Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Thực hiện sự nghiệp đổi mới nền kinh tế

Việc nghiên cứu kết cấu giá thành có ý nghĩa rất lớn trong công tác
quản lý giá thành. Nghiên cứu kết cấu cho thấy rõ tình hình chi phí sản xuất
sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và sự biến động từng khoản mục chi phí
trong cùng thời kỳ, là căn cứ xác định trọng tâm cần quản lý, phơng hớng
khai thác, sản xuất để hạ thấp giá thành. Mặt khác, giúp cơ quan chủ quản và
cơ quan quản lý thấy đợc mặt mạnh, mặt yếu của từng doanh nghiệp. Từ đó,
có biện pháp giúp doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, nghiên cứu
xu hớng thay đổi kết cấu giá thành trong các thời kỳ khác nhau giúp doanh
nghiệp thấy đợc tính chất sử dụng thiết bị máy móc, trang bị kỹ thuật, lao
động sản xuất, tăng năng suất lao động, mức độ chi phí nguyên vật liệu, sức
lao động của mỗi doanh nghiệp hoặc mỗi ngành.
4 - Các loại giá thành sản phẩm.
a. Căn cứ vào thời gian, cơ sở số liệu tính giá thành sản phẩm.
* Giá thành kế hoạch: đợc xác định trớc khi bớc vào kinh doanh trên
cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức, dự toán chi phí của kỳ kế
hoạch.
* Giá thành định mức: Đợc xác định trớc khi bớc vào sản xuất sản
phẩm, dịch vụ, đợc xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và
không biến đổi trong cả kỳ kế hoạch. Giá thành định mức theo chi phí hiện
hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức
luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt đợc trong
quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
* Giá thành thực tế: đợc xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất
dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản
phẩm, dịch vụ.
b. Căn cứ vào phạm vi phát sinh chia thành:
* Giá thành sản xuất (giá thành công xởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả
các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất.
5
* Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ
các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Đợc tính theo công thức:
5 - Sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá
trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về chất vì đều
gồm hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra
trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tuy vậy, giữa chúng lại khác nhau về l-
ợng, thể hiện:
Chi phí sản xuất luôn gắn với một thời kỳ nhất điểm. Còn giá thành
sản phẩm luôn gắn với một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh
hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau nhng đã ghi nhận là chi phí
kỳ này (chi phí phải trả).
Giá thành sản phẩm chứa đựng cả một phần chi phí của kỳ trớc chuyển
sang (chi phí về sản phẩm dở dang đầu kỳ).
Nhiệm vụ kế toán tính giá thành sản phẩm.
Để quản lý tốt giá thành sản phẩm, cần tổ chức công tác tính giá thành
thực tế của các loại sản phẩm sản xuất ra một cách chính xác, kịp thời, đúng
đối tợng, đúng chế độ quy định, đúng phơng pháp. Vậy, tính giá thành sản
phẩm vừa và một phơng pháp của kế toán, vừa là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của công tác kế toán trong các xí nghiệp sản xuất. Tổ chức tốt
công tác tính giá thành sản phẩm là rất thiết thực đối với việc tăng cờng, cải
tiến công tác quản lý giá thành, quản lý xí nghiệp. Nhiệm vụ của kế toán
trong công tác tính giá thành sản phẩm:
1 - Xác định đối tợng tính giá thành trong xí nghiệp: quy trình công
nghệ, tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế, quản lý xí
nghiệp. Lựa phơng pháp tính giá thành thích hợp cho từng đối tợng và xây dựng
quy tắc tính phù hợp với phơng pháp kế toán và các chế độ hiện hành.
6
2. Căn cứ vào quy tắc tính giá thành đã xây dựng để tổ chức công tác
tính giá thành sản phẩm thực tế cho từng đối tợng, từng đơn vị sản phẩm theo
khoản mục giá thành quy định đúng kỳ hạn, đúng phơng pháp, chế độ và bảo
đảm chính xác.
3. Định kỳ tổ chức phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, giá thành,
nhiệm vụ hạ giá thành, vạch ra nguyên nhân hoàn thành, cha hoàn thành, các
khả năng tiềm tàng có thể khai thác, phơng hớng, yêu cầu phấn đấu hạ giá
thành sản phẩm thực tế.
7
Chơng II
Vị trí, vai trò của công tác quản lý giá thành, ý
nghĩa việc hạ thấp giá thành sản phẩm.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của xí nghiệp.
Mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành phản ánh trình độ sử dụng hợp lý, tiết
kiệm nguyên vật liệu, khả năng vận dụng công suất máy móc thiết bị, mức độ
trang bị, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến; kết quả việc sử dụng hợp lý sức
lao động, tăng năng suất lao động, trình độ quản lý tài chính, hạch toán kinh
tế của xí nghiệp.
Giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ chỉ tính chi phí sản xuất sản
phẩm, còn giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ gồm cả chi phí sản xuất
sản phẩm cộng thêm chi phí ngoài sản xuất phân bổ cho sản phẩm đó. Giá
thành sản xuất dùng để tính trị giá của thành phẩm khi nhập kho thành phẩm
hoặc khi gửi đi tiêu thụ. Còn giá thành toàn bộ đợc xác định khi tính toán kết
quả tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.
Trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiêu
giá thành sản phẩm thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
+ Giá thành là thớc đo mức chi phí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp là một căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanhvà ra
quyết định sản xuất kinh doanh. Để quyết định sản xuất loại sản phẩm naò
đó, doanh nghiệp cần nắm đợc nhu cầu, giá cả thị trờng, tất yếu phải biết mức
chi phí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đó của bản thân doanh nghiệp bỏ ra. Trên
cơ sở đó, xác định đợc hiệu quả sản xuất các loại sản phẩm đó để quyết định
khối lợng sản xuất nhằm tối đa hoá lợi nhuận, cần xác định cả giá thành thực
tế của sản phẩm, dịch vụ đó.
+ Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát
tình hình sản xuất, kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức kỹ
thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp xem
8
xét tình hình sản xuất, chi phí sản xuất, phát hiện nguyên nhân phát sinh chi
phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ.
+ Giá thành là căn cứ để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá cả của
doanh nghiệp đối với từng loại sản phẩm.
Chỉ tiêu giá thành nh một tấm gơng phản ánh thực chất hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính đúng,
đủ giá thành sản phẩm. Muốn vậy, phải xác định đúng đối tợng cần tính giá
thành, phơng pháp tính giá thành thích hợp. Đây là căn cứ để kế toán tập hợp
chi phí sản xuất chính xác để đánh giá sản phẩm dở dang (nếu có) chính xác.
Tính đủ là việc tính toán đầy đủ mọi hao phí đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm
đó trên tinh thần hạch toán kinh doanh, loại bỏ yếu tố bao cấp để tính đủ đầu
vào theo đúng chế độ quy định.
Việc tính đúng, đủ giá thành sản phẩm giúp phản ánh tình hình và kết
quả thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp. Xác định đúng đắn kết
quả tài chính, tránh hiện tợng lãi giả, lỗ thật.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải chú ý
đến giá cả hàng hoá và việc hạ giá thành sản phẩm:
Là một trong những nhân tố quan trọng để doanh nghiệp tăng lợi
nhuận thông qua việc tiêu thụ sản phẩm với khối lợng lớn hơn làm tăng
doanh thu nhanh chóng;
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể giảm lợng vốn lu động sử dụng
vào sản phẩm.
Nh vậy, hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp
cũng nh nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện đợc phải tăng thu, giảm chi bằng
cách: tăng năng suất lao động, nâng trình độ tay nghề của công nhân, tăng c-
ờng công tác quản lý giá thành, đẩy mạnh phân tích hoạt động kinh tế ở
doanh nghiệp, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
9
Chơng III
Đối tợng tính giá thành và phơng pháp tính giá
thành
1 - Đối tợng tính giá thành:
Các loại sản phẩm, dịch vụ do xí nghiệp sản xuất và cần tính đợc giá
thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu
tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành của kế toán. Bộ phận kế toán tính
giá thành căn cứ vào đặc điểm sản xuất, sản phẩm đợc sản xuất, tính chất sản
xuất, cung cấp sử dụng để xác định đối tợng tính giá thành cho phù hợp.
Về tổ chức sản xuất, sản xuất đơn chiếc theo từng sản phẩm, từng dịch
vụ là đối tợng tính giá thành: Ví dụ: từng con tàu đợc đóng trong xí nghiệp,
từng hạng mục công trình, từng công trình trong xí nghiệp xây dựng; Nếu sản
xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là đối tợng tính giá thành: ví dụ: loạt
máy công cụ trong xí nghiệp cơ khí; Nếu tổ chức sản xuất nhiều, khối lợng
lớn thì mỗi loại sản phẩm khác nhau là một đối tợng tính giá thành. Ví dụ:
các loại vải trong xí nghiệp dệt; cà phê, cao su trong nông trờng cà phê, cao
su.
