Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An

trường trở thành một trong số các chi nhánh hoạt động hiệu quả nhất của
NHNo & PTNT Việt Nam tại Hà Nội và đang trên đà phát triển mở rộng thị
phần.
Tuy nhiên, do là một đơn vị mới thành lập cơ sở vật chất còn thiếu so
với yêu cầu đòi hỏi của hoạt động Ngân hàng. Mạng lưới tổ chức chưa đủ,
thị phần còn thấp, đang trong giai đoạn gây dựng thương hiệu uy tín khách
hàng chiếm lĩnh thị phần. Hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa và hoạt động
tín dụng nhưng do phải cạnh tranh với các NHTM lớn tại Hà Nội nên hoạt
động tín dụng tuy có phát triển song tiềm ẩn rủi ro khá lớn. Là một cán bộ
tín dụng của Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An trong qua trình làm việc,
tiếp cận với thực tế bằng kinh nghiệm và đánh giá của bản thân đã giúp tôi
nhận biết được phần nào thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh trong
những năm qua. Vì vậy, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài " Nâng cao chất
lượng tín dụng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An " để hoàn thành
luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu: Chất lượng tín dụng của Chi nhánh NHNo & PTNT
Quảng An
- Phân tích đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Chi nhánh
NHNo & PTNT Quảng An
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh
NHNo & PTNT Quảng An
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng : Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An từ thời
gian 2004 đến thời gian 2006
5
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Tư duy logích biện chứng: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài: Phân
tích, thống kê, tổng hợp, điều tra, kiểm soát
5. Đóng góp của đề tài
Luận văn là vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng chất
lượng tín dụng đối với Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An trong thời gian
qua, từ đó thấy được những thành công cũng như hạn chế và xác định rõ
nguyên nhân làm căn cứ đưa ra những giải pháp thích hợp nâng cao chất
lượng tín dụng góp phần tăng hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh của chi
nhánh.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
với nội dung căn bản sau:
Chương 1: Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Chi nhánh NHNo &
PTNT Quảng An
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh
NHNo & PTNT Quảng An
6
Chương 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Theo giới sử học, ngân hàng đầu tiên đã ra đời cách đây hơn 2000 năm
ở Hy Lạp. Ngân hàng khi đó chỉ mang ý nghĩa là nơi đổi từ ngoại tệ sang
bản tệ cho khách du lịch và chiết khấu thương phiếu cho các nhà buôn, với
cách tổ chức ban đầu rất gọn nhẹ chỉ là một người ngồi ở chiếc bàn nhỏ hoặc
một cửa hiệu nhỏ. Vì vậy khái niệm “ngân hàng”, xuất phát từ chữ La tinh là
“bancus” có nghĩa là “bàn tiền”.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nghiệp vụ ngân hàng
gắn liền với việc cho vay nặng lãi, với những người đi vay chủ yếu là tầng
lớp thống trị và những người sản xuất hàng hoá giản đơn. Vào giữa thế kỷ
16, khi tầng lớp thống trị không thu được thuế của dân, họ dựa vào quyền
lực mà tuyên bố không trả nợ ngân hàng dẫn đến hàng loạt ngân hàng bị phá
sản.
Chuyển sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sản xuất và lưu
thông hàng hoá phát triển, nhu cầu vốn vay tăng lên. Nhưng các nhà tư bản
không chịu vay vốn của các ngân hàng vì lãi suất quá cao, chiếm hết toàn bộ
7
lợi nhuận và một phần vốn tự có của họ. Họ đã hùn vốn lập ra các ngân hàng
để cho vay với mức lãi suất vừa phải thấp hơn lợi nhuận bình quân, làm cho
các ngân hàng cho vay nặng lãi từ thời Trung cổ bắt đầu buộc phải hạ lãi
suất và chuyển sang kinh doanh như các ngân hàng tư bản. Trong suốt thế
kỷ 18, các ngân hàng ở lục địa châu Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ đã đời hàng loạt.
Việc ứng dụng phương thức sản xuất lớn trong thời kỳ này đòi hỏi một
sự mở rộng tương tứng trong thương mại toàn cầu để tiêu thụ các sản phẩm
công nghiệp, do đó kéo theo yêu cầu phát triển các phương thức thanh toán
và tín dụng mới. Chính vì vậy đã làm cho hoạt động ngân hàng trở nên đa
dạng hơn về loại hình.
Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại là hệ thống ngân hàng cấp
hai, có mối quan hệ trực tiếp với mọi thành phần kinh tế. Và ngân hàng
thương mại đã trở thành một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất
bởi nó không chỉ đơn thuần nhận tiền gửi và cho vay mà còn đóng vai trò là
trung gian thanh toán, là đại lí, người bảo lãnh, hay góp phần thực hiện
chính sách của Chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Do
đó, khái niệm về ngân hàng thương mại cũng rất phong phú.
Ở Mỹ, “bất kỳ tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách
hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền
điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ
được xem là một ngân hàng”. Tuy nhiên để phân biệt ngân hàng thương mại
với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã
quy địng rằng: “việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một
trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các
tổ chức tài chính khác”. Quốc hội Mỹ cũng đã thêm vào quy định của mình,
8
theo đó: “ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của
Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang”.
Mặt khác, với cách tiếp cận dựa trên những loại hình dịch vụ mà các
ngân hàng cung cấp thì “ngân hàng là tổ chức loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Trên nhiều góc độ, các cơ quan chức năng của Mỹ đã đưa ra những
cách tiếp cận khác nhau về khái niệm ngân hàng thương mại. Trong khi đó,
hệ thống ngân hàng Việt Nam trước đây là hệ thống ngân hàng một cấp, vừa
làm nhiệm vụ của ngân hàng phát hành, vừa thực hiện chức năng của ngân
hàng kinh doanh tiền tệ. Trước yêu cầu đổi mới toàn diện nền kinh tế, hệ
thống ngân hàng Việt Nam đã được chuyển thành hệ thống ngân hàng hai
cấp. Các ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động dưới sự điều
chỉnh của pháp lệnh ngân hàng, sau đó là luật các tổ chức tín dụng và các
văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo đó:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
Mà “tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh
tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi
để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Do đó, ngân hàng thương mại ở Việt Nam là: “ngân hàng được thực
hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
9
quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà
nước”.
Như vậy, ngân hàng thương mại, với tư cách là một trung gian tài
chính, tương tự các tổ chức kinh doanh khác là lấy lợi nhuận làm mục tiêu
hoạt động, nhưng khác ở đối tượng kinh doanh vì đối tượng kinh doanh của
các ngân hàng thương mại là hàng hoá đặc biệt - tiền tệ.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương Mại
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán. Hoạt động của một ngân hàng thương mại xét về một khía cạnh
nào đó cũng khá giống như một doanh nghiệp kinh doanh bình thường, điểm
khác biệt là các NHTM kinh doanh "quyền sử dụng tiền tệ". Với hai chức
năng chủ yếu là tạo tiền và kinh doanh tiền tệ nhằm mục tiêu sinh lợi, một
ngân hàng thương mại có các hoạt động chủ yếu sau đây:
a) Hoạt động huy động vốn
Để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, ngoài nguồn vốn của bản
thân mình, các ngân hàng thương mại tiến hành huy động các nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau, bao gồm:
- Nguồn tiền gửi: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển
của ngân hàng, là cơ sở của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa
của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Khách hàng gửi tiền vào ngân
hàng với rất nhiều mục đích khác nhau hoặc để tiết kiệm hoặc để thanh toán,
tuỳ theo mục đích của khách hàng ngân hàng có các hình thức huy động
như: tiền gửi giao dịch, tiền gửi phi giao dịch.
+Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay các lệnh
rút tiền của khách hàng. Đây là một trong những nguồn vốn biến động nhất,
kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể được
10
rút ra bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trước. Tiền gửi giao dịch gồm
tiền gửi có thể phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, tài khoản NOW,
mạng.
+ Tiền gửi phi giao dịch là loại tiền được hình thành từ nguồn vốn của
những người muốn dành một khoản tiền cho những mục tiêu hay nhu cầu tài
chính được dự tính trước trong tương lai. Lãi suất của loại tiền gửi này cao
hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch.
- Huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, tiết kiệm trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi
- Nguồn vay NHTW, các tổ chức tín dụng khác
NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là người cho vay cuối cùng
của các tổ chức tín dụng trong trường hợp họ không có đủ khả năng thanh
toán. Trong trường hợp này các ngân hàng thương mại vay tiền để bù đắp
thiếu hụt, đảm bảo khả năng thanh khoản trong trường hợp cần thiết. Việc
huy động vốn một cách hợp lý, với chi phí và cơ cấu phù hợp sẽ góp phần
không nhỏ vào hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng.
b) Hoạt động tín dụng
Khả năng cho vay đối với khách hàng chính là điều kiện để ngân hàng
tồn tại và phát triển. Huy động được vốn rồi, ngân hàng phải có kế hoạch sử
dụng nguồn vốn đó sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất. Chỉ có lãi thu được
từ hoạt động tín dụng mới bù đắp được chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi
phí kinh doanh, chi phí quản lý. Khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng
vốn tăng lên, các doanh nghiệp tìm đến với ngân hàng như một chỗ dựa.
c) Hoạt động trung gian
Các nghiệp vụ trung gian bao gồm: thanh toán hộ, chuyển tiền, thu hộ,
bảo lãnh, mở L/C, cung cấp thông tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị
doanh nghiệp, quản lý hộ tài sản…, các nghiệp vụ này được thực hiện theo
11
sự uỷ nhiệm của khách hàng trên cơ sở khách hàng có tài khoản thanh toán
tại ngân hàng. Những nghiệp vụ này cũng mang lại cho ngân hàng một
khoản thu nhập dưới dạng phí dịch vụ. Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và nhu cầu phát triển cũng như
cạnh tranh của ngân hàng.
1. 2. Tín dụng của Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Khái niệm
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân
hàng. Tín dụng là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng thương
mại, nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Chính phủ.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn ngày càng tăng, hoạt
động tín dụng của các ngân hàng thương mại lại ngày một cần thiết hơn.
Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm
thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang
người sử dụng để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng
giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Tín dụng ngân
hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng với một
bên là tất cả các tổ chức cá nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng giao
quyền sử dụng tiền cho họ với những điều kiện thoả thuận nhất định (thời
gian, lãi suất, khối lượng, điều kiện đảm bảo).
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước định nghĩa như sau về hoạt động cho vay:
"Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi".
12
1.2.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại
Việc phân loại các hình thức tín dụng thường được dựa vào một số
tiêu thức nhất định. Căn cứ đó ngân hàng thiết lập quy trình cho vay, nâng
cao hiệu quả tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng được tốt hơn.
a) Căn cứ vào mục đích
- Cho vay bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn
hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho
việc mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước
ngoài. Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng được bảo đảm bằng chính
tài sản thực: đất đai, toà nhà và các công trình khác.
- Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản tín dụng
dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài
chính khác.
- Cho vay nông nghiệp: nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo
trồng, thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: giúp doanh nghiệp trang trải các
chi phí như mua hàng, nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân
viên.
- Cho vay đối với các cá nhân: giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở,
trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa
hay trang trải các khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác.
- Cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các
khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
- Tài trợ thuê mua: ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện
và cho khách hàng thuê.
13
b) Căn cứ vào kỳ hạn
- Cho vay ngắn hạn: những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12
tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng
trả nợ của khách hàng.
- Cho vay trung, dài hạn: những khoản cho vay được xác định chủ yếu
để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở
rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô thu hồi vốn lớn.
Loại cho vay này đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển,
một mặt chúng đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, mặt khác chúng
cũng phù hợp với khả năng vốn của các ngân hàng thương mại. Thời hạn
cho vay trung hạn là từ 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay dài hạn từ
60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định
thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm
đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
c) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp,
cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng. Ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của
người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà
thay vào đó là những điều kiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh
giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải
kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn. Khách hàng là
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành
mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng
mà không cần nguồn thu nợ bổ sung.
- Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng
nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét