƯƠNG II SQL
trang
28
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Trong ví dụ này thự tự các giá trị thuộc tính cần xen trùng khớp với thứ tự các thuộc tính trong sơ
đồ quan hệ. SQL cho phép chỉ rõ các thuộc tính và các giá trị tương ứng cần xen:
INSERT INTO Account (Branch_name, Account_number, Balance)
VALUES (‘Perryridge’, ‘A-9732’, 1200);
INSERT INTO Account (Account_number, Balance, Branch_name)
VALUES (‘A-9732’, 1200, ‘Perryridge’);
“Cấp cho tất cả các khách hàng vay ở chi nhánh Perryridge một tài khoản với số cân đối là
200$ như một quà tặng sử dụng số vay như số tài khoản“
INSERT INTO Account
SELECT Branch_name, Loan_number, 200
FROM Loan
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’
INSERT INTO Depositor
SELECT Customer_name, Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = ‘Perryridge’
CẬP NHẬT (Update)
Câu lệnh UPDATE cho phép thay đổi giá trị thuộc tính của các bộ
“Thêm lãi hàng năm vào số cân đối với tỷ lệ lãi suất 5%”
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.05
Giả sử các tài khoản có số cân đối > 10000$ được hưởng lãi suất 6%, các tài khoản có số cân đối
nhỏ hơn hoặc bằng 10000 được hưởng lãi suất 5%
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.06
WHERE Balance > 10000
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.05
WHERE Balance <= 10000
SQL92 đưa vào cấu trúc CASE như sau:
CASE
WHEN P
1
THEN Result
1
WHEN P
2
THEN Result
2
WHEN Pn THEN Resultn
ELSE Result
0
END
trong đó P
i
là các vị từ, Result
i
là các kết quả trả về của hoạt động CASE tương ứng với vị từ P
i
đầu tiên thỏa mãn. Nếu không vị từ P
i
nào thỏa mãn CASE trả về Result
0
.
Với cấu trúc CASE như vậy ta có thể viết lại yêu cầu trên như sau:
UPDATE Account
SET Balance = CASE
WHEN Balance > 10000 THEN Balance*1.06
ELSE Balance*1.05
END
“Trả 5% lãi cho các tài khoản có số cân đối lớn hơn số cân đối trung bình”
UPDATE Account
CHƯƠNG II SQL
trang
29
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
SET Balance = Balance*1.05
WHERE Balance > SELECT AVG(Balance)
FROM Account
CÁC QUAN HỆ NỐI
SQL92 cung cấp nhiều cơ chế cho nối các quan hệ bao hàm nối có điều kiện và nối tự nhiên cũng
như các dạng của nối ngoài.
Loan INNER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Nối quan hệ Loan và quan hệ Borrower với điều kiên:
Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Quan hệ kết quả có các thuộc tính của quan hệ Loan và các thuộc tính của quan hệ Borrower (như
vậy thuộc tính Loan_number xuất hiện 2 lần trong quan hệ kết quả).
Để đổi tên quan hệ (kết quả) và các thuộc tính, ta sử dụng mệnh đề AS
Loan INNER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
AS LB(Branch, Loan_number, Amount, Cust, Cust_Loan_number)
Loan LEFT OUTER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Phép nối ngoài trái được tính như sau: Đầu tiên tính kết quả của nối trong INNER JOIN. Sau đó
đối với mỗi bộ t của quan hệ trái (Loan) không tương xứng với bộ nào trong quan hệ bên phải
(borrower) khi đó thêm vào kết quả bộ r gồm các giá trị thuộc tính trái là các giá trị thuộc tính của
t, các thuộc tính còn lại (phải) được đặt là null.
Loan NATURAL INNER JOIN Borrower
Là nối tự nhiên của quan hệ Loan và quan hệ Borrower (thuộc tính trùng tên là Loan_number).
NGÔN NGỮ ĐỊNH NGHĨA DỮ LIỆU (DDL)
DDL SQL cho phép đặc tả:
o Sơ đồ cho mỗi quan hệ
o Miền giá trị kết hợp với mỗi thuộc tính
o các ràng buộc toàn vẹn
o tập các chỉ mục được duy trì cho mỗi quan hệ
o thông tin về an toàn và quyền cho mỗi quan hệ
o cấu trúc lưu trữ vật lý của mỗi quan hệ trên đĩa
CÁC KIỂU MIỀN TRONG SQL
SQL-92 hỗ trợ nhiều kiểu miền trong đó bao hàm các kiểu sau:
o char(n) / charater: chuỗi ký tự dộ dài cố định, với độ dài n được xác định bởi
người dùng
o vachar(n) / character varying (n): chuỗi ký tự độ dài thay đổi, với độ dài tối đa
được xác dịnh bởi người dung là n
o int / integer: tập hữu hạn các số nguyên
o smallint: tập con của tập các số nguyên int
o numeric(p, d): số thực dấu chấm tĩnh gồm p chữ số (kể cả dấu) và d trong p chữ
số là các chữ số phần thập phân
o real, double precision: số thực dấu chấm động và số thực dấu chấm động chính
xác kép
o float(n): số thực dấu chấm động với độ chính xác được xác định bởi người dùng ít
nhất là n chữ số thập phân
CHƯƠNG II SQL
trang
30
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
o date: kiểu năm tháng ngày (YYYY, MM, DD)
o time: kiểu thời gian (HH, MM, SS)
SQL-92 cho phép định nghĩa miền với cú pháp:
CREATE DOMAIN < tên miền > < Type >
Ví dụ: CREATE DOMAIN hoten char(30);
Sau khi đã định nghĩa miền với tên hoten ta có thể sử dụng nó để định nghĩa kiểu của các thuộc
tính
ĐỊNH NGHĨA SƠ ĐỒ TRONG SQL.
Lệnh CREATE TABLE với cú pháp
CREATE TABLE < tên bảng > (
< Thuộc tính 1 > < miền giá trị thuộc tính 1 > ,
< Thuộc tính n > < miền giá trị thuộc tính n> ,
< ràng buộc toàn vẹn 1 > ,
< ràng buộc toàn vẹn k >)
Các ràng buộc toàn vẹn cho phép bao gồm:
primary key ( )
A
, ,
A
,
A
iii
m21
và
check(P)
Đặc tả primary key chỉ ra rằng các thuộc tính tạo nên khoá chính của quan hệ.
Mệnh đề check xác định một vị từ P mà mỗi bộ trong quan hệ phải thoả mãn.
A
, ,
A
,
A
iii
m21
Ví dụ:
CREATE TABLE customer (
customer_name CHAR(20) not null,
customer_street CHAR(30),
customer_city CHAR(30),
PRIMARY KEY(customer_name));
CREATE TABLE branch (
branch_name CHAR(15) not null,
branch_city CHAR(30),
assets INTEGER,
PRIMARY KEY (branch_name),
CHECK (assets >= 0));
CREATE TABLE account (
account_number CHAR(10) not null,
branch_name CHAR(15),
balance INTEGER,
PRIMARY KEY (account_number),
CHECK (balance >= 0));
CREATE TABLE depositor (
customer_name CHAR(20) not null,
account_number CHAR(10) not null,
PRIMARY KEY (customer_name, account_namber));
Giá trị null là giá trị hợp lệ cho mọi kiểu trong SQL. Các thuộc tính được khai báo là primary key
đòi hỏi phải là not null và duy nhất. do vậy các khai báo not null trong ví dụ trên là dư (trong
SQL-92).
CREATE TABLE student (
CHƯƠNG II SQL
trang
31
CHƯƠNG II
SQL
MỤC ĐÍCH
Giới thiệu một hệ CSDL chuẩn, SQL, các thành phần cơ bản của của nó.
YÊU CẦU
Hiểu các thành phần cơ bản của SQL-92
Hiểu và vận dụng phương pháp "dịch" từ câu vấn tin trong ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn
ngữ SQL và ngược lại
Hiểu và vận dụng cách thêm (xen), xóa dữ liệu
SQL là ngôn ngữ CSDL quan hệ chuẩn, gốc của nó được gọi là Sequel. SQL là viết tắt của
Structured Query Language. Có nhiều phiên bản của SQL. Phiên bản được trình bày trong giáo
trình này là phiên bản chuẩn SQL-92.
SQL có các phần sau:
• Ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu (DDL). DDL của SQL cung cấp các lệnh để định nghĩa
các sơ đồ quan hệ, xoá các quan hệ, tạo các chỉ mục, sủa đổi các sơ đồ quan hệ
• Ngôn ngữ thao tác dữ liệu tương tác (Interactive DML). IDML bao gồm một ngôn
ngữ dựa trên cả đại số quan hệ lẫn phép tính quan hệ bộ. Nó bao hàm các lệnh xen các
bộ, xoá các bộ, sửa đổi các bộ trong CSDL
• Ngôn ngữ thao tác dữ liệu nhúng (Embedded DML). Dạng SQL nhúng được thiết
kế cho việc sử dụng bên trong các ngôn ngữ lập trình mục đích chung
(genaral-purpose programming languages) như PL/I, Cobol, Pascal, Fortran, C.
• Đinh nghĩa view. DDL SQL cũng bao hàm các lệnh để định nghĩa các view.
• Cấp quyền (Authorization). DDL SQL bao hàm cả các lệnh để xác định các quyền
truy xuất dến các quan hệ và các view
• Tính toàn vẹn (Integrity). DDL SQL chứa các lệnh để xác định các ràng buộc toàn
vẹn mà dữ liệu được lưu trữ trong CSDL phải thoả.
• Điều khiển giao dịch. SQL chứa các lệnh để xác định bắt đầu và kết thúc giao dịch,
cũng cho phép chốt tường minh dữ liệu để điều khiển cạnh tranh
CHƯƠNG II SQL
trang
18
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Các ví dụ minh hoạ cho các câu lệnh SQL được thực hiện trên các sơ đồ quan hệ sau:
• Branch_schema = (Branch_name, Branch_city, Assets): Sơ đồ quan hệ chi
nhánh nhà băng gồm các thuộc tính Tên chi nhánh (Branch_name), Thành phố
(Branch_city), tài sản (Assets)
• Customer_schema = (Customer_name, Customer_street, Customer_city): Sơ đồ
quan hệ Khách hàng gồm các thuộc tính Tên khách hàng
(Customer_name), phố (Customer_street), thành phố (Customer_city)
• Loan_schema = (Branch_name, loan_number, amount): Sơ đồ quan hệ cho vay
gồm các thuộc tính Tên chi nhánh, số cho vay (Loan_number), số lượng (Amount)
• Borrower_schema = (Customer_name, loan_number): Sơ đồ quan hệ người mượn
gồm các thuộc tính Tên khách hàng, số cho vay
• Account_schema = (Branch_name, account_number, balance): Sơ đồ quan hệ tài
khoản gồm các thuộc tính Tên chi nhánh, số tài khoản (Account_number), số cân đối
(Balance: dư nợ/có)
• Depositor_schema = (Customer_name, account_number): Sơ đồ người gửi gồm
các thuộc tính Tên khách hàng, số tài khoản
Cấu trúc cơ sở của một biểu thức SQL gồm ba mệnh đề: SELECT, FROM và WHERE
♦ Mệnh đề SELECT tương ứng với phép chiếu trong đại số quan hệ, nó được sử dụng
để liệt kê các thuộc tính mong muốn trong kết quả của một câu vấn tin
♦ Mệnh đề FROM tương ứng với phép tích Đề các , nó nó liệt kê các quan hệ được quét
qua trong sự định trị biểu thức
♦ Mệnh đề WHERE tương ứng với vị từ chọn lọc, nó gồm một vị từ chứa các thuộc tính
của các quan hệ xuất hiện sau FROM
Một câu vấn tin kiểu mẫu có dạng:
SELECT A
1
, A
2
, , A
k
FROM R
1
, R
2
, , R
m
WHERE P
trong đó A
i
là các thuộc tính (Attribute), R
j
là các quan hệ (Relation) và P là một vị từ (Predicate).
Nếu thiếu WHERE vị từ P là TRUE.
Kết quả của một câu vấn tin SQL là một quan hệ.
MỆNH ĐỀ SELECT
Ta tìm hiểu mệnh đề SELECT bằng cách xét một vài ví dụ:
"Tìm kiếm tất cả các tên các chi nhánh trong quan hệ cho vay (loan)":
SELECT Branch_name
FROM Loan;
Kết quả là một quan hệ gồm một thuộc tính Tên chi nhánh (Branch_name)
Nếu muốn quan hệ kết quả không chứa các tên chi nhánh trùng nhau:
SELECT DISTINCT Branch_name
FROME Loan;
Từ khoá ALL được sử dụng để xác định tường minh rằng các giá trị trùng không bị xoá và nó là
mặc nhiên của mệnh đề SELECT.
Ký tự * được dùng để chỉ tất cả các thuộc tính:
SELECT *
FROM Loan;
CHƯƠNG II SQL
trang
19
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Sau mệnh đề SELECT cho phép các biểu thức số học gồm các phép toán +, -, *, / trên các hằng
hoặc các thuộc tính:
SELECT Branch_name, Loan_number, amount * 100
FROM Loan;
MỆNH ĐỀ WHERE
“Tìm tất cả các số cho vay ở chi nhánh tên Perryridge với số lượng vay lớn hơn1200$"
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’ AND Amount > 1200;
SQL sử dụng các phép nối logic: NOT, AND, OR. Các toán hạng của các phép nối logic có thể là
các biểu thức chứa các toán tử so sánh =, >=, <>, <, <=.
Toán tử so sánh BETWEEN được dùng để chỉ các giá trị nằm trong một khoảng:
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount BETWEEN 50000 AND 100000;
≈ SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount >= 50000 AND Amount <= 100000;
Ta cũng có thể sử dụng toán tử NOT BETWEEN.
MỆNH ĐỀ FROM
"Trong tất cả các khách hàng có vay ngân hàng tìm tên và số cho vay của họ"
SELECT DISTINCT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number;
SQL sử dụng cách viết <tên quan hệ >.< tên thuộc tính > để che dấu tính lập lờ trong trường hợp
tên thuộc tính trong các sơ đồ quan hệ trùng nhau.
"Tìm các tên và số cho vay của tất cả các khách hàng có vay ở chi nhánh Perryridge"
SELECT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
CÁC PHÉP ĐỔI TÊN
SQL cung cấp một cơ chế đổi tên cả tên quan hệ lẫn tên thuộc tính bằng mệnh đề dạng:
< tên cũ > AS < tên mới >
mà nó có thể xuất hiện trong cả mệnh đề SELECT lẫn FROM
SELECT DISTINCT Customer_name, Borrower.Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
Kết quả của câu vấn tin này là một quan hệ hai thuộc tính: Customer_name, Loan_number
Đổi tên thuộc tính của quan hệ kết quả:
SELECT Customer_name, Borrower.Loan_number AS Loan_Id
FROM Borrower, Loan
CHƯƠNG II SQL
trang
20
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
CÁC BIẾN BỘ (Tuple Variables)
Các biến bộ được định nghĩa trong mệnh đề FROM thông qua sử dụng mệnh đề AS:
SELECT DISTINCT Customer_name, T.Loan_number
FROM Borrower AS T, Loan AS S
WHERE T.Loan_number = S.Loan_number AND
Branch_name =’Perryridge’;
“Tìm các tên của tất cả các chi nhánh có tài sản lớn hơn ít nhất một chi nhánh ở Brooklyn“
SELECT DISTINCT T.branch_name
FROM Branch AS T, Banch AS S
WHERE T.assets > S.assets AND S.Branch_City = ‘Brooklyn’
SQL92 cho phép sử dụng các viết (v
1
, v
2
, , vn) để ký hiệu một n-bộ với các giá trị v
1
, v
2
, , vn.
Các toán tử so sánh có thể được sử dụng trên các n-bộ và theo thứ tự tự điển. Ví dụ (a1, b1) <=
(a2, b2) là đúng nếu (a
1
< b
1
) OR ((a
1
= b
1
) AND (a
2
< b
2
)).
CÁC PHÉP TOÁN TRÊN CHUỖI
Các phép toán thường được dùng nhất trên các chuỗi là phép đối chiếu mẫu sử dụng toán tử
LIKE. Ta mô tả các mẫu dùng hai ký tự đặc biệt:
ký tự phần trăm (%): ký tự % tương xứng với chuỗi con bất kỳ
ký tự gạch nối (_): ký tự gạch nối tương xứng với ký tự bất kỳ.
- ‘Perry%’ tương xứng với bất kỳ chuỗi nào bắt đầu bởi ‘Perry’
- ‘%idge%’ tương xứng với bất kỳ chuỗi nào chứa ‘idge’ như chuỗi con
- ‘___’ tương xứng với chuỗi bất kỳ có đúng ba ký tự
- ‘___%’ tương xứng với chuỗi bất kỳ có ít nhất ba ký tự
"Tìm tên của tất cả các khách hàng tên phố của họ chứa chuỗi con ‘Main’
SELECT Customer_name
FROM Customer
WHERE Customer_street LIKE ‘%Main%’
Nếu trong chuỗi mẫu có chứa các ký tự % _ \ , để tránh nhầm lẫn ký tự với"dấu hiệu thay thế",
SQL sử dụng cách viết: ký tự escape (\) đứng ngay trước ký tự"đặc biệt". Ví dụ nếu chuỗi mẫu là
ab%cd được viết là ‘ab\%cd’, chuỗi mẫu là ab_cde được viết là ‘ab\_cde’, chuỗi mẫu là ab\cd
được viết là ‘ab\\cd’
SQL cho phép đối chiếu không tương xứng bằng cách sử dụng NOT LIKE
SQL cũng cho phép các hàm trên chuỗi: nối hai chuỗi (|), trích ra một chuỗi con, tìm độ dài chuỗi,
biến đổi một chuỗi chữ thường sang chuỗi chữ hoa và ngược lại
THỨ TỰ TRÌNH BÀY CÁC BỘ (dòng)
Mệnh đề ORDER BY tạo ra sự trình bày các dòng kết quả của một câu vấn tin theo một trình tự.
Để liết kê theo thứ tự alphabet tất cả các khách hàng có vay ở chi nhánh Perryridge:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = ‘Perryridge’
ORDER BY Customer_name;
CHƯƠNG II SQL
trang
21
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Mặc nhiên, mệnh đề ORDER BY liệt kê theo thứ tự tăng, tuy nhiên ta có thể làm liệt kê theo thứ
tự giảm/tăng bằng cách chỉ rõ bởi từ khoá DESC/ ASC
SELECT *
FROM Loan
ORDER BY Amount DESC, Loan_number ASC;
CÁC PHÉP TOÁN TẬP HỢP
SQL92 có các phép toán UNION, INTERSECT, EXCEPT chúng hoạt động giống như các phép
toán hợp, giao, hiệu trong đại số quan hệ. Các quan hệ tham gia vào các phép toán này phải tương
thích (có cùng tập các thuộc tính).
- Phép toán UNION
“tìm kiếm tất cả các khách hàng có vay, có tài khoản hoặc cả hai ở ngân hàng”
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
UNION
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
Phép toán hợp UNION tự động loại bỏ các bộ trùng, nếu ta muốn giữ lại các bộ trùng ta phải sử
dụng UNION ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
UNION ALL
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
- Phép toán INTERSECT
“tìm kiếm tất cả các khách hàng có vay và cả một tài khoản tại ngân hàng”
(SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Depositor)
INTERSECT
(SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower);
Phép toán INTERESCT tự động loại bỏ các bộ trùng, Để giữ lại các bộ trùng ta sử dụng
INTERSECT ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
INTERSECT ALL
(SELECT Customer_name FROM Borrower);
- Phép toán EXCEPT
“Tìm kiếm tất cả các khách hàng có tài khoản nhưng không có vay tại ngân hàng”
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
EXCEPT
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
EXCEPT tự động loại bỏ các bộ trùng, nếu muốn giữ lại các bộ trùng phải dùng EXCEPT ALL
(SELECT Customer_name
FROM Depositor)
EXCEPT ALL
CHƯƠNG II SQL
trang
22
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
(SELECT Customer_name
FROM Borrower);
CÁC HÀM TÍNH GỘP
SQL có các hàm tính gộp (aggregate functions):
- Tính trung bình (Average): AVG()
- Tính min : MIN()
- Tính max: MAX()
- Tính tổng: SUM()
- Đếm: COUNT()
Đối số của các hàm AVG và SUM phải là kiểu dữ liệu số
"Tìm số cân đối tài khoản trung bình tại chi nhánh Perryridge”
SELECT AGV(balace)
FROM Account
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’;
SQL sử dụng mệnh để GROUP BY vào mục đích nhóm các bộ có cùng giá trị trên các thuộc tính
nào đó
"Tìm số cân đối tài khoản trung bình tại mỗi chi nhánh ngân hàng”
SELECT Branch_name, AVG(balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name;
“Tìm số các người gửi tiền đối với mỗi chi nhánh ngân hàng”
SELECT Branch_name, COUNT(DISTINCT Customer_name)
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number = Account.Acount_number
GROUP BY Branch_name
Giả sử ta muốn liệt kê các chi nhánh ngân hàng có số cân đối trung bình lớn hơn 1200$. Điều kiện
này không áp dụng trên từng bộ, nó áp dụng trên từng nhóm. Để thực hiện được điều này ta sử
dụng mệnh đề HAVING của SQL
SELECT Branch_name, AVG(balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name
HAVING AGV(Balance) > 1200$;
Vị từ trong mệnh đề HAVING được áp dụng sau khi tạo nhóm, như vậy hàm AVG có thể được sử
dụng
“Tìm số cân đối đối với tất cả các tài khoản”
SELECT AVG(Balance) FROM Account;
“Đếm số bộ trong quan hệ Customer”
SELECT Count(*) FROM Customer;
SQL không cho phép sử dụng DISTINCT với COUNT(*), nhưng cho phép sử dụng DISTINCT
với MIN và MAX.
Nếu WHERE và HAVING có trong cùng một câu vấn tin, vị từ sau WHERE được áp dụng trước.
Các bộ thoả mãn vị từ WHERE được xếp vào trong nhóm bởi GROUP BY, mệnh đề HAVING
(nếu có) khi đó được áp dụng trên mỗi nhóm. Các nhóm không thoả mãn mệnh đề HAVING sẽ bị
xoá bỏ.
“Tìm số cân đối trung bình đối với mỗi khách hàng sống ở Harrison và có ít nhất ba tài
khoản”
SELECT Depositor.Customer_name, AVG(Balance)
CHƯƠNG II SQL
trang
23
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
FROM Depositor, Account, Customer
WHERE Depositor.Account_number = Account.Account_number AND
Depositor.Customer_name = Customer.Customer_name AND
Customer.city =’Harrison’
GROUP BY Depositor.Customer_name
HAVING COUNT(DISTINT Depositor.Account_number) >= 3;
CÁC GIÁ TRỊ NULL
SQL cho phép sử dụng các giá trị null để chỉ sự vắng mặt thông tin tạm thời về giá trị của một
thuộc tính. Ta có thể sử dụng từ khoá đặc biệt null trong vị từ để thử một giá trị null.
"Tìm tìm tất cả các số vay trong quan hệ Loan với giá trị Amount là null"
SELECT Loan_number
FROM Loan
WHERE Amount is null
Vị từ not null thử các giá trị không rỗng
Sử dụng giá trị null trong các biểu thức số học và các biểu thức so sánh gây ra một số phiền phức.
Kết quả của một biểu thức số học là null nếu một giá trị input bất kỳ là null. Kết quả của một biểu
thức so sánh chứa một giá trị null có thể được xem là false. SQL92 xử lý kết quả của một phép so
sánh như vậy như là một giá trị unknown, là một giá trị không là true mà cũng không là false.
SQL92 cũng cho phép thử kết quả của một phép so sánh là unknown hay không. Tuy nhiên, trong
hầu khắp các trường hợp, unknown được xử lý hoàn toàn giống như false.
Sự tồn tại của các giá trị null cũng làm phức tạp việc sử lý các toán tử tính gộp. Giả sử một vài bộ
trong quan hệ Loan có các giá trị null trên trường Amount. Ta xét câu vấn tin sau:
SELECT SUM(Amount)
FROM LOAN
Các giá trị được lấy tổng trong câu vấn tin bao hàm cả các trị null. Thay vì tổng là null, SQL
chuẩn thực hiện phép tính tổng bằng cách bỏ qua các giá trị input là null.
Nói chung, các hàm tính gộp tuân theo các quy tắc sau khi xử lý các giá trị null: Tất cả các hàm
tính gộp ngoại trừ COUNT(*) bỏ qua các giá trị input null. Khi các giá trị nul bị bỏ qua, tập các
giá trị input có thể là rõng. COUNT() của một tập rỗng được định nghĩa là 0. Tất cả các hàm tính
gộp khác trả lại giá trị null khi áp dụng trên tập hợp input rỗng.
CÁC CÂU VẤN TIN CON LỒNG NHAU (Nested
Subqueries)
SQL cung cấp một cơ chế lòng nhau của các câu vấn tin con. Một câu vấn tin con là một biểu
thức SELECT-FROM-WHERE được lồng trong một caau vấn tin khác. Các câu vấn tin con
thường được sử dụng để thử quan hệ thành viên tập hợp, so sánh tập hợp và bản số tập hợp.
QUAN HỆ THÀNH VIÊN TẬP HỢP (Set relationship)
SQL đưa vào các phép tính quan hệ các phép toán cho phép thử các bộ có thuộc một quan hệ nào
đó hay không. Liên từ IN thử quan hệ thành viên này. Liên từ NOT IN thử quan hệ không là
thành viên.
"Tìm tất cả các khách hàng có cả vay lẫn một tài khoản tại ngân hàng"
Ta đã sử dụng INTERSECTION để viết câu vấn tin này. Ta có thể viết câu vấn tin này bằng các
sử dụng IN như sau:
SELECT DISTINCT Customer_name
CHƯƠNG II SQL
trang
24
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
FROM Borrower
WHERE Customer_name IN ( SELECT Customer_name
FROM Depositor)
Ví dụ này thử quan hệ thành viên trong một quan hệ một thuộc tính. SQL92 cho phép thử quan hệ
thành viên trên một quan hệ bất kỳ.
"Tìm tất cả các khách hàng có cả vay lãn một tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
Ta có thể viết câu truy vấn như sau:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower. Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = 'Perryridge' AND
(Branch_name. Customer_name IN
(SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number =
Account.Account_number )
"Tìm tất cả các khách hàng có vay ngân hàng nhưng không có tài khoản tại ngân hàng"
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM borrower
WHERE Customer_name NOT IN ( SELECT Customer_name
FROM Depositor)
Các phép toán IN và NOT IN cũng có thể được sử dụng trên các tập hợp liệt kê:
SELECT DISTINCT Customer_name
FROM borrower
WHERE Customer_name NOT IN ('Smith', 'Jone')
SO SÁNH TẬP HỢP (Set Comparision)
"Tìm tên của tất cả các chi nhánh có tài sản lớn hơn ít nhất một chi nhánh đóng tại Brooklyn"
SELECT DISTINCT Branch_name
FROM Branch AS T, Branch AS S
WHERE T.assets > S.assets AND S.branch_city = 'Brooklyn'
Ta có thể viết lại câu vấn tin này bằng cách sử dụng mệnh đề"lớn hơn ít nhất một"trong SQL
• SOME :
SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Assets > SOME ( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_city ='Brooklyn')
Câu vấn tin con
( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_city ='Brooklyn')
sinh ra tập tất cả các Assets của tất cả các chi nhánh đóng tại Brooklyn. So sánh > SOME trong
mệnh đề WHERE nhận giá trị đúng nếu giá trị Assets của bộ được xét lớn hơn ít nhất một trong
các giá trị của tập hợp này.
SQL cũng có cho phép các so sánh < SOME, >= SOME, <= SOME, = SOME, <> SOME
• ALL
"Tìm tất cả các tên của các chi nhánh có tài sản lớn hơn tài sản của bất kỳ chi nhánh nào
đóng tại Brooklyn"
CHƯƠNG II SQL
trang
25
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Assets > ALL ( SELECT Assets
FROM Branch
WHERE Branch_citty = 'Brooklyn')
SQL cũng cho phép các phép so sánh: < ALL, <= ALL, > ALL, >= ALL, = ALL, <> ALL.
"Tìm chi nhánh có số cân đối trung bình lớn nhất"
SQL không cho phép hợp thành các hàm tính gộp, như vậy MAX(AVG ( )) là không được phép.
Do vậy, ta phải sử dụng câu vấn tin con như sau:
SELECT Branch_name
FROM Account
GROUP BY Branch_name
HAVING AVG (Balance) >= ALL ( SELECT AVG (balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
THỬ CÁC QUAN HỆ RỖNG
"tìm tất cả các khách hàng có cả vay lẫn tài khoản ở ngân hàng"
SELECT Customer_name
FROM Borrower
WHERE EXISTS ( SELECT *
FROM Depositor
WHERE Depositor.Customer_name = Borrower.Customer_name)
Cấu trúc EXISTS trả lại giá trị true nếu quan hệ kết quả của câu vấn tin con không rỗng. SQL
cũng cho phép sử dụng cấu trúc NOT EXISTS để kiểm tra tính không rỗng của một quan hệ.
"Tìm tất cả các khách hàng có tài khoản tại mỗi chi nhánh đóng tại Brooklyn"
SELECT DISTINCT S.Customer_name
FROM Depositor AS S
WHERE NOT EXISTS ( ( SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Branch_city = 'Brooklyn')
EXCEPT
( SELECT R.branch_name
FROM Depositor AS T, Account AS R
WHERE T.Acoount_number = R.Account_number
AND S.Customer_name = T.Customer_name) )
THỬ KHÔNG CÓ CÁC BỘ TRÙNG
SQL đưa vào cấu trúc UNIQUE để kiểm tra việc có bộ trùng trong quan hệ kết quả của một câu
vấn tin con.
"Tìm tất cả khách hàng chỉ có một tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
SELECT T.Customer_name
FROM Depositor AS T
WHERE UNIQUE ( SELECT R.Customer_name
FROM Account, Depositor AS R
WHERE T.Customer_name = R.Customer_name AND
R.Account_number = Account.Acount_number
AND Account.Branch_name = 'Perryridge')
CHƯƠNG II SQL
trang
26
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Ta có thể thử sự tồn tại của các bộ trùng trong một vấn tin con bằng cách sử dụng cấu trúc NOT
UNIQUE
"Tìm tất cả các khách hàng có ít nhất hai tài khoản ở chi nhánh Perryridge"
SELECT DISTINCT T.Customer_name
FROM Account, Depositor AS T
WHERE NOT UNIQUE ( SELECT R.Customer_name
FROM Account, Depositor AS R
WHERE T.Customer_name=R.Customer_name
AND R.Account_number = Account.Account_number
AND Account.Branch_name = 'Perryridge')
UNIQUE trả lại giá rị false khi và chỉ khi quan hệ có hai bộ trùng nhau. Nếu hai bộ t
1
, t
2
có ít
nhất một trường null, phép so sánh t
1
= t
2
cho kết quả false. Do vậy UNIQUE có thể trả về giá trị
true trong khi quan hệ có nhiều bộ trùng nhau nhưng chứa trường giá trị null !
QUAN HỆ DẪN XUẤT
SQL92 cho phép một biểu thức vấn tin con được dùng trong mệnh đề FROM. Nếu biểu thức như
vậy được sử dụng, quan hệ kết quả phải được cho một cái tên và các thuộc tính có thể được đặt
tên lại (bằng mệnh đề AS)
Ví dụ câu vấn tin con:
(SELECT Branch_name, AVG(Balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
AS result (Branch_name, Avg_balace)
Sinh ra quan hệ gồm tên của tất cả các chi nhánh, và số cân đối trung bình tương ứng. Quan hệ
này được đặt tên là result với hai thuộc tính Branch_name và Avg_balance.
"Tìm số cân đối tài sản trung bình của các chi nhánh tại đó số cân đối tài khoản trung bình lớn
hơn 1200$"
SELECT Branch_name, avg_balance
FROM ( SELECT Branch_name, AVG(Balance)
FROM Account
GROUP BY Branch_name)
AS result (Branch_name, Avg_balace)
WHERE avg_balance > 1200
VIEWS
Trong SQL, để định nghĩa view ta sử dụng lệnh CREATE VIEW. Một view phải có một tên.
CREATE VIEW < tên view > AS < Biểu thức vấn tin >
"Tạo một view gồm các tên chi nhánh, tên của các khách hàng có hoặc một tài khoản hoặc vay
ở chi nhánh này"
Giả sử ta muốn đặt tên cho view này là All_customer.
CREATE VIEW All_customer AS
( SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Depositor, Account
WHERE Depositor.Account_number = Account.Account_number )
UNION
( SELECT Branch_name, Customer_name
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number)
Tên thuộc tính của một view có thể xác định một cách tường minh như sau:
CHƯƠNG II SQL
trang
27
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
CREATE VIEW Branch_total_loan (Branch_name, Total_loan) AS
( SELECT Branch_name, sum(Amount)
FROM Loan
GROUP BY Branch_name)
Một view là một quan hệ, nó có thể tham gia vào các câu vấn tin với vai trò của một quan hệ.
SELECT Customer_name
FROM All_customer
WHERE Branch_name = 'Perryridge'
Một câu vấn tin phức tạp sẽ dễ hiểu hơn, dễ viết hơn nếu ta cấu trúc nó bằng cách phân tích nó
thành các view nhỏ hơn và sau đó tổ hợp lại.
Định nghĩa view được giữ trong CSDL đến tận khi một lệnh DROP VIEW < tên view > được gọi.
Trong chuẩn SQL 3 hiện đang được phát triển bao hàm một đề nghị hỗ trợ những view tạm không
được lưu trong CSDL.
SỬA ĐỔI CƠ SỞ DỮ LIỆU
DELETE
INSERT
UPDATE
XÓA (Delete)
Ta chỉ có thể xoá nguyên vẹn một bộ trong một quan hệ, không thể xoá các giá trị của các thuộc
tính. Biểu thức xoá trong SQL là:
DELETE FROM r
[WHERE P]
Trong đó p là một vị từ và r là một quan hệ.
Lệnh DELETE duyệt qua tất cả các bộ t trong quan hệ r, nếu P(t) là true, DELETE xoá t
khỏi r. Nếu không có mệnh đề WHERE, tất cả các bộ trong r bị xoá.
Lệnh DELETE chỉ hoạt động trên một quan hệ.
DELETE FROM Loan = Xoá tất cả các bộ của quan hệ Loan
DELETE FROM Depositor WHERE Customer_name = 'Smith'
DELETE FROM Loan
WHERE Amount BETWEEN 1300 AND 1500
DELETE FROM Account
WHERE Branch_name IN ( SELECT Branch_name
FROM Branch
WHERE Branch_city = 'Brooklyn')
DELETE FROM Account
WHERE Balance < (SELECT AVG(Balance)
FROM Account)
XEN (Insert)
Để xen dữ liệu vào một quan hệ, ta xác định một bộ cần xen hoặc viết một câu vấn tin kết quả của
nó là một tập các bộ cần xen. Các giá trị thuộc tính của bộ cần xen phải thuộc vào miền giá trị của
thuộc tính và số thành phần của bộ phải bằng với ngôi của quan hệ.
“Xen vào quan hệ Account một bộ có số tài khoản là A-9732, số cân đối là 1200$ và tài khoản
này được mở ở chi nhánh Perryridge”
INSERT INTO Account
VALUES (‘Perryridge’, ‘A-9732’, 1200);
CHƯƠNG II SQL
trang
28
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Trong ví dụ này thự tự các giá trị thuộc tính cần xen trùng khớp với thứ tự các thuộc tính trong sơ
đồ quan hệ. SQL cho phép chỉ rõ các thuộc tính và các giá trị tương ứng cần xen:
INSERT INTO Account (Branch_name, Account_number, Balance)
VALUES (‘Perryridge’, ‘A-9732’, 1200);
INSERT INTO Account (Account_number, Balance, Branch_name)
VALUES (‘A-9732’, 1200, ‘Perryridge’);
“Cấp cho tất cả các khách hàng vay ở chi nhánh Perryridge một tài khoản với số cân đối là
200$ như một quà tặng sử dụng số vay như số tài khoản“
INSERT INTO Account
SELECT Branch_name, Loan_number, 200
FROM Loan
WHERE Branch_name = ‘Perryridge’
INSERT INTO Depositor
SELECT Customer_name, Loan_number
FROM Borrower, Loan
WHERE Borrower.Loan_number = Loan.Loan_number AND
Branch_name = ‘Perryridge’
CẬP NHẬT (Update)
Câu lệnh UPDATE cho phép thay đổi giá trị thuộc tính của các bộ
“Thêm lãi hàng năm vào số cân đối với tỷ lệ lãi suất 5%”
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.05
Giả sử các tài khoản có số cân đối > 10000$ được hưởng lãi suất 6%, các tài khoản có số cân đối
nhỏ hơn hoặc bằng 10000 được hưởng lãi suất 5%
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.06
WHERE Balance > 10000
UPDATE Account
SET Balance = Balance*1.05
WHERE Balance <= 10000
SQL92 đưa vào cấu trúc CASE như sau:
CASE
WHEN P
1
THEN Result
1
WHEN P
2
THEN Result
2
WHEN Pn THEN Resultn
ELSE Result
0
END
trong đó P
i
là các vị từ, Result
i
là các kết quả trả về của hoạt động CASE tương ứng với vị từ P
i
đầu tiên thỏa mãn. Nếu không vị từ P
i
nào thỏa mãn CASE trả về Result
0
.
Với cấu trúc CASE như vậy ta có thể viết lại yêu cầu trên như sau:
UPDATE Account
SET Balance = CASE
WHEN Balance > 10000 THEN Balance*1.06
ELSE Balance*1.05
END
“Trả 5% lãi cho các tài khoản có số cân đối lớn hơn số cân đối trung bình”
UPDATE Account
CHƯƠNG II SQL
trang
29
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
SET Balance = Balance*1.05
WHERE Balance > SELECT AVG(Balance)
FROM Account
CÁC QUAN HỆ NỐI
SQL92 cung cấp nhiều cơ chế cho nối các quan hệ bao hàm nối có điều kiện và nối tự nhiên cũng
như các dạng của nối ngoài.
Loan INNER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Nối quan hệ Loan và quan hệ Borrower với điều kiên:
Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Quan hệ kết quả có các thuộc tính của quan hệ Loan và các thuộc tính của quan hệ Borrower (như
vậy thuộc tính Loan_number xuất hiện 2 lần trong quan hệ kết quả).
Để đổi tên quan hệ (kết quả) và các thuộc tính, ta sử dụng mệnh đề AS
Loan INNER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
AS LB(Branch, Loan_number, Amount, Cust, Cust_Loan_number)
Loan LEFT OUTER JOIN Borrower
ON Loan.Loan_number = Borrower.Loan_number
Phép nối ngoài trái được tính như sau: Đầu tiên tính kết quả của nối trong INNER JOIN. Sau đó
đối với mỗi bộ t của quan hệ trái (Loan) không tương xứng với bộ nào trong quan hệ bên phải
(borrower) khi đó thêm vào kết quả bộ r gồm các giá trị thuộc tính trái là các giá trị thuộc tính của
t, các thuộc tính còn lại (phải) được đặt là null.
Loan NATURAL INNER JOIN Borrower
Là nối tự nhiên của quan hệ Loan và quan hệ Borrower (thuộc tính trùng tên là Loan_number).
NGÔN NGỮ ĐỊNH NGHĨA DỮ LIỆU (DDL)
DDL SQL cho phép đặc tả:
o Sơ đồ cho mỗi quan hệ
o Miền giá trị kết hợp với mỗi thuộc tính
o các ràng buộc toàn vẹn
o tập các chỉ mục được duy trì cho mỗi quan hệ
o thông tin về an toàn và quyền cho mỗi quan hệ
o cấu trúc lưu trữ vật lý của mỗi quan hệ trên đĩa
CÁC KIỂU MIỀN TRONG SQL
SQL-92 hỗ trợ nhiều kiểu miền trong đó bao hàm các kiểu sau:
o char(n) / charater: chuỗi ký tự dộ dài cố định, với độ dài n được xác định bởi
người dùng
o vachar(n) / character varying (n): chuỗi ký tự độ dài thay đổi, với độ dài tối đa
được xác dịnh bởi người dung là n
o int / integer: tập hữu hạn các số nguyên
o smallint: tập con của tập các số nguyên int
o numeric(p, d): số thực dấu chấm tĩnh gồm p chữ số (kể cả dấu) và d trong p chữ
số là các chữ số phần thập phân
o real, double precision: số thực dấu chấm động và số thực dấu chấm động chính
xác kép
o float(n): số thực dấu chấm động với độ chính xác được xác định bởi người dùng ít
nhất là n chữ số thập phân
CHƯƠNG II SQL
trang
30
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
o date: kiểu năm tháng ngày (YYYY, MM, DD)
o time: kiểu thời gian (HH, MM, SS)
SQL-92 cho phép định nghĩa miền với cú pháp:
CREATE DOMAIN < tên miền > < Type >
Ví dụ: CREATE DOMAIN hoten char(30);
Sau khi đã định nghĩa miền với tên hoten ta có thể sử dụng nó để định nghĩa kiểu của các thuộc
tính
ĐỊNH NGHĨA SƠ ĐỒ TRONG SQL.
Lệnh CREATE TABLE với cú pháp
CREATE TABLE < tên bảng > (
< Thuộc tính 1 > < miền giá trị thuộc tính 1 > ,
< Thuộc tính n > < miền giá trị thuộc tính n> ,
< ràng buộc toàn vẹn 1 > ,
< ràng buộc toàn vẹn k >)
Các ràng buộc toàn vẹn cho phép bao gồm:
primary key ( )
A
, ,
A
,
A
iii
m21
và
check(P)
Đặc tả primary key chỉ ra rằng các thuộc tính tạo nên khoá chính của quan hệ.
Mệnh đề check xác định một vị từ P mà mỗi bộ trong quan hệ phải thoả mãn.
A
, ,
A
,
A
iii
m21
Ví dụ:
CREATE TABLE customer (
customer_name CHAR(20) not null,
customer_street CHAR(30),
customer_city CHAR(30),
PRIMARY KEY(customer_name));
CREATE TABLE branch (
branch_name CHAR(15) not null,
branch_city CHAR(30),
assets INTEGER,
PRIMARY KEY (branch_name),
CHECK (assets >= 0));
CREATE TABLE account (
account_number CHAR(10) not null,
branch_name CHAR(15),
balance INTEGER,
PRIMARY KEY (account_number),
CHECK (balance >= 0));
CREATE TABLE depositor (
customer_name CHAR(20) not null,
account_number CHAR(10) not null,
PRIMARY KEY (customer_name, account_namber));
Giá trị null là giá trị hợp lệ cho mọi kiểu trong SQL. Các thuộc tính được khai báo là primary key
đòi hỏi phải là not null và duy nhất. do vậy các khai báo not null trong ví dụ trên là dư (trong
SQL-92).
CREATE TABLE student (
CHƯƠNG II SQL
trang
31
Kiểm toán chu trình bán háng
thông tin về chu trình nói riêng thì kiểm toan viên không thể không xem xét
những đặc điểm của chu trình và ảnh hởng của nó tới phơng pháp kiểm toán.
2. Chức năng của chu trình bán hàng - thu tiền.
Để thực hiện tốt chu trình bán hàng - thu tiền , trong doanh nghiệp có các bộ
phận chức năng khác nhau thực hiện các công việc khác nhau. Quá trình đợc bắt
đầu từ việc phát sinh nhu cầu mua hàng từ giá khách hàng đến khâu tiếp theo nh
việc phê chuẩn các phơng thức bán hàng , cách thức thanh toán và việc tiêu thụ
hàng hoá sản phẩm. Thông thờng chu trình bán hàng - thu tiền thực hiện các chức
năng cơ bản sau:
Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng: khi nhận đợc đơn đặt hàng của khách
hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải thực xem xét có nhất trí việc cung cấp hàng
hoá, dịch vụ cho khách hàng không. Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào
nhu cầu hàng hoá của khách hàng và khả năng cung cấp của doanh nghiệp và các
yếu tố khác nh giá cả, phơng thức thanh toán.
Xét duyệt bán chịu : Đối với phơng thức bán chịu cho khách, hàng sẽ đợc
chuyển đi sau khi có sự phê chuẩn của ngời có thẩm quyền trong doanh nghiệp .
Việc phê chuẩn phơng thức bán chịu đợc thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp
quản lý tốt các khoản nợ phải thu.
Chuyển giao hàng : Khi hàng hoá đợc chuyển đi thì chứng từ vận chuyển sẽ
đợc lập, đấy là điều cần thiết cho việc tính tiền đúng số hàng chuyển giao.
Gửi hoá đơn cho khách hàng và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng: Hoá đơn phải
đợc lập ngay sau khi giao hàng, hoá đơn là phơng thức chỉ rõ cho khách hàng số
tiền và thời hạn thanh toán đồng thời là căn cứ ghi sổ nhật ký bán hàng và theo
dõi các khoản phải thu.
Xử lý và ghi số các khoản thu tiền : Sau khi thực hiện các chức năng về bán
hàng cùng ghi sổ kế toán các khoản này cần phải thực hiện các chức năng thu tiền
cả trong điều kiện bình thờng và không bình thờng. Trong mọi trờng hợp đều cần
xử lý và ghi sổ các khoản thông thờng về thu tiền bán hàng.
Xử lý và ghi sổ các khoản hàng bán bị trả lại và bớt giá : Tất cả các khoản
này phải trả đợc phê chuẩn đúng đắn bởi những ngời có trách nhiệm và phải đợc
ghi số kế toán một cachs chính xác và nhanh chóng.
Dự phòng nợ khó đòi và xoá sổ các khoản phải thu không thu hồi đợc: Tr-
ớc khi khoá sổ các tài khoản và chuẩn bị lập BCTC phải tiến hành đánh giá phí
tồn kho cho các khoản phải thu không có khả năng thu hồi đợc qua đó tiến hành
lập dự phòng cho các khoản đó. Còn những khoản không thể thu hồi đợc thì phải
xoá sổ kế toán cho các khoản này.
3. Tổ chức kế toán bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Là
giai đoạn thứ hai sau quá trình mua hàng và thanh toán đối với doanh nghiệp th-
ơng mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối vơi các doanh nghiệp sản
xuất. Do vậy, cũng giống nh các giai đoạn khác, tổ chức kế toán bán hàng - thu
tiền gồm các nội dung sau :
(1) Tổ chức chứng từ kế toán : Đó là quá trình thiết kế khối lợng chứng từ và
quy trình hạch toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch tán và đơn vị hạch toán cơ sở.
Tổ chức chứng từ kế toán cho chu trình bán hàng - thu tiền đợc chia làm hai trờng
hợp :
Trờng hợp 1 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất
Nhu cầu
bán hàng
Lưu trữ
Bộ phận
cung ứng
Thủ trưởng,
KTT
Bộ phận
quản lý
hàng
Kế toán
thanh toán
Lập chứng
từ bán
hàng
Ký duyệt
hoá đơn
Giao nhận
hàng
Ghi sổ và
theo dõi
thanh toán
* Trờng hợp 2 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm phi vật chất
(2) Các tài khoản sử dụng
Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau :
TK511 : Doanh thu bán hàng
TK512 : Doanh thu bán hàng nội bộ
TK531 : Hàng bán bị trả lại
TK532 : Giảm giá hàng bán
TK131 : Phải thu khách hàng
TK3387 : Doanh thu nhận trớc
TK139 : Dự phòng phải thu khó đòi
TK641 : Chi phí bán hàng
TK642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK3331 : Thuế VAT đầu ra
TK111 : Tiền mặt tại quỹ
TK112 : Tiền gửi ngân hàng
TK004 : Nợ khó đòi đã xử lý
(3) Hệ thống sổ sách sử dụng
Trong trờng hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ nhật ký chung thì hệ
thống sổ sách gồm có
- Sổ nhật ký chung
Nhu cầu
giao hàng
Lưu trữ
Bộ phận
kinh
doanh
KTT
Thủ
quỹ
Bộ phận
cung
cấp
Lập
hoạt
động
C
2
d vụ
Ký
duyệt
hoá đơn
Thu
tiền
Cung
cấp
dịch vụ
Kế toán
bán
hàng
Ghi sổ
doanh
thu
- Sổ nhật ký thu tiền
- Sổ các khoản phải thu
- Sổ chi tiết khách hàng nợ
- Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
(4) Quy trình hạch toán kế toán chu trình bán hàng -thu tiền
TK333 TK511,512 TK111,112,131
Thuế XK, tiêu thụ Doanh thu áp dụng phơng pháp
tính thuế VAT trực tiếp
(tổng giá thanh toán)
Đvị áp dụng pp
VAT khấu trừ
TK3331
VAT đầu ra
TK531,532
TK3387
Dthu hàng bán Cuối kỳ K/c Doanh thu Doanh thu ghi
bị trả lại DT Dthu hàng bán Kỳ này nhận trớc
giảm giá bị trả lại hoặc
giảm giá phát sinh
trong kỳ
TK131,136 TK642
Doanh thu cha Xoá nợ phải thu
TK911 thu tiền khó đòi
Cuối kỳ K/c TK004
doanh thu thuần
đồng thời ghi
TK139
Trình lập dự phòng Hoàn nhập
Phải thu khó đòi Dự phòng
phải thu
khó đòi
Khi hàng bán bị trả lại hoặc giảm giá hàng bán phát sinh
Dthu
bán
hàng
phát
sinh
4. Hệ thống kiểm toán nội bộ với chu trình bán hàng - Thu tiền
Trong mỗi doanh nghiệp, hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là khác
nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm và quy mô của doanh nghiệp đó. Với mục đích
chung của các doanh nghiệp khi tổ chức, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
nhằm để phục vụ cho công tác kiểm toán kiểm soát và qua đó có thể cung cấp
những nguồn thông tin nhanh chóng và đáng tin cậy, giúp cho các nhà quản lý có
thể chỉ đạo tốt hoạt động của đơn vị mình đem lại thành công trong công việc.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách, các thủ tục kiểm soát
do đơn vị lập nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra của đơn vị.
- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động
của Công ty. Cũng nh vậy đối với chu trình bán hàng và thu tiền, hệ thống kiểm
soát nội bộ giúp cho việc đềiu hành giám sát và hoàn thiện các hoạt động của chu
trình.
Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 4 yếu tố cấu thành chính :
- Môi trờng kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các thủ tục kiểm soát
- Kiểm toán nội bộ
Chính vì vậy, việc xây dựng và điều hành tốt hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ
giúp cho nhà lãnh đạo thành công trong việc điều hành các hoạt động của đơn vị
mình.
II. Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền trong kiểm toán báo
cáo tài chính
1.Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền :
Trong việc thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền của kiểm toán
báo cáo tai chính phải xác định rõ phạm vi công việc và mục tiêu của cuộc kiểm
toán. Với chu trình bán hàng - thu tiền cũng vậy, phải xác định rõ mục tiêu và
phạm vi công việc để làm cơ sở cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để làm
cơ sở đa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán theo
chuẩn mực kiểm toán số 200 thì mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là giúp
cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận nhận rằng báo cáo
tài chính có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đợc
chấp nhạan có tuân thủ pháp luật và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các
khía cạnh trọng yếu hay không ?
Các mục tiêu của kiểm toán có mối quan hệ với những xác nhận của ban
quản trị. Do đó, để thực hiện tốt cuộc kiểm toán cần phải hiểu đợc những xác
nhận đó.
Năm loại xác nhận của kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền gồm :
- Xác nhận về sự hiện hữu : Doanh thu trên báo cáo tài chính phản ánh quá
trình trao đổi về hàng hoá và dịch vụ thực tế đã xảy ra các khoản phải thu trong
bảng cân đối là có thực vào ngày lập các cân đối kế toán.
- Xác nhận về tính đầy đủ : Tất cả doanh thu về dịch vụ, hàng hoá, các
khoản thu và đã thu đều đợc ghi sổ và đa vào báo cáo tài chính.
- Xác nhận về quyền sở hữu : Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh
nghiệp vào ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp.
- Xác nhận về sự đánh giá và phân loại : Các khoản phải thu khoản doanh
thu đợc phân loại đúng bản chất và đợc tính đúng đắn.
- Xác nhận về sự trình bày : Doanh thu và các khoản phải thu đợc trình bày
trung thực và đúng đắn trên bảng cân đối tài sản hay trên báo cáo tài chính theo
đúng hệ thống kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện hành.
Bên cạnh các xác nhận của ban quản trị của doanh nghiệp thì các mục tiêu
chung và mục tiêu đặc thù của kiểm toán cần phải đợc xem xét.
Mục tiêu chung gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung : Mục tiêu này giúp kiểm toán viên đánh giá số liệu
trên các số d trên tài khoản phải thu khách hàng có hợp lý hay không xét theo
tất cả các thông tin mà kiểm toán viên có đợc về công việc kinh doanh khách
hàng.
- Các mục tiêu chung khác bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý : Số tiền ghi sổ và ghi trên báo cáo tài chính thực sự là số
tiền phát sinh trong quá trình xảy ra nghiệp vụ bán hàng và các nghiệp vụ có liên
quan.
+ Tính đầy đủ : Tất cả các nghiệp vụ phát sinh đều đợc ghi sổ
+ Quyền sở hữu : Số tiền hoặc tài sản đợc ghi thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính.
+ Sự đánh giá : Tiền và tài sản của doanh nghiệp phải đợc đánh giá đúng đắn
phù hợp với giá trị hiện tại trên thị trờng và đợc ghi trên hoá đơn và trên sổ sách
chính xác hợp lý theo từng kỳ.
+ Sự phân loại : Số tiền đợc ghi trên sổ phải đợc phản ánh đúng đắn ghi
đúng nội dung tài khoản và các tài khoản phải đợc trình bày đúng đắn trên báo
cáo tài chính.
+ Ghi chép đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều đợc ghi chép đúng
thời gian phát sinh nghiệp vụ, tránh mọi hiện tợng báo cáo thừa hoặc thiếu.
Mục tiêu đặc thù của chu trình bán hàng -thu tiền bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý: Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đều phải hiện
hữu vào ngày lập báo cáo tài chính.
- Tính đầy đủ : Các khoản doanh thu và các khoản phải thu hiện có đợc tính
và ghi vào tài khoản có liên quan.
+ Quyền sở hữu : Doanh nghiệp có quyền sở hữu đối với các khoản doanh
thu, thu nhập khác và các khoản phải thu phát sinh trong kỳ.
+ Sự đánh giá: Tính giữa đơn giá và số lợng hàng hoá phải đợc tính đúng và
số liệu trên các sổ chi tiết phải đợc cộng dồn chính xác.
+ Chính sách chiết khấu phù hợp : Doanh thu và các khoản phải thu thực tế
phát sinh phù hợp với các chính sách chiết khấu của đơn vị đề ra.
+ Sự phân loại : Doanh thu phải đợc phân loại đúng đắn thành các loại
doanh thu bán ra và doanh thu nội bộ, doanh thu hàng bán bị trả lại doanh thu
nhận trớc. Các khoản phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác
+ Tính đúng kỳ : Doanh thu và các khoản phải thu đợc ghi chép đúng kỳ,
không có hiện tợng ghi giảm doanh thu và ghi tăng các khoản phải thu và ngợc
lại.
+ Trình bày và thể hiện : Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đợc trình
bày chính xác và hợp lý trên các báo cáo tài chính theo đúng chế độ.
2. Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong kiểm toán
báo cáo tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành việc xác định các mục tiêu kiểm toán
đặc thù cho chu trình bán hàng thu tiền, yếu tố cấu thành của báo cáo tài chính thì
kiểm toán viên bắt đầu các giai đoạn kiểm toán cụ thể. Do chu trình bán hàng -
thu tiền có những khoản mục là yếu tố cấu thành báo cáo tài chính nên khi tiến
hành kiểm toán cũng phải tuân thủ theo quy trình kiểm toán chung của một cuộc
kiểm toán để đảm bảo tính thống nhất.
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phơng pháp rõ ràng của tổ chức một
cuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên hoàn thành công việc của mình
theo đúng các mục tiêu đề ra.
Quy trình kiểm toán gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phơng pháp kiểm toán
(1) Lập kế hoạch kiểm toán : Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền là một
chu trình của kiểm toán tài chính. Vì vậy, nhiệm vụ chung của kiểm toán chu
trình là triển khai các chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phơng
pháp kiểm toán thích hợp với đặc thù của phần hành này thông qua các bớc trong
quy trình kiểm toán. Để cso kế hoạch kiểm toán cụ thể cho một khách hàng nói
chung và kế hoạch kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng, kiểm toán
viên thờng thực hiện các bớc sau :
B ớc 1 : Chuẩn bị kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền:
Trong bớc này phải thực hiện các công việc sau:
- Thứ nhất, phải xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán. Mục tiêu và phạm
vi kiểm toán cần phải xác định cụ thể đối với từng mục kiểm toán . Mục tiêu
kiểm toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả kiểm toán cho mỗi
chu trình kiểm toán cụ thể. Mục tiêu chung phải gắn với mục tiêu riêng yêu cầu
của quản lý. Do vậy, mục tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ
thể và khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình cụ thể. Phạm vi kiểm toán là
Giai đoạn 1
Lập kế hoạch thiết kế phơng pháp
kiểm toán của chu trình bán hàng
- thu tiền
Thực hiện kiểm toán chu trình
bán hàng - thu tiền
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Hoàn tất công tác kiểm toán và
công bố báo cáo kiểm toán
sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tợng kiểm toán, thờng đợc xác
định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hớng cụ thể xác định mục tiêu
này với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tợng cụ thể của kiểm toán :
Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các bảng khai tài chính
- Thứ hai, chỉ định ngời phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều
kiện vật chất cơ bản. Để thực hiện tốt và có hiệu quả cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính thì lãnh đạo công ty kiểm toán cần bố trí đội ngũ nhân viên có trình độ
nghề nghiệp tuỳ thuộc vào nhu cầu của cuộc kiểm toán, hay tuỳ thuộc vào đặc
điểm của cuộc kiểm toán đó.
- Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán. Sau khi thực hiện xong các bớc công việc
trên thì Công ty kiểm toán và khách hàng sẽ lập hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng
kiểm toán là tài liệu nêu rõ trách nhiệm của Công ty kiểm toán, trách nhiệm của
Công ty khách hàng, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán , giá phí kiểm toán hay
phạm vi cuộc kiểm toán.
- Thứ t, thu thập những thông tin phục vụ cho việc kiểm toán: Để thực hiện
tốt công việc kiểm toán nói chung và kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói
riêng thì kiểm toán viên cần phải có những hiểu biết về công việc kinh doanh của
khách hàng và kiến thức về lĩnh vực kinh doanh của Công ty khách hàng. Khi tiến
hành kiểm toán có rất nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin cơ sở. Thông
thờng thông tin cơ sở đợc thu thập dới các hình thức sau :
Qua tìm hiểu về doanh nghiệp: kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về
doanh nghiệp để thu thập những thông tin về cơ cấu tổ chức, loại hình
kinh doanh hat phơng pháp kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.
Qua tham quan nhà xởng: Tất cả những thông tin thu thập đợc qua tìm
hiểu doanh nghiệp chủ yếu trên giấy tờ, tài liệu ở văn phòng của Công
ty. Do đó, tham quan nhà xởng sẽ giúp cho kiểm toán viên có cách
nhìn thực tế hơn về các phơng tiện vật chất, giúp cho việc hiểu biết đ-
ợc công tác bảo vệ tài sản và giúp cho việc thuyết minh số liệu kế toán
bằng cách đa ra một khung tham gia qua đó hình dung ra những tài
những đặc điểm của chu trình và ảnh hởng của nó tới phơng pháp kiểm toán.
2. Chức năng của chu trình bán hàng - thu tiền.
Để thực hiện tốt chu trình bán hàng - thu tiền , trong doanh nghiệp có các bộ
phận chức năng khác nhau thực hiện các công việc khác nhau. Quá trình đợc bắt
đầu từ việc phát sinh nhu cầu mua hàng từ giá khách hàng đến khâu tiếp theo nh
việc phê chuẩn các phơng thức bán hàng , cách thức thanh toán và việc tiêu thụ
hàng hoá sản phẩm. Thông thờng chu trình bán hàng - thu tiền thực hiện các chức
năng cơ bản sau:
Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng: khi nhận đợc đơn đặt hàng của khách
hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải thực xem xét có nhất trí việc cung cấp hàng
hoá, dịch vụ cho khách hàng không. Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào
nhu cầu hàng hoá của khách hàng và khả năng cung cấp của doanh nghiệp và các
yếu tố khác nh giá cả, phơng thức thanh toán.
Xét duyệt bán chịu : Đối với phơng thức bán chịu cho khách, hàng sẽ đợc
chuyển đi sau khi có sự phê chuẩn của ngời có thẩm quyền trong doanh nghiệp .
Việc phê chuẩn phơng thức bán chịu đợc thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp
quản lý tốt các khoản nợ phải thu.
Chuyển giao hàng : Khi hàng hoá đợc chuyển đi thì chứng từ vận chuyển sẽ
đợc lập, đấy là điều cần thiết cho việc tính tiền đúng số hàng chuyển giao.
Gửi hoá đơn cho khách hàng và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng: Hoá đơn phải
đợc lập ngay sau khi giao hàng, hoá đơn là phơng thức chỉ rõ cho khách hàng số
tiền và thời hạn thanh toán đồng thời là căn cứ ghi sổ nhật ký bán hàng và theo
dõi các khoản phải thu.
Xử lý và ghi số các khoản thu tiền : Sau khi thực hiện các chức năng về bán
hàng cùng ghi sổ kế toán các khoản này cần phải thực hiện các chức năng thu tiền
cả trong điều kiện bình thờng và không bình thờng. Trong mọi trờng hợp đều cần
xử lý và ghi sổ các khoản thông thờng về thu tiền bán hàng.
Xử lý và ghi sổ các khoản hàng bán bị trả lại và bớt giá : Tất cả các khoản
này phải trả đợc phê chuẩn đúng đắn bởi những ngời có trách nhiệm và phải đợc
ghi số kế toán một cachs chính xác và nhanh chóng.
Dự phòng nợ khó đòi và xoá sổ các khoản phải thu không thu hồi đợc: Tr-
ớc khi khoá sổ các tài khoản và chuẩn bị lập BCTC phải tiến hành đánh giá phí
tồn kho cho các khoản phải thu không có khả năng thu hồi đợc qua đó tiến hành
lập dự phòng cho các khoản đó. Còn những khoản không thể thu hồi đợc thì phải
xoá sổ kế toán cho các khoản này.
3. Tổ chức kế toán bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Là
giai đoạn thứ hai sau quá trình mua hàng và thanh toán đối với doanh nghiệp th-
ơng mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối vơi các doanh nghiệp sản
xuất. Do vậy, cũng giống nh các giai đoạn khác, tổ chức kế toán bán hàng - thu
tiền gồm các nội dung sau :
(1) Tổ chức chứng từ kế toán : Đó là quá trình thiết kế khối lợng chứng từ và
quy trình hạch toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch tán và đơn vị hạch toán cơ sở.
Tổ chức chứng từ kế toán cho chu trình bán hàng - thu tiền đợc chia làm hai trờng
hợp :
Trờng hợp 1 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất
Nhu cầu
bán hàng
Lưu trữ
Bộ phận
cung ứng
Thủ trưởng,
KTT
Bộ phận
quản lý
hàng
Kế toán
thanh toán
Lập chứng
từ bán
hàng
Ký duyệt
hoá đơn
Giao nhận
hàng
Ghi sổ và
theo dõi
thanh toán
* Trờng hợp 2 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm phi vật chất
(2) Các tài khoản sử dụng
Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau :
TK511 : Doanh thu bán hàng
TK512 : Doanh thu bán hàng nội bộ
TK531 : Hàng bán bị trả lại
TK532 : Giảm giá hàng bán
TK131 : Phải thu khách hàng
TK3387 : Doanh thu nhận trớc
TK139 : Dự phòng phải thu khó đòi
TK641 : Chi phí bán hàng
TK642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK3331 : Thuế VAT đầu ra
TK111 : Tiền mặt tại quỹ
TK112 : Tiền gửi ngân hàng
TK004 : Nợ khó đòi đã xử lý
(3) Hệ thống sổ sách sử dụng
Trong trờng hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ nhật ký chung thì hệ
thống sổ sách gồm có
- Sổ nhật ký chung
Nhu cầu
giao hàng
Lưu trữ
Bộ phận
kinh
doanh
KTT
Thủ
quỹ
Bộ phận
cung
cấp
Lập
hoạt
động
C
2
d vụ
Ký
duyệt
hoá đơn
Thu
tiền
Cung
cấp
dịch vụ
Kế toán
bán
hàng
Ghi sổ
doanh
thu
- Sổ nhật ký thu tiền
- Sổ các khoản phải thu
- Sổ chi tiết khách hàng nợ
- Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
(4) Quy trình hạch toán kế toán chu trình bán hàng -thu tiền
TK333 TK511,512 TK111,112,131
Thuế XK, tiêu thụ Doanh thu áp dụng phơng pháp
tính thuế VAT trực tiếp
(tổng giá thanh toán)
Đvị áp dụng pp
VAT khấu trừ
TK3331
VAT đầu ra
TK531,532
TK3387
Dthu hàng bán Cuối kỳ K/c Doanh thu Doanh thu ghi
bị trả lại DT Dthu hàng bán Kỳ này nhận trớc
giảm giá bị trả lại hoặc
giảm giá phát sinh
trong kỳ
TK131,136 TK642
Doanh thu cha Xoá nợ phải thu
TK911 thu tiền khó đòi
Cuối kỳ K/c TK004
doanh thu thuần
đồng thời ghi
TK139
Trình lập dự phòng Hoàn nhập
Phải thu khó đòi Dự phòng
phải thu
khó đòi
Khi hàng bán bị trả lại hoặc giảm giá hàng bán phát sinh
Dthu
bán
hàng
phát
sinh
4. Hệ thống kiểm toán nội bộ với chu trình bán hàng - Thu tiền
Trong mỗi doanh nghiệp, hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là khác
nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm và quy mô của doanh nghiệp đó. Với mục đích
chung của các doanh nghiệp khi tổ chức, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
nhằm để phục vụ cho công tác kiểm toán kiểm soát và qua đó có thể cung cấp
những nguồn thông tin nhanh chóng và đáng tin cậy, giúp cho các nhà quản lý có
thể chỉ đạo tốt hoạt động của đơn vị mình đem lại thành công trong công việc.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách, các thủ tục kiểm soát
do đơn vị lập nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra của đơn vị.
- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động
của Công ty. Cũng nh vậy đối với chu trình bán hàng và thu tiền, hệ thống kiểm
soát nội bộ giúp cho việc đềiu hành giám sát và hoàn thiện các hoạt động của chu
trình.
Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 4 yếu tố cấu thành chính :
- Môi trờng kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các thủ tục kiểm soát
- Kiểm toán nội bộ
Chính vì vậy, việc xây dựng và điều hành tốt hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ
giúp cho nhà lãnh đạo thành công trong việc điều hành các hoạt động của đơn vị
mình.
II. Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền trong kiểm toán báo
cáo tài chính
1.Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền :
Trong việc thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền của kiểm toán
báo cáo tai chính phải xác định rõ phạm vi công việc và mục tiêu của cuộc kiểm
toán. Với chu trình bán hàng - thu tiền cũng vậy, phải xác định rõ mục tiêu và
phạm vi công việc để làm cơ sở cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để làm
cơ sở đa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán theo
chuẩn mực kiểm toán số 200 thì mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là giúp
cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận nhận rằng báo cáo
tài chính có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đợc
chấp nhạan có tuân thủ pháp luật và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các
khía cạnh trọng yếu hay không ?
Các mục tiêu của kiểm toán có mối quan hệ với những xác nhận của ban
quản trị. Do đó, để thực hiện tốt cuộc kiểm toán cần phải hiểu đợc những xác
nhận đó.
Năm loại xác nhận của kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền gồm :
- Xác nhận về sự hiện hữu : Doanh thu trên báo cáo tài chính phản ánh quá
trình trao đổi về hàng hoá và dịch vụ thực tế đã xảy ra các khoản phải thu trong
bảng cân đối là có thực vào ngày lập các cân đối kế toán.
- Xác nhận về tính đầy đủ : Tất cả doanh thu về dịch vụ, hàng hoá, các
khoản thu và đã thu đều đợc ghi sổ và đa vào báo cáo tài chính.
- Xác nhận về quyền sở hữu : Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh
nghiệp vào ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp.
- Xác nhận về sự đánh giá và phân loại : Các khoản phải thu khoản doanh
thu đợc phân loại đúng bản chất và đợc tính đúng đắn.
- Xác nhận về sự trình bày : Doanh thu và các khoản phải thu đợc trình bày
trung thực và đúng đắn trên bảng cân đối tài sản hay trên báo cáo tài chính theo
đúng hệ thống kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện hành.
Bên cạnh các xác nhận của ban quản trị của doanh nghiệp thì các mục tiêu
chung và mục tiêu đặc thù của kiểm toán cần phải đợc xem xét.
Mục tiêu chung gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung : Mục tiêu này giúp kiểm toán viên đánh giá số liệu
trên các số d trên tài khoản phải thu khách hàng có hợp lý hay không xét theo
tất cả các thông tin mà kiểm toán viên có đợc về công việc kinh doanh khách
hàng.
- Các mục tiêu chung khác bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý : Số tiền ghi sổ và ghi trên báo cáo tài chính thực sự là số
tiền phát sinh trong quá trình xảy ra nghiệp vụ bán hàng và các nghiệp vụ có liên
quan.
+ Tính đầy đủ : Tất cả các nghiệp vụ phát sinh đều đợc ghi sổ
+ Quyền sở hữu : Số tiền hoặc tài sản đợc ghi thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính.
+ Sự đánh giá : Tiền và tài sản của doanh nghiệp phải đợc đánh giá đúng đắn
phù hợp với giá trị hiện tại trên thị trờng và đợc ghi trên hoá đơn và trên sổ sách
chính xác hợp lý theo từng kỳ.
+ Sự phân loại : Số tiền đợc ghi trên sổ phải đợc phản ánh đúng đắn ghi
đúng nội dung tài khoản và các tài khoản phải đợc trình bày đúng đắn trên báo
cáo tài chính.
+ Ghi chép đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều đợc ghi chép đúng
thời gian phát sinh nghiệp vụ, tránh mọi hiện tợng báo cáo thừa hoặc thiếu.
Mục tiêu đặc thù của chu trình bán hàng -thu tiền bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý: Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đều phải hiện
hữu vào ngày lập báo cáo tài chính.
- Tính đầy đủ : Các khoản doanh thu và các khoản phải thu hiện có đợc tính
và ghi vào tài khoản có liên quan.
+ Quyền sở hữu : Doanh nghiệp có quyền sở hữu đối với các khoản doanh
thu, thu nhập khác và các khoản phải thu phát sinh trong kỳ.
+ Sự đánh giá: Tính giữa đơn giá và số lợng hàng hoá phải đợc tính đúng và
số liệu trên các sổ chi tiết phải đợc cộng dồn chính xác.
+ Chính sách chiết khấu phù hợp : Doanh thu và các khoản phải thu thực tế
phát sinh phù hợp với các chính sách chiết khấu của đơn vị đề ra.
+ Sự phân loại : Doanh thu phải đợc phân loại đúng đắn thành các loại
doanh thu bán ra và doanh thu nội bộ, doanh thu hàng bán bị trả lại doanh thu
nhận trớc. Các khoản phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác
+ Tính đúng kỳ : Doanh thu và các khoản phải thu đợc ghi chép đúng kỳ,
không có hiện tợng ghi giảm doanh thu và ghi tăng các khoản phải thu và ngợc
lại.
+ Trình bày và thể hiện : Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đợc trình
bày chính xác và hợp lý trên các báo cáo tài chính theo đúng chế độ.
2. Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong kiểm toán
báo cáo tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành việc xác định các mục tiêu kiểm toán
đặc thù cho chu trình bán hàng thu tiền, yếu tố cấu thành của báo cáo tài chính thì
kiểm toán viên bắt đầu các giai đoạn kiểm toán cụ thể. Do chu trình bán hàng -
thu tiền có những khoản mục là yếu tố cấu thành báo cáo tài chính nên khi tiến
hành kiểm toán cũng phải tuân thủ theo quy trình kiểm toán chung của một cuộc
kiểm toán để đảm bảo tính thống nhất.
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phơng pháp rõ ràng của tổ chức một
cuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên hoàn thành công việc của mình
theo đúng các mục tiêu đề ra.
Quy trình kiểm toán gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phơng pháp kiểm toán
(1) Lập kế hoạch kiểm toán : Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền là một
chu trình của kiểm toán tài chính. Vì vậy, nhiệm vụ chung của kiểm toán chu
trình là triển khai các chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phơng
pháp kiểm toán thích hợp với đặc thù của phần hành này thông qua các bớc trong
quy trình kiểm toán. Để cso kế hoạch kiểm toán cụ thể cho một khách hàng nói
chung và kế hoạch kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng, kiểm toán
viên thờng thực hiện các bớc sau :
B ớc 1 : Chuẩn bị kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền:
Trong bớc này phải thực hiện các công việc sau:
- Thứ nhất, phải xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán. Mục tiêu và phạm
vi kiểm toán cần phải xác định cụ thể đối với từng mục kiểm toán . Mục tiêu
kiểm toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả kiểm toán cho mỗi
chu trình kiểm toán cụ thể. Mục tiêu chung phải gắn với mục tiêu riêng yêu cầu
của quản lý. Do vậy, mục tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ
thể và khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình cụ thể. Phạm vi kiểm toán là
Giai đoạn 1
Lập kế hoạch thiết kế phơng pháp
kiểm toán của chu trình bán hàng
- thu tiền
Thực hiện kiểm toán chu trình
bán hàng - thu tiền
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Hoàn tất công tác kiểm toán và
công bố báo cáo kiểm toán
sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tợng kiểm toán, thờng đợc xác
định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hớng cụ thể xác định mục tiêu
này với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tợng cụ thể của kiểm toán :
Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các bảng khai tài chính
- Thứ hai, chỉ định ngời phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều
kiện vật chất cơ bản. Để thực hiện tốt và có hiệu quả cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính thì lãnh đạo công ty kiểm toán cần bố trí đội ngũ nhân viên có trình độ
nghề nghiệp tuỳ thuộc vào nhu cầu của cuộc kiểm toán, hay tuỳ thuộc vào đặc
điểm của cuộc kiểm toán đó.
- Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán. Sau khi thực hiện xong các bớc công việc
trên thì Công ty kiểm toán và khách hàng sẽ lập hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng
kiểm toán là tài liệu nêu rõ trách nhiệm của Công ty kiểm toán, trách nhiệm của
Công ty khách hàng, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán , giá phí kiểm toán hay
phạm vi cuộc kiểm toán.
- Thứ t, thu thập những thông tin phục vụ cho việc kiểm toán: Để thực hiện
tốt công việc kiểm toán nói chung và kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói
riêng thì kiểm toán viên cần phải có những hiểu biết về công việc kinh doanh của
khách hàng và kiến thức về lĩnh vực kinh doanh của Công ty khách hàng. Khi tiến
hành kiểm toán có rất nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin cơ sở. Thông
thờng thông tin cơ sở đợc thu thập dới các hình thức sau :
Qua tìm hiểu về doanh nghiệp: kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về
doanh nghiệp để thu thập những thông tin về cơ cấu tổ chức, loại hình
kinh doanh hat phơng pháp kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.
Qua tham quan nhà xởng: Tất cả những thông tin thu thập đợc qua tìm
hiểu doanh nghiệp chủ yếu trên giấy tờ, tài liệu ở văn phòng của Công
ty. Do đó, tham quan nhà xởng sẽ giúp cho kiểm toán viên có cách
nhìn thực tế hơn về các phơng tiện vật chất, giúp cho việc hiểu biết đ-
ợc công tác bảo vệ tài sản và giúp cho việc thuyết minh số liệu kế toán
bằng cách đa ra một khung tham gia qua đó hình dung ra những tài
Dưới vi phân của hàm lồi và một số ứng dụng trong tối ưu
ế tứ ề t ồ
ồ
r ú t sẽ ệ ớ ề tr
trờ số tự R ợ í ệ R
n
ớ tệ ữ ệ t ủ t ồ ồ ù ớ ữ
tí t tr ủ ó ế tứ ở tr ợ ở t
ệ
trì tí ồ ứ ụ ủ t ũ
ễ ề
ố ss ủ t r
ỉ tí t ổ trợ t ứ
ết q ở
ồ
ị ĩ t ố ể tr R
n
t ợ
ét ó
{x R
n
| x = a + b , 0 , 0 , + = 1}.
ị ĩ ột t C R
n
ợ ọ ột t ồ ế C ứ ọ
t q ể t ỳ ủ ó ứ
C ồ ỉ x, y C, [0, 1] = x + (1 )y C.
í ụ ề t ồ
C = R
2
+
t ồ
C = [2; 3) t ồ
C oxy tr R
3
t ồ
t ì trò tr t t ồ
í ụ ề t ồ
C = (2; 0) (0; 3) t ồ
C = {(x, y) R
2
| xy = 0} t ồ
ị ĩ ó tổ ợ ồ ủ ể ét x
1
, , x
k
ế
x =
k
j=1
j
x
j
,
j
0 , j = 1, , k ,
k
j=1
j
= 1.
ị ĩ tr R
n
ột t ợ ể
ó
{x R
n
| a
T
x = },
tr ó a R
n
ột ét R
ét tờ ợ ọ ét tế ủ s ột s
sẽ r ử ử ợ ị
ĩ s
ị ĩ ử ột t ợ ó
{x | a
T
x },
tr ó a = 0 R ử ó
ị ĩ C R
n
ột t ồ x C
N
C
(x) := { | , y x 0 , y C},
ợ ọ ó tế ủ C t
ét N
C
(x) ột ó ồ ó
í ụ r R
2
ét t C = R
2
+
N
C
(0) = { | , y 0 0 , y C}
= { |
2
i=1
i
y
i
0}
= { |
i
0}.
ị ĩ ột ể a C ợ ọ ể tr t ố ủ C
ế ó ể tr ủ C t t s ở a C
sẽ ý ệ t ợ ể tr t ố ủ C ri C ị
ĩ tr t ó
ri C := {a C | B : (a + B) a C C},
tr ó B ột ở ủ ố ể
ri C := {a a C | B : (a + B) a C C}.
tờ ệ t ý ệ C ó ủ C ợ C \ ri C ợ
ọ t ố ủ C
ệ ề C R
n
ột t ồ sử x ri C ó ớ ọ
y C tt ể tr t ố ó tể trừ ề tộ
ri C ó ớ ọ 0 < 1 tì (1 ) ri C + C ri C
ị ĩ ột ờ t ố ể ét tr R
n
t ợ tt ét x R
n
ó
{x R
n
| x = a + b , , R , + = 1}.
ị ĩ ột t C ợ ọ t ế ó ứ ọ ờ
t q ể t ỳ ủ ó tứ
x, y C , R = x + (1 )y C.
í ụ ề t
C = R
2
t ột t
ét ột trờ ợ r ủ t ồ
ị ĩ ồ ủ ột t E ủ tt t ồ ứ
E ồ ủ ột t E sẽ ợ ý ệ coE
ồ ó ủ ột t E t ồ ó ỏ t ứ E sẽ ý
ệ ồ ó ủ ột t E coE
ủ E ủ tt t ứ E
ủ ột t E sẽ ợ ý ệ a E
ị ĩ E R
n
ể ợ ọ ể tr ủ E ế tồ t ột ở U(a)
ủ s U(a) E
ý ệ t ợ ể tr ủ t E intE B q
ị t ở ố ó t ị ĩ t ó
intE = {x | r > 0 : x + rB E}.
ể ợ ọ ể ủ E ế ọ ủ ề ó ể
tộ E ể tộ E
E ợ ọ t ở ế ọ ể ủ E ề ể tr ủ E
E ợ ọ t ó ế E ứ ọ ể ủ ó
E ợ ọ ị ế tồ t ột ì ứ E
r R
n
t E ợ ọ t ế E ột t ó ị
ị ĩ ột t ồ
ột t F C ợ ọ ột ệ ủ ột t ồ C ế
F t ồ x, y C , tx + (1 t)y F , 0 < t < 1 = [x, y] F.
í ụ C := {(x, y, z) R
3
| x, y, z [0, 1]}
F
1
:= {(x, y, z) R
3
| x, y [0, 1], z = 0} ột ệ ủ t C
F
2
:= {(x, y, z) R
3
| y [0, 1], x = 1, z = 0} ột ệ ủ t
C
ể ự ệ ó tứ ề
ị ĩ x
0
C ó a
T
x = s tự ủ C t
x
0
ế
a
T
x
0
= , a
T
x x C.
s tự ủ C t x
0
C s q x
0
ể
t C ề ột í ử a
T
x tr ị ĩ tr ợ ọ
ử tự ủ C t x
0
ị ý r
ọ t ồ ó rỗ ứ ờ t ề ó ể ự
ị ý ỉ tế tí t ồ
ọ t ồ ó rỗ trù ớ t ộ ề
ủ tt ử tự ủ ó
ị ĩ t C D rỗ
ó s a
T
x = t C D ế
a
T
x a
T
y , x C , y D.
ó s a
T
x = t t C D ế
a
T
x < < a
T
y , x C , y D.
ó s a
T
x = t C D ế
Sup
xC
a
T
x < < inf
yD
a
T
y.
í ụ t t
t
C = {(x, y) R
2
| x
2
+ y
2
1},
D = {(x, y) R
2
| 1 x 1, 1 y 3}.
ó
C D rỗ
C, D t ợ ì tồ t s (0, 1)(x, y) = 1 t
(0, 1)(x, y) 1 (0, 1)(x
, y
) (x, y) C,(x
, y
) D.
y 1 y
(x, y) C,(x
, y
) D.
C, D t t ợ ì tồ t s
(a
1
, a
2
)(x, y) = t
(a
1
, a
2
)(x, y) < < (a
1
, a
2
)(x
, y
) (x, y) C,(x
, y
) D.
í ụ t
t
C = {(x, y) R
2
| x 0, y = 0},
D = {(x, y) R
2
| y
1
x
, y > 0, x > 0}.
ó
C D rỗ
C, D t ợ ì tồ t s (0, 1)(x, y) = 0 t
(0, 1)(x, y) = 0 (0, 1)(x
, y
) (x, y) C,(x
, y
) D.
y = 0 y
(x, y) C,(x
, y
) D.
C, D t ợ ì
Sup
(x,y)C
(0, 1)(x, y) = 0,
inf
(x
,y
)D
(0, 1)(x
, y
) = 0.
ị ý ị ý t
C D t ồ rỗ tr R
n
s C D =
ó ó ột s t C D
ệ q ổ ề tộ
C R
n
ột t ồ rỗ sử x
0
C ó tồ t
t R
n
, t = 0 t
t, x t, x
0
x C.
ị ý ị ý t
C D t ồ ó rỗ s C D = sử
ó ít t ột t ó t ó tể t ợ ở
ột s
ệ q C R
n
ột t ồ ó rỗ s 0 C
ó tồ t ột ét t R
n
, t = 0 > 0 s
t, x > 0 , x C.
ồ
ồ
C R
n
f : C R {, +} sẽ í ệ
dom f := {x C | f(x) < +} dom f ợ ọ ề ữ
ụ ủ f
epi f := {(x, à) C ì R | f(x) à} epi f ợ ọ tr ồ tị
ủ f
f(x) = + ế x C t ó tể f ợ ị
tr t ể
dom f := {x R
n
| f(x) < +}.
epi f := {(x, à) R
n
ì R | f(x) à}.
ị ĩ = C R
n
ồ f : C R {, +}
ó f ồ tr C ế epi f ột t ồ tr R
n+1
t sẽ ủ ế ệ ớ f : R
n
R {+}r
trờ ợ ị ĩ tr t ớ
f : R
n
R {+} ồ tr C ế
f[x + (1 )y] f(x) + (1 )f(y) , x, y C , (0, 1)
f : R
n
R {+} ồ t tr C ế
f[x + (1 )y] < f(x) + (1 )f(y) , x, y C , (0, 1)
f : R
n
R {+} ồ tr C ớ ệ số ồ > 0
ế
f[x + (1 )y] f(x) + (1 )f(y)
1
2
(1 )||x y||
2
,
x, y C , (0, 1).
f ợ ọ ột õ tr C ế f ồ tr C
í ụ f(x) = a
T
x + , a R
n
, R
x, y R
n
, (0, 1) t ó
f[x + (1 )y] = a
T
[x + (1 )y] +
= a
T
x + (1 )a
T
y +
= a
T
x + + (1 )a
T
y + (1 )
= (a
T
x + ) + (1 )(a
T
y + )
= f(x) + (1 )f(y).
f ột ồ tr R
n
x, y R
n
, (0, 1) ó
f[x + (1 )y] = a
T
[x + (1 )y]
= a
T
x (1 )a
T
y
= a
T
x (1 )a
T
y (1 )
= (a
T
x + ) (1 )(a
T
y + )
= f(x) (1 )f(y).
f ột ồ tr R
n
r f ột õ tr R
n
í ụ ỉ C = ột t ồ
t
C
(x) :=
0 ế x C,
+ ế x C.
ó
C
ỉ ủ C
x, y C, (0, 1) t ó
C
(x) = 0 ,
C
(y) = 0
C ồ x + (1 )y C
r
C
[x + (1 )y] = 0 =
C
(x) + (1 )
C
(y)
x C,y C, (0, 1) t ó
C
(x) = 0 ,
C
(y) = + ,
C
[x + (1 )y] +
r
C
[x + (1 )y]
C
(x) + (1 )
C
(y)
x, y C, (0, 1) t ó
C
(x) = + ,
C
(y) = + ,
C
[x + (1 )y] +
r
C
[x + (1 )y]
C
(x) + (1 )
C
(y)
C
ồ tr R
n
í ụ tự
t S
C
(y) := Sup
xC
y, x ó S
C
tự ủ C
x, y C, (0, 1) t ó
S
C
[x + (1 )y] = Sup
zC
x + (1 )y, z
= Sup
zC
{x, z + (1 )y, z}
Sup
zC
x, z + Sup
zC
(1 )y, z
= Sup
zC
x, z + (1 ) Sup
zC
y, z
= S
C
(x) + (1 )S
C
(y).
S
C
ồ tr C
ị ĩ f : R
n
R {+} t tết ồ
C R
n
ột t ồ rỗ ột số tự
ó ệ số ồ ủ f tr C ế ớ ọ (0, 1) ớ ọ
x, y C t ó
f[(1 )x + y] (1 )f(x) + f(y)
1
2
(1 )||x y||
2
.
ế = 0 tì f ồ tr C
ế f ó ệ số ồ tr C > 0 tì f ồ tr C ớ ệ số
ị ĩ ột f : R
n
R{+} ợ ọ í tờ
ế dom f = f(x) > ớ ọ
ị ĩ f : R
n
R {+} ợ ọ ó ế epi f
ột t ó tr R
n+1
ú ý ế f ột ồ tr ột t ồ C tì ó tể t trể
f t t
f
e
(x) =
f(x) ế x C,
+ ế x C.
ể f
e
(x) = f(x) ớ ọ x C f
e
ồ tr R
n
ữ f
e
í tờ ỉ f í tờ tự f
e
ó ỉ
f ó
ế f ột ồ tr R
n
tì dom f ột t ồ ì dom f í
ì ế tr R
n
ủ epi f tứ
dom f = {x|à R : (x, à) epi f}.
ị ĩ f : R
n
R {+}
f ợ ọ t t tr R
n
ế
f(x) = f(x) x R
n
, > 0.
f ợ ọ ớ ộ tí ế f(x + y) f(x) + f(y) x, y
f ợ ọ ớ tế tí ế f t t ớ
ộ tí
í ụ f(x) = x ớ tế tí t
x R
n
, > 0 t ó f(x) = x = ||.x = x = f(x)
x, y R
n
t ó f(x + y) = x + y x + y = f(x) + f(y)
ệ ề f : R
n
R {+} ột t t
tr R
n
ó ồ ỉ ớ ộ tí
Điện động lực học lượng tử
Điện động lực học lượng tử 5
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
với
k
và
là tám hệ số cần đƣợc xác định. Khai triển vế phải của (7.12), ta đƣợc :
Để không có số hạng nào phụ thuộc tuyến tính vào p
k
, ta chọn
k
=
, sau cùng ta
cần tìm hệ số
k
sao cho :
tức là
Ta thấy rằng có thể chọn
0
= 1,
1
=
2
=
3
= 1, nhƣng dƣờng nhƣ không có cách
nào tránh khỏi ―các số hạng chéo‖. Ở điểm này, Dirac đã có một ý tƣởng sáng giá: nếu
là các ma trận thay vì các con số thì sẽ nhƣ thế nào ? Khi các ma trận là không giao hoán,
ta có thể tìm thấy một tập hợp sao cho :
với
Hay ngắn gọn hơn là:
với g
là ma trận Minkowski, và dấu móc nhọn thể hiện một phản giao hoán tử.
Ta có thể tự giải quyết vấn đề này một cách bình thƣờng. Điều này có thể thực hiện đƣợc,
mặc dù ma trận nhỏ nhất là 4 4. Có một số tập hợp tƣơng đƣơng các ―ma trận gamma‖;
ta sẽ sử dụng qui ƣớc chuẩn ― Bjorken và Drell ‖ :
Trong đó
i
(i = 1,2,3) là các ma trận Pauli đã chỉ ra, 1 biểu thị cho ma trận đơn vị cấp 2
2, 0 biểu thị cho ma trận cấp 2 2 của các số 0.
Điện động lực học lượng tử 6
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Nhƣ một phƣơng trình ma trận cấp 4 4, hệ thức năng – xung lƣợng tƣơng đối
tính cho ra thừa số :
Bây giờ ta thu đƣợc phƣơng trình Dirac khi tách ra một số hạng (vấn đề không phải là số
nào, mà đây là một cách chọn theo qui ƣớc):
Thực hiện sự thay thế thông thƣờng p
i
(phƣơng trình 7.5), và cho kết
quả tác dụng lên hàm sóng
:
( Phƣơng trình Dirac)
Lƣu ý rằng
là một ma trận cấp 4 4 :
Ta gọi đó là ― lƣỡng Spinor‖ hay ― Spin Dirac ‖ (Mặc dù nó gồm 4 thành phần nhƣng đó
không phải là vectơ 4 chiều. Trong phần 3 ta sẽ chỉ ra nó thay đổi nhƣ thế nào khi ta thay
đổi hệ quán tính; nó sẽ không phải là một phép biến đổi Lorenzt thông thƣờng).
2. Các nghiệm của phương trình Dirac
Bây giờ ta sẽ đi tìm các nghiệm đơn giản của phƣơng trình Dirac. Trƣớc hết giả sử
rằng
độc lập đối với vị trí :
Cùng với (7.5), phƣơng trình này mô tả một trạng thái có xung lƣợng lƣợng bằng
không( p = 0 ). Phƣơng trình Dirac giản ƣớc thành :
Hoặc :
Điện động lực học lượng tử 7
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Trong đó
mang hai thành phần phía trên, và
mang hai thành phần phía dƣới. Do đó
Và các nghiệm là :
Ta xem thừa số
nhƣ là sự phụ thuộc thời gian đặc trƣng của một trạng thái lƣợng tử với năng lƣợng E.
Đối với một hạt đứng thì E = mc
2
, do đó
A
trong trƣờng hợp p = 0 chính xác là cái mà
ta mong đợi. Nhƣng với
B
thì sao ? Dƣờng nhƣ nó mô tả một trạng thái với năng lƣợng
âm (E = -mc
2
). Đây là một thất bại lớn và là điều đầu tiên mà Dirac cố tránh bằng cách
giả thiết về một ―biển vô hạn‖ không nhìn thấy đƣợc của các hạt có năng lƣợng âm, nó
lấp đầy các trạng thái không mong muốn. Thay vì làm thế, bây giờ ta giải thích các
nghiệm ―năng lƣợng âm‖ bằng cách đƣa ra các phản hạt với năng lƣợng dƣơng. Theo đó,
ví dụ nhƣ
A
mô tả các electron thì
B
sẽ mô tả các positron. Mỗi hàm sóng là một
spinor hai thành phần, đúng với hệ có spin 1/2. Tóm lại, phƣơng trình Dirac với p = 0
thừa nhận bốn nghiệm độc lập (bỏ qua các thừa số chuẩn hóa )
Điện động lực học lượng tử 8
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
lần lƣợt mô tả một electron với spin hƣớng lên, một electron hƣớng xuống, một positron
với spin hƣớng lên và một positron với spin hƣớng xuống.
Tiếp theo ta đi tìm nghiệm sóng phẳng dƣới dạng :
hoặc theo kí hiệu gọn hơn :
(với a là hằng số chuẩn hóa, tuy không phù hợp với mục đích biểu diễn của ta nhƣng cần
thiết sau này để giữ cho đơn vị phù hợp). Ta hi vọng tìm thấy một lƣỡng spin u(p) sao
cho
(x) thỏa mãn phƣơng trình Dirac ( lúc này p
(E/c,p) chỉ đơn giản là một tập hợp
của bốn tham số tùy ý, nhƣng vì chúng biểu diễn cho năng lƣợng và xung lƣợng nên đơn
giản nhất là ta gán cho chúng các kí tự thích hợp ngay từ khi bắt đầu). Do sự phụ thuộc
vào x xác định bởi số mũ
Thay biểu thức này vào phƣơng trình Dirac (7.20), ta có :
hoặc
Phƣơng trình này đƣợc biết đến nhƣ là ―phƣơng trình Dirac trong không gian xung
lƣợng ‖. Lƣu ý rằng đó là một phƣơng trình thuần túy đại số và không có đạo hàm. Nếu u
thỏa mãn phƣơng trình (2.12) thì
(ở phƣơng trình 2.10) thỏa mãn phƣơng trình Dirac
(1.20).
Ta có :
Do đó :
Điện động lực học lượng tử 9
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Trong đó chỉ số dƣới A biểu thị cho hai thành phần phía trên và B biểu thị cho hai thành
phần phía dƣới. Để thỏa mãn phƣơng trình (2.12), ta phải có
Thay u
B
vào u
A
ta đƣợc :
Nhƣng do
Nên
với 1 là ma trận đơn vị cấp 2 2.
Vậy
Và do đó
Tức là để thỏa mãn phƣơng trình Dirac, E và p (ở phƣơng trình 2.10) phải tuân
theo hệ thức năng – xung lƣợng tƣơng đối tính. Phƣơng trình theo E ở (2.20) cho ta hai
nghiệm:
Nghiệm dƣơng ứng với các trạng thái hạt, nghiệm âm ứng với các trạng thái của
phản hạt.
Quay lại phƣơng trình (2.15) và sử dụng (2.17), vấn đề trở nên đơn giản khi xây
dựng bốn nghiệm độc lập của phƣơng trình Dirac (bỏ qua các thừa số chuẩn hóa)
Điện động lực học lượng tử 10
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
đặt
thì
đặt
thì
đặt
thì
đặt
thì
Với (1) và (2) ta phải dùng dấu cộng ở phƣơng trình (2.21), nếu không u
B
sẽ bất
định khi p 0, đây là điều dễ hiểu với hàm sóng các hạt. Với (3) và (4) ta buộc phải
dùng dấu trừ, đó là các trạng thái của phản hạt. Thông thƣờng ta chuẩn hóa các spinor
này theo cách sao cho
Với dấu cộng kí hiệu cho liên hợp chuyển vị (hay ―liên hợp Hermit‖)
Do đó
Vậy bốn nghiệm là :
(
với
)
Điện động lực học lượng tử 11
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
(
với
)
Và hằng số chuẩn hóa là
Có thể đoán nhận đƣợc u
(1)
mô tả một electron với spin hƣớng lên, u
(2)
với spin
xuống và cứ nhƣ thế, nhƣng không phải nhƣ vậy. Với các hạt Dirac, các ma trận spin là:
với
và có thể dễ dàng kiểm tra rằng u
(1)
, chẳng hạn, không phải là một trạng thái riêng của
z
.
Tuy nhiên, nếu ta hƣớng trục z theo chiều chuyển động thì (trƣờng hợp này p
x
= p
y
= 0)
thì u
(1)
, u
(2)
,u
(3)
và u
(4)
là các spinor riêng của S
z
; u
(1)
và u
(3)
là spin hƣớng lên, u
(2)
và u
(4)
là các spin hƣớng xuống.
Nhƣ đã nói ở phần trƣớc thì E và p (trong biểu thức 2.10) là các tham số toán học
tƣơng ứng năng lƣợng và xung lƣợng trong vật lí, và điều này hoàn toàn đúng cho các
trạng thái của electron, u
(1)
và u
(2)
. Tuy nhiên, E ở u
(3)
và u
(4)
không thể biểu thị cho năng
lƣợng của positron; tất cả các hạt tự do, nhƣ electron và positron, đều mang năng lƣợng
dƣơng. Nghiệm năng lƣợng âm phải đƣợc giải thích lại nhƣ các trạng thái phản hạt với
năng lƣợng dƣơng. Để biểu diễn các nghiệm này dƣới dạng năng lƣợng và xung lƣợng
của positron, chúng ta đảo các dấu của E và p :
[cho nghiệm (3) và (4)]
Chú ý rằng chúng giống với các nghiệm cũ trong phƣơng trình Dirac; ta chỉ đơn
giản là chấp nhận một qui ƣớc khác về dấu cho các tham số, để phù hợp hơn với ý nghĩa
vật lí của chúng. Ngƣời ta thƣờng sử dụng kí tự
cho các trạng thái của positron, đƣợc
biểu diễn dƣới dạng năng lƣợng và xung lƣợng :
Điện động lực học lượng tử 12
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
(với
)
Từ đó ta sẽ không đề cập đến u
(3)
và u
(4)
nữa; các nghiệm ta sẽ dùng là u
(1)
, u
(2)
(biểu diễn hai trạng thái spin của một electron với năng lƣợng E và xung lƣợng p) và
(1)
,
(2)
(biểu diễn hai trạng thái spin của positron với năng lƣợng E và xung lƣợng p).
Lƣu ý rằng trong khi u thỏa mãn phƣơng trình Dirac (2.13) trong không gian xung lƣợng
dƣới dạng
Thì tuân theo phƣơng trình với dấu của p
ngƣợc lại :
Một cách ngẫu nhiên, sóng phẳng là các nghiệm đặc biệt của phƣơng trình Dirac.
Chúng mô tả các hạt với các năng lƣợng và xung lƣợng đặc trƣng, và trong một thí
nghiệm đơn giản chúng là các tham số mà ta có thể đo và điều chỉnh đƣợc.
3. Hiệp biến song tuyến tính
Ta đã đề cập đến trong phần 1 rằng các thành phần của một spinor Dirac không
biến đổi nhƣ một vectơ bốn chiều khi ta chuyển từ hệ quán tính sang một hệ khác. Vậy
chúng chuyển đổi nhƣ thế nào ? Ta sẽ không nói cụ thể ở đây mà chỉ trích dẫn ra kết quả:
Nếu ta đến một hệ đang dịch chuyển với tốc độ v theo phƣơng x thì qui tắc biến đổi sẽ là
Điện động lực học lượng tử 13
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
với S là ma trận cấp 4 4
với
và .
Giả sừ ta muốn xây dựng một đại lƣợng vô hƣớng không có một spinor
. Ta thử
biểu thức
Nhƣng đó lại không phải là một vô hƣớng, ta có thể kiểm tra bằng cách áp dụng qui tắc
biến đổi đã có:
Thật vậy:
Dĩ nhiên, tổng các bình phƣơng của các yếu tố của vectơ bốn chiều là bất biến, ta
cần các dấu trừ ― - ‖ cho các thành phần không gian. Với một phép thử-và-lỗi nhỏ ta sẽ
khám phá ra rằng trong trƣờng hợp các spinor, ta cần các dấu trừ cho thành phần thứ 3 và
thứ 4. Do đó ta sẽ đƣa ra phép hiệp biến vectơ bốn chiều để giữ nguyên các kí hiệu về
dấu, bây giờ ta sẽ trình bày hàm liên hiệp:
Ta thừa nhận đại lƣợng
là bất biến tƣơng đối tính. Với S
+
0
S =
0
, và do đó :
Ta đã phân biệt đƣợc vô hƣớng và giả vô hƣớng theo các tính chất của chúng theo
các phép biến đổi chẳn lẽ, P: (x,y,z)
(-x,-y,-z) . Các giả vô hƣớng thay đổi dấu, còn các
vô hƣớng thì không. Vậy là vô hƣớng hay giả vô hƣớng? Trƣớc hết ta cần biết spinor.
Dirac biến đổi nhƣ thế nào theo P. Một lần nữa, ta sẽ không thiết lập nó mà chỉ trích dẫn
kết quả :
Điện động lực học lượng tử 14
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Theo đó
Vì thế ( ) là bất biến theo phép biến đổi chẵn- lẽ, nó là một vô hƣớng. Nhƣng ta cũng
có thể đồng thời thực hiện một giả vô hƣớng không có
:
với
Theo phép biến đổi chẵn lẽ
[lƣu ý là (
0
)
2
= 1].
0
ở ngƣợc phía với
5
nhƣng ta có thể đảo vị trí của chúng bằng cách
lƣu ý rằng nó phản giao hoán với
1
,
2
và
3
(phƣơng trình 7.15) và tự giao hoán với
chính nó (
3
0
= -
0
3
,
2
0
= -
0
2
,
1
0
= -
0
1
,
0
0
=
0
0
)
do đó
Tƣơng tự,
5
cũng phản giao hoán với các ma trận khác:
Trong bất kì trƣờng hợp nào thì
do đó nó là một giả vô hƣớng.
Nhƣ vậy, có 16 tích có dạng
i
*
j
(lấy một thành phần của
* và một thành
phần của
) khi i, j chạy từ 1 đến 4. Mƣời sáu tích này có thể cộng lại với nhau theo
những tổ hợp tuyến tính khác nhau để xây dựng nên các đại lƣợng với các tính chất dịch
chuyển dễ nhận thấy, nhƣ là :
= vô hƣớng (1 thành phần)
= giả vô hƣớng (1 thành phần)
= vectơ (4 thành phần)
= giả vectơ (4 thành phần)
= tenxơ phản xứng (6 thành phần)
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
với
k
và
là tám hệ số cần đƣợc xác định. Khai triển vế phải của (7.12), ta đƣợc :
Để không có số hạng nào phụ thuộc tuyến tính vào p
k
, ta chọn
k
=
, sau cùng ta
cần tìm hệ số
k
sao cho :
tức là
Ta thấy rằng có thể chọn
0
= 1,
1
=
2
=
3
= 1, nhƣng dƣờng nhƣ không có cách
nào tránh khỏi ―các số hạng chéo‖. Ở điểm này, Dirac đã có một ý tƣởng sáng giá: nếu
là các ma trận thay vì các con số thì sẽ nhƣ thế nào ? Khi các ma trận là không giao hoán,
ta có thể tìm thấy một tập hợp sao cho :
với
Hay ngắn gọn hơn là:
với g
là ma trận Minkowski, và dấu móc nhọn thể hiện một phản giao hoán tử.
Ta có thể tự giải quyết vấn đề này một cách bình thƣờng. Điều này có thể thực hiện đƣợc,
mặc dù ma trận nhỏ nhất là 4 4. Có một số tập hợp tƣơng đƣơng các ―ma trận gamma‖;
ta sẽ sử dụng qui ƣớc chuẩn ― Bjorken và Drell ‖ :
Trong đó
i
(i = 1,2,3) là các ma trận Pauli đã chỉ ra, 1 biểu thị cho ma trận đơn vị cấp 2
2, 0 biểu thị cho ma trận cấp 2 2 của các số 0.
Điện động lực học lượng tử 6
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Nhƣ một phƣơng trình ma trận cấp 4 4, hệ thức năng – xung lƣợng tƣơng đối
tính cho ra thừa số :
Bây giờ ta thu đƣợc phƣơng trình Dirac khi tách ra một số hạng (vấn đề không phải là số
nào, mà đây là một cách chọn theo qui ƣớc):
Thực hiện sự thay thế thông thƣờng p
i
(phƣơng trình 7.5), và cho kết
quả tác dụng lên hàm sóng
:
( Phƣơng trình Dirac)
Lƣu ý rằng
là một ma trận cấp 4 4 :
Ta gọi đó là ― lƣỡng Spinor‖ hay ― Spin Dirac ‖ (Mặc dù nó gồm 4 thành phần nhƣng đó
không phải là vectơ 4 chiều. Trong phần 3 ta sẽ chỉ ra nó thay đổi nhƣ thế nào khi ta thay
đổi hệ quán tính; nó sẽ không phải là một phép biến đổi Lorenzt thông thƣờng).
2. Các nghiệm của phương trình Dirac
Bây giờ ta sẽ đi tìm các nghiệm đơn giản của phƣơng trình Dirac. Trƣớc hết giả sử
rằng
độc lập đối với vị trí :
Cùng với (7.5), phƣơng trình này mô tả một trạng thái có xung lƣợng lƣợng bằng
không( p = 0 ). Phƣơng trình Dirac giản ƣớc thành :
Hoặc :
Điện động lực học lượng tử 7
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Trong đó
mang hai thành phần phía trên, và
mang hai thành phần phía dƣới. Do đó
Và các nghiệm là :
Ta xem thừa số
nhƣ là sự phụ thuộc thời gian đặc trƣng của một trạng thái lƣợng tử với năng lƣợng E.
Đối với một hạt đứng thì E = mc
2
, do đó
A
trong trƣờng hợp p = 0 chính xác là cái mà
ta mong đợi. Nhƣng với
B
thì sao ? Dƣờng nhƣ nó mô tả một trạng thái với năng lƣợng
âm (E = -mc
2
). Đây là một thất bại lớn và là điều đầu tiên mà Dirac cố tránh bằng cách
giả thiết về một ―biển vô hạn‖ không nhìn thấy đƣợc của các hạt có năng lƣợng âm, nó
lấp đầy các trạng thái không mong muốn. Thay vì làm thế, bây giờ ta giải thích các
nghiệm ―năng lƣợng âm‖ bằng cách đƣa ra các phản hạt với năng lƣợng dƣơng. Theo đó,
ví dụ nhƣ
A
mô tả các electron thì
B
sẽ mô tả các positron. Mỗi hàm sóng là một
spinor hai thành phần, đúng với hệ có spin 1/2. Tóm lại, phƣơng trình Dirac với p = 0
thừa nhận bốn nghiệm độc lập (bỏ qua các thừa số chuẩn hóa )
Điện động lực học lượng tử 8
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
lần lƣợt mô tả một electron với spin hƣớng lên, một electron hƣớng xuống, một positron
với spin hƣớng lên và một positron với spin hƣớng xuống.
Tiếp theo ta đi tìm nghiệm sóng phẳng dƣới dạng :
hoặc theo kí hiệu gọn hơn :
(với a là hằng số chuẩn hóa, tuy không phù hợp với mục đích biểu diễn của ta nhƣng cần
thiết sau này để giữ cho đơn vị phù hợp). Ta hi vọng tìm thấy một lƣỡng spin u(p) sao
cho
(x) thỏa mãn phƣơng trình Dirac ( lúc này p
(E/c,p) chỉ đơn giản là một tập hợp
của bốn tham số tùy ý, nhƣng vì chúng biểu diễn cho năng lƣợng và xung lƣợng nên đơn
giản nhất là ta gán cho chúng các kí tự thích hợp ngay từ khi bắt đầu). Do sự phụ thuộc
vào x xác định bởi số mũ
Thay biểu thức này vào phƣơng trình Dirac (7.20), ta có :
hoặc
Phƣơng trình này đƣợc biết đến nhƣ là ―phƣơng trình Dirac trong không gian xung
lƣợng ‖. Lƣu ý rằng đó là một phƣơng trình thuần túy đại số và không có đạo hàm. Nếu u
thỏa mãn phƣơng trình (2.12) thì
(ở phƣơng trình 2.10) thỏa mãn phƣơng trình Dirac
(1.20).
Ta có :
Do đó :
Điện động lực học lượng tử 9
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Trong đó chỉ số dƣới A biểu thị cho hai thành phần phía trên và B biểu thị cho hai thành
phần phía dƣới. Để thỏa mãn phƣơng trình (2.12), ta phải có
Thay u
B
vào u
A
ta đƣợc :
Nhƣng do
Nên
với 1 là ma trận đơn vị cấp 2 2.
Vậy
Và do đó
Tức là để thỏa mãn phƣơng trình Dirac, E và p (ở phƣơng trình 2.10) phải tuân
theo hệ thức năng – xung lƣợng tƣơng đối tính. Phƣơng trình theo E ở (2.20) cho ta hai
nghiệm:
Nghiệm dƣơng ứng với các trạng thái hạt, nghiệm âm ứng với các trạng thái của
phản hạt.
Quay lại phƣơng trình (2.15) và sử dụng (2.17), vấn đề trở nên đơn giản khi xây
dựng bốn nghiệm độc lập của phƣơng trình Dirac (bỏ qua các thừa số chuẩn hóa)
Điện động lực học lượng tử 10
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
đặt
thì
đặt
thì
đặt
thì
đặt
thì
Với (1) và (2) ta phải dùng dấu cộng ở phƣơng trình (2.21), nếu không u
B
sẽ bất
định khi p 0, đây là điều dễ hiểu với hàm sóng các hạt. Với (3) và (4) ta buộc phải
dùng dấu trừ, đó là các trạng thái của phản hạt. Thông thƣờng ta chuẩn hóa các spinor
này theo cách sao cho
Với dấu cộng kí hiệu cho liên hợp chuyển vị (hay ―liên hợp Hermit‖)
Do đó
Vậy bốn nghiệm là :
(
với
)
Điện động lực học lượng tử 11
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
(
với
)
Và hằng số chuẩn hóa là
Có thể đoán nhận đƣợc u
(1)
mô tả một electron với spin hƣớng lên, u
(2)
với spin
xuống và cứ nhƣ thế, nhƣng không phải nhƣ vậy. Với các hạt Dirac, các ma trận spin là:
với
và có thể dễ dàng kiểm tra rằng u
(1)
, chẳng hạn, không phải là một trạng thái riêng của
z
.
Tuy nhiên, nếu ta hƣớng trục z theo chiều chuyển động thì (trƣờng hợp này p
x
= p
y
= 0)
thì u
(1)
, u
(2)
,u
(3)
và u
(4)
là các spinor riêng của S
z
; u
(1)
và u
(3)
là spin hƣớng lên, u
(2)
và u
(4)
là các spin hƣớng xuống.
Nhƣ đã nói ở phần trƣớc thì E và p (trong biểu thức 2.10) là các tham số toán học
tƣơng ứng năng lƣợng và xung lƣợng trong vật lí, và điều này hoàn toàn đúng cho các
trạng thái của electron, u
(1)
và u
(2)
. Tuy nhiên, E ở u
(3)
và u
(4)
không thể biểu thị cho năng
lƣợng của positron; tất cả các hạt tự do, nhƣ electron và positron, đều mang năng lƣợng
dƣơng. Nghiệm năng lƣợng âm phải đƣợc giải thích lại nhƣ các trạng thái phản hạt với
năng lƣợng dƣơng. Để biểu diễn các nghiệm này dƣới dạng năng lƣợng và xung lƣợng
của positron, chúng ta đảo các dấu của E và p :
[cho nghiệm (3) và (4)]
Chú ý rằng chúng giống với các nghiệm cũ trong phƣơng trình Dirac; ta chỉ đơn
giản là chấp nhận một qui ƣớc khác về dấu cho các tham số, để phù hợp hơn với ý nghĩa
vật lí của chúng. Ngƣời ta thƣờng sử dụng kí tự
cho các trạng thái của positron, đƣợc
biểu diễn dƣới dạng năng lƣợng và xung lƣợng :
Điện động lực học lượng tử 12
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
(với
)
Từ đó ta sẽ không đề cập đến u
(3)
và u
(4)
nữa; các nghiệm ta sẽ dùng là u
(1)
, u
(2)
(biểu diễn hai trạng thái spin của một electron với năng lƣợng E và xung lƣợng p) và
(1)
,
(2)
(biểu diễn hai trạng thái spin của positron với năng lƣợng E và xung lƣợng p).
Lƣu ý rằng trong khi u thỏa mãn phƣơng trình Dirac (2.13) trong không gian xung lƣợng
dƣới dạng
Thì tuân theo phƣơng trình với dấu của p
ngƣợc lại :
Một cách ngẫu nhiên, sóng phẳng là các nghiệm đặc biệt của phƣơng trình Dirac.
Chúng mô tả các hạt với các năng lƣợng và xung lƣợng đặc trƣng, và trong một thí
nghiệm đơn giản chúng là các tham số mà ta có thể đo và điều chỉnh đƣợc.
3. Hiệp biến song tuyến tính
Ta đã đề cập đến trong phần 1 rằng các thành phần của một spinor Dirac không
biến đổi nhƣ một vectơ bốn chiều khi ta chuyển từ hệ quán tính sang một hệ khác. Vậy
chúng chuyển đổi nhƣ thế nào ? Ta sẽ không nói cụ thể ở đây mà chỉ trích dẫn ra kết quả:
Nếu ta đến một hệ đang dịch chuyển với tốc độ v theo phƣơng x thì qui tắc biến đổi sẽ là
Điện động lực học lượng tử 13
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
với S là ma trận cấp 4 4
với
và .
Giả sừ ta muốn xây dựng một đại lƣợng vô hƣớng không có một spinor
. Ta thử
biểu thức
Nhƣng đó lại không phải là một vô hƣớng, ta có thể kiểm tra bằng cách áp dụng qui tắc
biến đổi đã có:
Thật vậy:
Dĩ nhiên, tổng các bình phƣơng của các yếu tố của vectơ bốn chiều là bất biến, ta
cần các dấu trừ ― - ‖ cho các thành phần không gian. Với một phép thử-và-lỗi nhỏ ta sẽ
khám phá ra rằng trong trƣờng hợp các spinor, ta cần các dấu trừ cho thành phần thứ 3 và
thứ 4. Do đó ta sẽ đƣa ra phép hiệp biến vectơ bốn chiều để giữ nguyên các kí hiệu về
dấu, bây giờ ta sẽ trình bày hàm liên hiệp:
Ta thừa nhận đại lƣợng
là bất biến tƣơng đối tính. Với S
+
0
S =
0
, và do đó :
Ta đã phân biệt đƣợc vô hƣớng và giả vô hƣớng theo các tính chất của chúng theo
các phép biến đổi chẳn lẽ, P: (x,y,z)
(-x,-y,-z) . Các giả vô hƣớng thay đổi dấu, còn các
vô hƣớng thì không. Vậy là vô hƣớng hay giả vô hƣớng? Trƣớc hết ta cần biết spinor.
Dirac biến đổi nhƣ thế nào theo P. Một lần nữa, ta sẽ không thiết lập nó mà chỉ trích dẫn
kết quả :
Điện động lực học lượng tử 14
Hà Nam Thanh Năm học 2009-2010
Theo đó
Vì thế ( ) là bất biến theo phép biến đổi chẵn- lẽ, nó là một vô hƣớng. Nhƣng ta cũng
có thể đồng thời thực hiện một giả vô hƣớng không có
:
với
Theo phép biến đổi chẵn lẽ
[lƣu ý là (
0
)
2
= 1].
0
ở ngƣợc phía với
5
nhƣng ta có thể đảo vị trí của chúng bằng cách
lƣu ý rằng nó phản giao hoán với
1
,
2
và
3
(phƣơng trình 7.15) và tự giao hoán với
chính nó (
3
0
= -
0
3
,
2
0
= -
0
2
,
1
0
= -
0
1
,
0
0
=
0
0
)
do đó
Tƣơng tự,
5
cũng phản giao hoán với các ma trận khác:
Trong bất kì trƣờng hợp nào thì
do đó nó là một giả vô hƣớng.
Nhƣ vậy, có 16 tích có dạng
i
*
j
(lấy một thành phần của
* và một thành
phần của
) khi i, j chạy từ 1 đến 4. Mƣời sáu tích này có thể cộng lại với nhau theo
những tổ hợp tuyến tính khác nhau để xây dựng nên các đại lƣợng với các tính chất dịch
chuyển dễ nhận thấy, nhƣ là :
= vô hƣớng (1 thành phần)
= giả vô hƣớng (1 thành phần)
= vectơ (4 thành phần)
= giả vectơ (4 thành phần)
= tenxơ phản xứng (6 thành phần)
Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh thái nguyên theo định hướng chuẩn hoá.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
cho họ phát huy sở trường, sở đoản hay không? Cơ chế chậm đổi mới ở mỗi
Trung tâm giáo dục thường xuyên sẽ kìm hãm năng lực cá nhân, không phát
huy được những tài năng. Thực trạng thừa thầy, thiếu thợ, người làm cụ thể
thì ít còn người "chỉ tay năm ngón” thì nhiều cũng là vấn đề nổi cộm, bất cập
đòi hỏi phải khắc phục ngay.
Những điều nêu trên để đi đến mục đích mà tôi muốn đề cập: Làm thế
nào để năng lực của mỗi giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện tỉnh Thái Nguyên được phát huy, tất cả giáo viên tâm huyết với nghề
của mình. Dĩ nhiên mỗi cá nhân phải cố gắng rất nhiều mới có thể đáp ứng
mọi công việc khi được tổ chức phân công. Điều này đụng chạm tới việc
tuyển chọn, sắp xếp, bố trí nhân sự cần có những chuẩn mực, thực sự khách
quan, công bằng. Yêu cầu của giáo viên trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong thời hội nhập kinh tế quốc tế không cho phép ai đó "lơ
mơ”, qua loa đại khái với công việc, không hiểu việc, không biết làm việc.
Năng lực của mỗi cá nhân khi được phát huy đúng nơi, đúng chỗ tạo nên chất
lượng giáo dục toàn diện đạt hiệu quả cao, đó chắc chắn là một thực tế. Cần
có chiến lược đào tạo chuyên sâu, tạo nên những con người thực sự tâm huyết
với nghề. Đồng thời, việc tuyển dụng phải đạt tối đa tiêu chuẩn chất lượng
công việc yêu cầu. Mỗi cá nhân khi được phát huy sở trường, sở đoản, nhiều
cá nhân hợp thành đội ngũ gắn kết, làm việc có hiệu quả. Mong mỏi này
không của riêng tôi mà là của toàn xã hội.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, tôi chọn đề tài “ Biện pháp phát triển
đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh
Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá”
2. Môc ®Ých nghiªn cøu
Vận dụng quan điểm chuẩn hoá để đề xuất các biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái
Nguyên trong những năm tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
+Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở các
trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Thái Nguyên.
+Đối tượng nghiên cứu: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các
Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên theo quan
điểm chuẩn hoá.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các Trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên do nhiều nguyên nhân, đang thiếu
về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu, hiệu quả đào tạo thấp, công tác phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh
Thái Nguyên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới trong thời kỳ CNH,HĐH đất
nước.
Nếu xây dựng được hệ thống biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
các Trung tâm GDTX cấp huyện theo định hướng chuẩn hoá sẽ tác động trực
tiếp đến các thành tố cấu trúc của ĐNGV; góp phần nâng cao uy tín và chất
lượng nhà giáo, phát triển đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng giáo dục
ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa lý luận về công tác phát triển giáo viên nói chung và
phát triển đội ngũ giáo viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện theo định hướng chuẩn hoá.
5.2. Đánh giá thực trạng ĐNGV và công tác phát triển đội ngũ giáo
viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên.
5.3. Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
5.4. Thử nghiệm các biện pháp phát triển ĐNGV các Trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu: Ngoài những biện pháp quản lý của chủ thể
quản lý ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên, đề
tài luận án tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của các chủ thể quản lý ở
tầm vi mô, đặc biệt là các biện pháp của sở giáo dục và đào tạo đối với ĐNGV
các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện của tỉnh thái Nguyên.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn và nghiên cứu thử
nghiệm được triển khai ở các Trung tâm GDTX cấp huyện của tỉnh thái
Nguyên.
7. Phƣơng pháp nghiên cƣú
- Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái
quát hoá trong nghiên cứu các nguồn taì liệu và thực tiễn có liên quan tới phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều
tra và biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường
xuyên cấp huyện.
- Phương pháp thống kê số liệu các đề tài nghiên cứu khoa học của các
cán bộ quản lý giáo dục, tổng hợp các báo cáo nhận xét về kết quả nghiên cứu
của đề tài.
- Phương pháp trò truyện, phỏng vấn đối với cán bộ quản lý, giáo viên
giảng dạy ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái
Nguyên để thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động quản lý và phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện thuộc
tỉnh Thái Nguyên.
8. Cấu trúc luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn cấu trúc gồm
3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển về phát triển đội ngũ giáo viên
các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên theo định
hướng chuẩn hoá.
Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng III: Vận dụng quan điểm chuẩn hoá đề xuất biện pháp phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh
Thái Nguyên .
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo và mục lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
THEO ĐỊNH HƢỚNG CHUẨN HÓA
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lich sử nghiên cứu các vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với
lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Hơn 60 năm xây dựng và phát
triển, nền giáo dục nước ta đã xây dựng đựơc một hệ thống giáo dục hoàn
chỉnh từ giáo dục Mầm non đến giáo dục Đại học đáp ứng một cách tích cực
nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài của
xã hội, hơn sáu mươi năm phát triển đội ngũ giáo viên trong hệ thống giáo
dục Việt Nam.
Vấn đề bồi dưỡng ĐNGV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “… nếu không có thầy giáo
thì không có giáo dục…”, Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy
học … có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần
xây dựng CNXH và CNCS “… Các thầy, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ
vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, “… các cô, các chú đã thấy trách nhiệm
to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao
thêm mãi mới làm tròn nhiệm vụ” .
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và
Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây
dựng và phát triển đội ngũ giáo viên; trong đó có việc nghiên cứu về đội ngũ
giáo viên. Trên cơ sở đó, nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển
khai dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT. Tiêu biểu trong các nghiên cứu đó là
những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của đội ngũ giáo viên các
cấp học, bậc học và mô hình nhân cách của người cán bộ quản lý nhà trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên còn được thực hiện dưới góc độ quản
lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề đội
ngũ giáo viên dưới góc độ quản lý theo ngành học, bậc học đã được thực hiện.
Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn
Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hoàn, Trần Bá Hoành… Việc xây dựng đội ngũ
giáo viên cũng được một số công trình nghiên cứu, đề cập. Tại hội thảo khoa
học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa sư phạm -
Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của nhiều tác giả
như Trần Bá Hoành … cũng đã đề cập đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên
trước nhiệm vụ mới của GD&ĐT
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục rất quan tâm đến
vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trong bài viết “Chất lượng
giáo viên” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2001 của tác giả Trần Bá
Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ các góc độ như: Đặc
điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi chức năng của người giáo viên
trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng giáo
viên và chất lượng ĐNGV, các thành tố tạo nên chất lượng giáo viên là phẩm
chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của giáo viên đựơc
thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, mến trẻ; năng lực của giáo viên bao
gồm: Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực
thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan
sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên
là: Quá trình đào tạo , sử dụng và bồi dưỡng giáo viên; hoàn cảnh, điều kiện
lao động sư phạm của giáo viên; ý chí, thói quen và năng lực tự học của giáo
viên. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề giáo viên: phải đổi mới công
tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng giáo viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Trong bài “ Nghề và nghiệp của người giáo viên” tại hội thảo nâng cao
chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, đã đề cập đến tính chất nghề nghiệp
của người giáo viên. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “ lý tưởng sư phạm”,
cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của người giáo viên,
thôi thúc những người giáo viên sáng tạo, thúc đẩy những người giáo viên
không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó tác giả đê nghị cần phải xây
dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó giáo viên trong
quan hệ với nhau có sự sẻ chia “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu
về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền tảng của mô hình đào tạo
giáo viên thế kỷ XXI: Sáng tạo và hiệu quả .
Trong bài “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất
lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả
Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách
phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên
OECD. Tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo
viên có năng lực qua sự phân tích qua 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận
năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập những chính sách cải
thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp độ vĩ mô và vi mô; từ đó, tác giả
nhấn mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định đến chất lượng giáo viên là: Bản
thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài.
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển
giáo dục - đào tạo; để giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” trong sự
nghiệp đổi mới đất nước; vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước vừa nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2001 - 2010 đã xác định một trong những giải pháp quan trọng để phát triển
giáo dục Quốc gia là: “phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về
cơ cấu và chuẩn chất lượng”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Trong chương trình đào tạo sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo
dục, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống. Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu
thuộc lĩnh vực quản lý nhân sự trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển
đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên
theo bậc học và ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo viên của
các trường Đại học, Cao đẳng và khối Trung học chuyên nghiệp. Nghiên cứu
về đội ngũ giáo viên còn đựơc thực hiện dưới góc độ là nội dung của công tác
quy hoạch phát triển của vùng, miền và lãnh thổ.
Tổng quan nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều bình diện
khác nhau và đặc biệt quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục.
- Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên được tập trung vào hai
mảng chính: Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên theo cấp bậc, ngành học;
nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên cho từng cơ sở giáo dục thuộc bậc
học, cấp học và ngành học.
Do việc giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong các Trung tâm GDTX
quận, huyện là vấn đề còn khá mới mẻ, Việc nghiên cứu phát triển đội ngũ
giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái nguyên
hầu như chưa đựơc nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên
Theo Luật Giáo dục Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX ban hành theo Quyết
định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT: Giáo viên của Trung tâm giáo dục thường
xuyên (sau đây gọi là giáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
tại Trung tâm giáo dục thường xuyên, tham gia giảng dạy các chương trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
quy định tại khoản 1, điều 3 của quy chế (Theo điều 22 Quy chế tổ chức và hoạt
động của trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT).
Các chương trình được quy định cụ thể như sau:
+ Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục:
- Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp sau xoá mù chữ.
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến
thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ.
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ bao gồm: Chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng;
công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ;
chương trình dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức tại các vùng dân tộc,
miền núi theo kế hoạch hang năm của địa phương.
- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS, THPT:
Giáo viên của trung tâm GDTX có những nhiệm vụ sau: 1/ Thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, kế hoạch
dạy học, quản lý học viên theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm GDTX.
2/ Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất
lượng và hiệu quả giảng dạy. 3/ Thực hiện các quyết định của Giám đốc, các
quy định của pháp luật và quy định của quy chế tổ chức và hoạt động của
Trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT. 4/ Giữ
gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, đoàn kết giúp đỡ các đồng
nghiệp, gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách học viên, đối sử công
bằng với học viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho học viên
Giáo viên của Ttrung tâm GDTX có những quyền sau: 1/ Được Trung
tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao. 2/ Được hưởng mọi
quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo. 3/ Được trực tiếp hoặc thông qua tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
chức của mình quản lý Trung tâm. 4/Được tham gia các hoạt động nghiên cứu
khó học, lao động sản xuất, dịch vụ chuyển giao công nghệ do Trung tâm tổ
chức. 5/ Được dự các buổi họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật
khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề có liên quan đến học viên của lớp
mình được phân công phụ trách. 6/ Giáo viên Trung tâm giáo dục thường
xuyên có định mức giờ dạy, định mức làm công tác kiêm nhiệm như quy định
đối với giáo viên cùng cấp học ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên Trung tâm GDTX:
1/Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải mẫu mực, có tác dụng giáo
dục đối với học viên. 2/ Trang phục của giáo viên phải chỉnh tề, giản dị, phù
hợp với hoạt động sư phạm.
Các hành vi giáo viên Trung tâm GDTX không được làm: 1/ Xuyên tạc
nội dung giáo dục. 2/ Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể học
viên. 3/ Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập,
rèn luyện của học viên, ép buộc học viên học thêm để thu tiền.
1.2.2. Phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên
Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biến
đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp. Lý luận phép biện chứng duy vật đã khẳng đinh: Mọi sự vật hiện tượng
không chỉ tăng lên hay giảm đi về số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi,
chuyển hoá sự vật từ hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế
tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển
tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên hệ tác động qua lại
của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái cách
thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đến những biến đổi
chuyển hoá về chất và ngược lại. Con đường, xu hướng của sự phát triển
không theo đường thẳng, cũng không theo đường tròn khép kín mà theo
3
cho họ phát huy sở trường, sở đoản hay không? Cơ chế chậm đổi mới ở mỗi
Trung tâm giáo dục thường xuyên sẽ kìm hãm năng lực cá nhân, không phát
huy được những tài năng. Thực trạng thừa thầy, thiếu thợ, người làm cụ thể
thì ít còn người "chỉ tay năm ngón” thì nhiều cũng là vấn đề nổi cộm, bất cập
đòi hỏi phải khắc phục ngay.
Những điều nêu trên để đi đến mục đích mà tôi muốn đề cập: Làm thế
nào để năng lực của mỗi giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện tỉnh Thái Nguyên được phát huy, tất cả giáo viên tâm huyết với nghề
của mình. Dĩ nhiên mỗi cá nhân phải cố gắng rất nhiều mới có thể đáp ứng
mọi công việc khi được tổ chức phân công. Điều này đụng chạm tới việc
tuyển chọn, sắp xếp, bố trí nhân sự cần có những chuẩn mực, thực sự khách
quan, công bằng. Yêu cầu của giáo viên trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong thời hội nhập kinh tế quốc tế không cho phép ai đó "lơ
mơ”, qua loa đại khái với công việc, không hiểu việc, không biết làm việc.
Năng lực của mỗi cá nhân khi được phát huy đúng nơi, đúng chỗ tạo nên chất
lượng giáo dục toàn diện đạt hiệu quả cao, đó chắc chắn là một thực tế. Cần
có chiến lược đào tạo chuyên sâu, tạo nên những con người thực sự tâm huyết
với nghề. Đồng thời, việc tuyển dụng phải đạt tối đa tiêu chuẩn chất lượng
công việc yêu cầu. Mỗi cá nhân khi được phát huy sở trường, sở đoản, nhiều
cá nhân hợp thành đội ngũ gắn kết, làm việc có hiệu quả. Mong mỏi này
không của riêng tôi mà là của toàn xã hội.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, tôi chọn đề tài “ Biện pháp phát triển
đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh
Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá”
2. Môc ®Ých nghiªn cøu
Vận dụng quan điểm chuẩn hoá để đề xuất các biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái
Nguyên trong những năm tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
+Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở các
trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Thái Nguyên.
+Đối tượng nghiên cứu: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các
Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên theo quan
điểm chuẩn hoá.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các Trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên do nhiều nguyên nhân, đang thiếu
về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu, hiệu quả đào tạo thấp, công tác phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh
Thái Nguyên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới trong thời kỳ CNH,HĐH đất
nước.
Nếu xây dựng được hệ thống biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
các Trung tâm GDTX cấp huyện theo định hướng chuẩn hoá sẽ tác động trực
tiếp đến các thành tố cấu trúc của ĐNGV; góp phần nâng cao uy tín và chất
lượng nhà giáo, phát triển đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng giáo dục
ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa lý luận về công tác phát triển giáo viên nói chung và
phát triển đội ngũ giáo viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện theo định hướng chuẩn hoá.
5.2. Đánh giá thực trạng ĐNGV và công tác phát triển đội ngũ giáo
viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên.
5.3. Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện Tỉnh Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
5.4. Thử nghiệm các biện pháp phát triển ĐNGV các Trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên theo định hướng chuẩn hoá.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu: Ngoài những biện pháp quản lý của chủ thể
quản lý ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên, đề
tài luận án tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của các chủ thể quản lý ở
tầm vi mô, đặc biệt là các biện pháp của sở giáo dục và đào tạo đối với ĐNGV
các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện của tỉnh thái Nguyên.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn và nghiên cứu thử
nghiệm được triển khai ở các Trung tâm GDTX cấp huyện của tỉnh thái
Nguyên.
7. Phƣơng pháp nghiên cƣú
- Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái
quát hoá trong nghiên cứu các nguồn taì liệu và thực tiễn có liên quan tới phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều
tra và biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường
xuyên cấp huyện.
- Phương pháp thống kê số liệu các đề tài nghiên cứu khoa học của các
cán bộ quản lý giáo dục, tổng hợp các báo cáo nhận xét về kết quả nghiên cứu
của đề tài.
- Phương pháp trò truyện, phỏng vấn đối với cán bộ quản lý, giáo viên
giảng dạy ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái
Nguyên để thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động quản lý và phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện thuộc
tỉnh Thái Nguyên.
8. Cấu trúc luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn cấu trúc gồm
3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển về phát triển đội ngũ giáo viên
các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên theo định
hướng chuẩn hoá.
Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng III: Vận dụng quan điểm chuẩn hoá đề xuất biện pháp phát
triển đội ngũ giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh
Thái Nguyên .
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo và mục lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
THEO ĐỊNH HƢỚNG CHUẨN HÓA
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lich sử nghiên cứu các vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với
lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Hơn 60 năm xây dựng và phát
triển, nền giáo dục nước ta đã xây dựng đựơc một hệ thống giáo dục hoàn
chỉnh từ giáo dục Mầm non đến giáo dục Đại học đáp ứng một cách tích cực
nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài của
xã hội, hơn sáu mươi năm phát triển đội ngũ giáo viên trong hệ thống giáo
dục Việt Nam.
Vấn đề bồi dưỡng ĐNGV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “… nếu không có thầy giáo
thì không có giáo dục…”, Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy
học … có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần
xây dựng CNXH và CNCS “… Các thầy, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ
vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, “… các cô, các chú đã thấy trách nhiệm
to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao
thêm mãi mới làm tròn nhiệm vụ” .
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và
Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây
dựng và phát triển đội ngũ giáo viên; trong đó có việc nghiên cứu về đội ngũ
giáo viên. Trên cơ sở đó, nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển
khai dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT. Tiêu biểu trong các nghiên cứu đó là
những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của đội ngũ giáo viên các
cấp học, bậc học và mô hình nhân cách của người cán bộ quản lý nhà trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên còn được thực hiện dưới góc độ quản
lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề đội
ngũ giáo viên dưới góc độ quản lý theo ngành học, bậc học đã được thực hiện.
Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn
Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hoàn, Trần Bá Hoành… Việc xây dựng đội ngũ
giáo viên cũng được một số công trình nghiên cứu, đề cập. Tại hội thảo khoa
học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa sư phạm -
Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của nhiều tác giả
như Trần Bá Hoành … cũng đã đề cập đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên
trước nhiệm vụ mới của GD&ĐT
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục rất quan tâm đến
vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trong bài viết “Chất lượng
giáo viên” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2001 của tác giả Trần Bá
Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ các góc độ như: Đặc
điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi chức năng của người giáo viên
trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng giáo
viên và chất lượng ĐNGV, các thành tố tạo nên chất lượng giáo viên là phẩm
chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của giáo viên đựơc
thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, mến trẻ; năng lực của giáo viên bao
gồm: Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực
thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan
sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên
là: Quá trình đào tạo , sử dụng và bồi dưỡng giáo viên; hoàn cảnh, điều kiện
lao động sư phạm của giáo viên; ý chí, thói quen và năng lực tự học của giáo
viên. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề giáo viên: phải đổi mới công
tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng giáo viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Trong bài “ Nghề và nghiệp của người giáo viên” tại hội thảo nâng cao
chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, đã đề cập đến tính chất nghề nghiệp
của người giáo viên. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “ lý tưởng sư phạm”,
cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của người giáo viên,
thôi thúc những người giáo viên sáng tạo, thúc đẩy những người giáo viên
không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó tác giả đê nghị cần phải xây
dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó giáo viên trong
quan hệ với nhau có sự sẻ chia “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu
về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền tảng của mô hình đào tạo
giáo viên thế kỷ XXI: Sáng tạo và hiệu quả .
Trong bài “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất
lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả
Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách
phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên
OECD. Tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo
viên có năng lực qua sự phân tích qua 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận
năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập những chính sách cải
thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp độ vĩ mô và vi mô; từ đó, tác giả
nhấn mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định đến chất lượng giáo viên là: Bản
thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài.
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển
giáo dục - đào tạo; để giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” trong sự
nghiệp đổi mới đất nước; vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước vừa nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2001 - 2010 đã xác định một trong những giải pháp quan trọng để phát triển
giáo dục Quốc gia là: “phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về
cơ cấu và chuẩn chất lượng”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Trong chương trình đào tạo sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo
dục, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống. Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu
thuộc lĩnh vực quản lý nhân sự trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển
đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên
theo bậc học và ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo viên của
các trường Đại học, Cao đẳng và khối Trung học chuyên nghiệp. Nghiên cứu
về đội ngũ giáo viên còn đựơc thực hiện dưới góc độ là nội dung của công tác
quy hoạch phát triển của vùng, miền và lãnh thổ.
Tổng quan nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều bình diện
khác nhau và đặc biệt quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục.
- Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên được tập trung vào hai
mảng chính: Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên theo cấp bậc, ngành học;
nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên cho từng cơ sở giáo dục thuộc bậc
học, cấp học và ngành học.
Do việc giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong các Trung tâm GDTX
quận, huyện là vấn đề còn khá mới mẻ, Việc nghiên cứu phát triển đội ngũ
giáo viên các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Thái nguyên
hầu như chưa đựơc nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên
Theo Luật Giáo dục Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX ban hành theo Quyết
định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT: Giáo viên của Trung tâm giáo dục thường
xuyên (sau đây gọi là giáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
tại Trung tâm giáo dục thường xuyên, tham gia giảng dạy các chương trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
quy định tại khoản 1, điều 3 của quy chế (Theo điều 22 Quy chế tổ chức và hoạt
động của trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT).
Các chương trình được quy định cụ thể như sau:
+ Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục:
- Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp sau xoá mù chữ.
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến
thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ.
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ bao gồm: Chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng;
công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ;
chương trình dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức tại các vùng dân tộc,
miền núi theo kế hoạch hang năm của địa phương.
- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS, THPT:
Giáo viên của trung tâm GDTX có những nhiệm vụ sau: 1/ Thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, kế hoạch
dạy học, quản lý học viên theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm GDTX.
2/ Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất
lượng và hiệu quả giảng dạy. 3/ Thực hiện các quyết định của Giám đốc, các
quy định của pháp luật và quy định của quy chế tổ chức và hoạt động của
Trung tâm GDTX ban hành theo Quyết định 01/2007/ QĐ-BGD&ĐT. 4/ Giữ
gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, đoàn kết giúp đỡ các đồng
nghiệp, gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách học viên, đối sử công
bằng với học viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho học viên
Giáo viên của Ttrung tâm GDTX có những quyền sau: 1/ Được Trung
tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao. 2/ Được hưởng mọi
quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo. 3/ Được trực tiếp hoặc thông qua tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
chức của mình quản lý Trung tâm. 4/Được tham gia các hoạt động nghiên cứu
khó học, lao động sản xuất, dịch vụ chuyển giao công nghệ do Trung tâm tổ
chức. 5/ Được dự các buổi họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật
khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề có liên quan đến học viên của lớp
mình được phân công phụ trách. 6/ Giáo viên Trung tâm giáo dục thường
xuyên có định mức giờ dạy, định mức làm công tác kiêm nhiệm như quy định
đối với giáo viên cùng cấp học ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên Trung tâm GDTX:
1/Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải mẫu mực, có tác dụng giáo
dục đối với học viên. 2/ Trang phục của giáo viên phải chỉnh tề, giản dị, phù
hợp với hoạt động sư phạm.
Các hành vi giáo viên Trung tâm GDTX không được làm: 1/ Xuyên tạc
nội dung giáo dục. 2/ Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể học
viên. 3/ Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập,
rèn luyện của học viên, ép buộc học viên học thêm để thu tiền.
1.2.2. Phát triển đội ngũ giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên
Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biến
đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp. Lý luận phép biện chứng duy vật đã khẳng đinh: Mọi sự vật hiện tượng
không chỉ tăng lên hay giảm đi về số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi,
chuyển hoá sự vật từ hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế
tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển
tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên hệ tác động qua lại
của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái cách
thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đến những biến đổi
chuyển hoá về chất và ngược lại. Con đường, xu hướng của sự phát triển
không theo đường thẳng, cũng không theo đường tròn khép kín mà theo
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)