Về quy trình công nghệ sản xuất: Nếu quy trình công nghệ giản đơn
thì đối tợng tính giá thành có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở cuối quy trình
sản xuất; Nếu quy trình công nghệ kiểu phức tạp liên tục thì đối tợng tính giá
là bán thành phẩm tự chế ở từng giai đoạn công nghệ, hoặc có thể là thành
phẩm của sản phẩm; Nếu quy trình công nghệ phức tạp kiểu song song thì
đối tợng tính giá thành là thành phẩm lắp ráp hoàn chỉnh, một số phụ tùng,
chi tiết, bộ phận sản phẩm.
Đơn vị tính giá thành là đơn vị đợc thừa nhận phổ biến trong nền kinh
tế quốc dân, phù hợp với tính chất lý, hoá của sản phẩm. Đơn vị tính giá
thành thực tế cần phải nhất quán với đơn vị tính đã ghi trong kế hoạch của xí
nghiệp.
10
Đối tợng tính giá thành có nội dung khác với đối tợng kế toán tập hợp
chi phí sản xuất. Xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở
các tiểu khoản, các cơ sở chi tiết, tổ chức công tác, ghi chép ban đầu, tập hợp
số liệu chi phí sản xuất cho từng đối tợng. Giúp tăng cờng công tác quản lý
chi phí sản xuất, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong từng xí nghiệp.
Việc xác định đối tợng tính giá thành là căn cứ để kế toán mở các
phiếu tính giá thành sản phẩm (Bảng chi tiết tính giá thành sản phẩm). Tổ
chức công tác tính giá thành cho từng đối tợng, phục vụ việc kiểm tra tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm tính toán, hiệu quả xác định
chính xác thu nhập, phát hiện khả năng tiềm tàng để có biện pháp hạ giá
thành sản phẩm hợp lý, phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
2 - Kỳ tính giá thành
Là thời kỳ bộ phận kế toán tính giá thành cần tiến hành công việc tính
giá cho các đối tợng tính giá thành.
Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp công tác tổ chức tính giá
thành khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu và giá thành thực tế của
sản phẩm, dịch vụ kịp thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình
thực hiện kế hoạch tính giá thành sản phẩm của kế toán. Kỳ tính giá thành,
đối tợng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm,
chu kỳ sản xuất sản phẩm để xác định cho thích hợp. Trờng hợp tổ chức sản
xuất khối lợng lớn, thời gian ngắn, xuất hiện xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá
thành là hàng tháng, vào thời điểm cuối mỗi tháng. Ngày cuối tháng sau khi
đã hoàn thành công việc, ghi sổ kế toán và kiểm tra đối chiếu chính xác để
khoá sổ, bộ phận tính giá thành căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp đợc
trong tháng cho từng đối tợng vận dụng phơng pháp tính giá thành thích hợp
để tính toán giá thành và giá thành đơn vị thực tế cho từng sản phẩm đã hoàn
thành trong tháng. Kỳ tính giá thành hàng tháng giúp cho việc cung cấp số
liệu về giá thành thực tế phù hợp với kỳ báo cáo, làm cơ sở hạch toán nhập
kho thành phẩm trong tháng. Một số sản phẩm nông nghiệp do tính chất thời
vụ và chu kỳ sản xuất lâu dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn
11
thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất sản phẩm hoặc loạt sản phẩm đó thì kỳ
tính giá thành phẩm thích hợp là thời gian mà sản phẩm hoặc loạt sản phẩm
đã hoàn thành. Hàng tháng, tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo đối tợng
có liên quan. Khi nhận đợc chứng từ xác minh sản phẩm hoặc loạt sản phẩm
đã hoàn thành (phiếu nhập kho thành phẩm) mới sử dụng số liệu chi phí sản
xuất đã tập hợp theo đối tợng liên quan trong suốt các tháng từ khi bắt đầu
đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất để tính giá thành và giá thành đơn vị cho đối
tợng đó bằng phơng pháp thích hợp. Nh vậy, trờng hợp này kỳ tính giá thành
sản phẩm không phù hợp với chu kỳ sản xuất của sản phẩm. Do đó tác dụng
phản ánh, giám đốc của kế toán đối với tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất
và giá thành cũng thực sự phát huy khi chu kỳ sản xuất đã kết thúc.
3 - Các phơng pháp tính giá thành sản phẩm.
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm là phơng pháp sử dụng số liệu chi
phí sản xuất đã tập hợp đợc là cơ sở để bộ phận kế toán tính giá thành thực tế
của sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Việc tính giá thành sản phẩm chính
xác giúp xác định chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, giúp nhà quản lý doanh nghiệp có biện pháp ra quyết định kịp
thời mở rộng hay thu hẹp sản xuất hay đầu t vào mặt hàng sản phẩm nào đó.
Do đó, trên cơ sở chi phí đã tập hợp theo các đối tợng, kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và phải vận dụng phơng pháp tính giá thành hợp lý, phù hợp với đặc
điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, với đặc điểm tính chất sản phẩm, với yêu
cầu trình độ quản lý doanh nghiệp và quy định thống nhất của Nhà nớc. Giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sx đợc tính theo các khoản mục.
1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2. Chi phí nhân công trực tiếp
3. Chi phí sản xuất chung.
Số liệu kết quả tính toán tính giá thành sản phẩm đợc phản ánh trên
các bảng, biểu tính giá thành thể hiện đợc nội dung phơng pháp tính giá
thành mà doanh nghiệp áp dụng.
12
Thực chất việc tính giá thành sản phẩm là việc sử dụng các phơng pháp
tính toán, phân bổ chi phí cấu thành trong sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở chi
phí sản xuất đã tập hợp đợc và chi phí sản phẩm làm dở cuối kỳ.
Các phơng pháp tính giá thành đợc áp dụng trong các doanh nghiệp
sản xuất:
a. Phơng pháp tính giá thành giản đơn (phơng pháp tính trực tiếp): áp dụng
thích hợp với từng trờng hợp, đối tợng tính giá thành phù hợp đối với đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo.
Theo phơng pháp này, giá thành sản phẩm đợc tính bằng cách căn cứ
trực tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp đợc (theo từng đối tợng tập hợp chi
phí) trong kỳ và giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ để tính giá thành
theo công thức sau:
Giá thành đơn vị sản phẩm =
Đây là cách tính đơn giản nhất, các phơng pháp khác đều dựa vào công
thức này. Phơng pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công
nghệ sản xuất giản đơn, khép kín: từ khâu đa nguyên vật liệu vào sản xuất tới
khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản phẩm ít, khối lợng lớn, chu kỳ sản
xuất ngắn nhau các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp khai thác, điện n-
ớc
b. Phơng pháp tính giá thành phân bớc: đợc áp dụng cho các doanh
nghiệp có quy trình công nghệ kỹ thuật phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm qua
nhiều giai đoạn (phân xởng) chế biến liên tục kế tiếp nhau, bán thành phẩm
giai đoạn trớc là đối tợng tiếp tục chế biến ở giai đoạn sau.
Tuỳ vào tình hình cụ thể mà đối tợng tính giá thành trong doanh
nghiệp có thể là thành phẩm ở giai đoạn công nghệ cuối cùng hoặc bán thành
phẩm ở từng giai đoạn. Do đó, phơng pháp tính giá thành phân bớc đợc chia
thành:
Phơng pháp phân bớc tính giá thành bán thành phẩm.
Phơng pháp phân bớc không tính giá thành bán thành phẩm.
13
c. Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
áp dụng đối với các doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc
loại vừa, nhỏ theo đơn đặt hàng. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là từng
đơn đặt hàng. Đối tợng tính giá thành là đơn đặt hàng đã hoàn thành. Kỳ tính
giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành.
Nếu trong tháng, đơn đặt hàng cha hoàn thành thì hàng tháng vẫn mở sổ kế
toán để tập hợp chi phí sản xuất cho đơn đặt hàng đó, để khi hoàn thành tổng
chi phí sản xuất các tháng sẽ có giá thành của đơn đặt hàng.
Nếu đơn đặt hàng đợc sản xuất, chế tạo ở nhiều phân xởng khác nhau
thì phải tính toán, xác định số chi phí của từng phân xởng liên quan đến đơn
đặt hàng đó. Chi phí trực tiếp đợc tập hợp tẳng vào đơn đặt hàng, chi phí
chung phân bổ theo tiêu thức thích hợp.
d. Phơng pháp hệ số:
áp dụng cho cùng một quy trình công nghệ sản xuất với cùng loại
nguyên vật liệu tiêu hao thu đợc nhiều loại sản phẩm khác nhau: Đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất. Tính giá thành
phải căn cứ vào hệ số tính giá theo các bớc sau:
- Quy đổi tổng sản lợng thực tế từng loại sản phẩm theo hệ số tính giá
thành để làm tiêu thức phân bổ:
sản lợng = * Hệ số SP (i)
- Tính hệ số phân bổ chi phí từng loại sản phẩm:
Hệ số phân bổ chi phí SP (i) =
- Tính tổng giá thành thực tế từng loại sản phẩm theo từng khoản mục:
e. Phơng pháp tỷ lệ:
Nếu trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất thu
đợc là nhóm sản xuất cùng loại với quy cách, kích cỡ, phẩm chất khác nhau
sẽ tính giá thành từng quy cách, kích cỡ sản phẩm theo tỷ lệ. Muốn vậy, trớc
hết phải chọn tiêu chuẩn phân bổ: có thể là giá thành quy hoạch, có thể là giá
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét