Trong nền kinh tế thị trường, họat động tín dụng ngân hàng rất đa dạng và
phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có
hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín dụng theo các tiêu thức khác nhau:
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai,
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản cho
vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ
tín dụng.
* Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín
dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến đổi
mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu
hồi vốn nhanh,
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, được cung cấp
để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn,
* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
5
- Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng.
- Cho vay có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có
tài sản thế chấp hoặc cầm cố , hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
* Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khê ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại thường cho vay gián tiếp theo hình thức chiết khấu
thương mại, mua các phiếu bán hàng chịu của người bán, mua các khỏan nợ của
DN,
1.1.4 Hoạt động tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Hoạt động tín dụng của ngân hàng đựơc hiểu bao gồm cả nghiệp vụ huy
động vốn và nghiệp vụ cho vay. ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Mọi người được tự do kinh doanh
theo pháp luật, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp đan kết với nhau hình thành
các tổ chức kinh doanh đa dạng. Theo hướng đó nền kinh tế phát triển sẽ kéo
theo nhu cầu sử dụng vốn cũng đa dạng hơn, và chu kỳ tạm thời thừa vốn của
các chủ thể trong nền kinh tế cũng đa dạng hơn. Ngân hàng thương mại lúc đó là
chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Nó đứng ra huy
động các nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế
như: vốn tạm thời đựơc giải phóng ra từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm
của các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động được trong nền kinh tế,
thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng thương mại sẽ cung cấp vốn cho mọi
họat động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình
6
tái sản xuất. Nhờ đó các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến
êasy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Đáp
ứng mọi nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng
vững chắc trong cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường và thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, hướng tới hội
nhập kinh tế quốc tế, vai trò của tín dụng ngân hàng cũng ngày một tăng lên:
a. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất phát triển:
Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế,
tín dụng ngân hàng đã thu hút những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội
để đầu tư vào nền kinh tế, từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế.
Vốn là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều hình thức như vốn tự
có, vốn do ngân sách cấp, vốn vay mượn. Nhưng nguồn vốn chủ yếu và thường
xuyên nhất vẫn là nguồn vốn thông qua kênh tín dụng ngân hàng. Để được sử
dụng nguồn vốn này khách hàng phải trả cho ngân hàng một số tiền lớn hơn số
tiền đã vay sau một thời gian nhất định. Vì vậy, bất kỳ người vay vốn nào cũng
mong muốn mình sản xuất kinh doanh có lãi để trả được nợ cho ngân hàng và có
được một phần lợi nhuận giữ lại sau khi đã bù đắp các khoản chi phí. Để làm ăn
có lãi trong nền kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi DN phải tạo cho mình một
ưu thế và sức mạnh trong cạnh tranh, sản phẩm đa dạng, cơ cấu sản xuất kinh
doanh phù hợp. Tức là phải cung cấp cho thị trường những sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ tốt hơn, phong phú hơn, tạo điều kiện nâng cao uy tín và mở rộng thị
phần cho mình. Điều này chứng tỏ tín dụng ngân hàng đã góp phần thúc đẩy quá
trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng phát triển.
Ngoài ra, bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi với những ngành kinh tế mũi
nhọn cũng như những ngành kinh tế kém phát triển nhưng lại cần thiết và có lợi
7
cho quốc kế dân sinh, tín dụng ngân hàng đã góp phần thúc đẩy những ngành
kinh tế này phát triển.
b. Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ, kiểm soát
được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh
tế:
Do những điểm ưu việt của mình mà tín dụng ngân hàng đóng vai trò
quan trọng, quyết định đến sự ổn định của lưu thông tiền tệ. Qua hoạt động các
DN mở tài khỏan và thanh toán qua ngân hàng ngày càng nhiều, với tính chất
thường xuyên liên tục. Cũng như việc cho vay và thu nợ của ngân hàng gắn liền
với sự vận động của giá trị vật tư hàng hóa trong quá trình sản xuất và lưu
thông, đã tạo ra những tiền đề kinh tế khách quan cho phép nhà nước thông qua
hệ thống ngân hàng sử dụng công cụ lưu thông tín dụng để kiểm soát khối lượng
tiền cũng như chất lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Sự phát triển của
nghiệp vụ tín dụng đi đôi với việc thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu
thông, góp phần ổn định lưu thong tiền tệ. Đây cũng là một nhân tố quan trọng
để kiềm chế lạm phát, giúp nền kinh tế phát triển.
c. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế giúp các đơn vị thực hiện chế độ
hạch toán kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh
doanh:
Trong quá trình hoạt động tín dụng, vấn đề cơ bản và quan trọng nhất là
phải thu hồi được vốn và có lãi. Do vậy khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các đơn
vị vay vốn phải thực hiện đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng,
là đảm bảo trả nợ vay đúng hạn và một số điều khoản khác. Qua đó đòi hỏi đơn
vị vay vốn phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm
chi phí, tăng cường vòng quay vốn Mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động tìm
kiếm thị trường và thực hiện các biện pháp như: ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên, mở
rộng thị trường Như vậy tín dụng ngân hàng được sử dụng như một đòn bẩy
kinh tế không thể thiếu được trong việc quản lý tài chính, kiểm soát các quá
8
trình sản xuất phân phối sản phẩm xã hội, thực hiện và củng cố chế độ hạch toán
kinh tế trong tất cả các ngành và lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
d. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước
ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối
quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới:
Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước luôn gắn
liền với nền kinh tế thế giới. Một nước không thế phát triển nếu nước đó không
quan hệ với bên ngoài. Trong mối quan hệ kinh tế đó, sự hợp tác bình đẳng hai
bên cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang được mở rộng
và phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu. Đây là nhân tố quan trọng giúp cho quá
trình phát triển kinh tế của mỗi nước đặc biệt là những nước đang phát triển như
Việt Nam. Việc nhận vốn hay chuyển vốn đầu tư đều phải thông qua ngân hàng.
Vì vậy tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh
tế các nước với nhau. ở nước ta trong những năm qua, tín dụng ngân hàng đã
góp phần đáng kể vào quá trình hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới.
1.2 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngân
hàng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền
và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn
tại, phát triển của ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và đảm bảo
từ hai phía là ngân hàng và khách hàng. Nghĩa là sau một quá trình chu chuyển
vốn, ngân hàng vừa thu được cả gốc và lãi, còn khách hàng thì làm ăn có hiệu
quả. Bởi vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng không những phụ thuộc vào
bản thân của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp.
Như ta đã nghiên cứu ở trên, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng
9
không chỉ có ý nghĩa với ngân hàng cho vay mà còn có ý nghĩa với khách hàng
vay vốn và với toàn bộ nền kinh tế. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín
dụng ngân hàng được xem xét dưới góc nhìn của các chủ thể sau:
a. Đối với các ngân hàng thương mại:
Với tư cách là trung gian tài chính trong nền kinh tế, việc nâng cao chất
lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng tăng cường nguồn vốn của mình. Nếu
chất lượng tín dụng tốt, biểu hiện bằng việc áp dụng linh hoạt và hiệu quả công
tác huy động vốn thì sẽ tạo được nguồn vốn phong phú, đa dạng làm cơ sở cho
việc tạo ra cơ cấu tài sản có phù hợp với cơ cấu tài sản nợ. Bên cạnh đó, chất
lượng tín dụng giúp ngân hàng bảo toàn được vốn của mình bởi vì khi cho vay
có hiệu quả, có khả năng thu hồi cả gốc và lãi, ngân hàng sẽ không phải dùng
nguồn vốn để bù đắp, mà nguồn vốn này phần lớn là của khách hàng. Do vậy,
chất lượng tín dụng tốt là điều kiện để ngân hàng bảo toàn vốn của mình và của
khách hàng gửi tại ngân hàng. Mặt khác, nâng cao chất lượng tín dụng là cơ sở
để ngân hàng tăng cường lợi nhuận cho mình vì phần lớn lợi nhuận thu được
hàng năm của ngân hàng được hình thành từ việc thu lãi từ các khoản tiền cho
vay.
Hơn thế nữa, nâng cao chất lượng tín dụng giúp ngân hàng nâng cao được
nghiệp vụ tín dụng, có thêm nhiều kinh nghiệm, xử lý nhanh các tình huống xảy
ra, có khả năng phán đoán tốt. Từ đó sẽ nâng cao uy tín cho ngân hàng, mở rộng
thị phần và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng, đồng thời đảm bảo
quyền lợi cho khách hàng.
b. Đối với các chủ thể vay vốn:
Việc nâng cao chất lượng tín dụng góp phần lành mạnh hóa các quan hệ
tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng, mà ngân hàng lại là đối tác quan trọng
nhất trong các đối tác trong nền kinh tế (vì ngân hàng vừa là người cho vay vừa
là trung gian thanh toán). Hoạt động tín dụng được thực hiện, việc tuân thủ các
nguyên tắc và điều kiện trên cơ sở cả hai bên đều có ý thức thúc đẩy và thắt chặt
mối quan hệ sẽ tạo ra những khoản tín dụng có chất lượng. Từ đó giúp doanh
10
nghiệp thường xuyên được thỏa mãn yêu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản
xuất kinh doanh, được hưởng những tiện ích khác như thủ tục đơn giản, lãi suất
ưu đãi hơn và tránh được các chi phí và các kỷ luật tín dụng làm giảm hiệu quả
kinh doanh.
Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi khách hàng phải nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tức là người vay vốn phải tạo ra sản phẩm có
chất lượng cao, tiêu thụ được nhiều, bù đắp được chi phí và thu hồi được lợi
nhuận tới mức có thể. Điều này cũng sẽ giúp cho khách hàng có chỗ đứng trên
thị trường. Mặt khác nâng cao chất lượng tín dụng còn là điều kiện để khách
hàng củng cố chế độ hạch toán kế toán theo đúng chế độ hiện hành.
c. Đối với nền kinh tế:
Trước hết ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, loại
doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng thương mại là cầu
nối giữa người có vốn và người thiếu vốn. Nếu ngân hàng hoạt động có hiệu quả
sẽ làm cho khu vực tài chính được lành mạnh góp phần ổn định tiền tệ và kiềm
chế lạm phát, mặt khác giúp các thành phần kinh tế có đủ vốn để mở rộng sản
xuất từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược lại, nếu chất lượng tín dụng
không đảm bảo, ngân hàng sẽ không mở rộng được tín dụng, thị trường tín dụng
sẽ bị ngừng trệ và từ đó nền kinh tế cũng bị ngừng trệ và suy thoái.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu định tính:
- Con người: mà cụ thể ở đây là các cán bộ tín dụng. Chất lượng tín dụng
trước hết được đánh giá qua phong cách làm việc của cán bộ tín dụng có hiệu
quả không, đó có phải là những con người ngoài việc phải có một trình độ nhất
định còn có một lòng nhiệt huyết với nghề. Họ phải là những người sáng tạo,
nhanh nhẹn, làm việc không chỉ đảm bảo lợi ích cho ngân hàng mà còn tạo
thuận lợi cho cả khách hàng. Ta có thể đặt ra một số yêu cầu đối với một cán bộ
tín dụng như sau:
11
+ Có kiến thức cơ bản: nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán
quốc tế, kế toán, pháp luật
+ Có kiến thức về giao tiếp, bán hàng, chăm sóc khách hàng
+ Là những người nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc
+ Trong kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp luôn đặt lên hàng đầu
+ Luôn nghiêm túc chấp hành quy định của ngân hàng và tìm hiểu
những quy định về tín dụng để áp dụng cho đúng, cho phù hợp và đảm bảo tuân
thủ tuyệt đối.
+ Luôn có lập trường quan điểm độc lập, rõ ràng, các căn cứ lập
luận đưa ra đều phải có cơ sở lý luận tránh tình trạng chung chung, mang nặng
cảm tính.
+ Năng động và nhạy bén trong công việc. Dù ở những vị trí khác
nhau luôn có tinh thần học tập, cầu thị
- Quy trình tín dụng: đây là một chỉ tiêu rất quan trọng, nó trực tiếp quyết
định đến hiệu quả, chất lượng của họat động tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào
quy trình tín dụng mà ngân hàng xây dựng ta có thê đã đánh giá được phần nào
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Quy trình vừa nhanh gọn nhưng lại hiệu quả
thì đó chính là phản ánh một mô hình tín dụng có chất lượng tốt.
- Công nghệ thông tin: hiện nay hoạt động của ngân hàng không thể tách
rời với công nghệ thông tin. Và hoạt động tín dụng cũng vậy, đó là công cụ hỗ
trợ cho hoạt động tín dụng được nhanh chóng và thuận lợi hơn. Do vậy thông
qua công nghệ mà ngân hàng áp dụng ta có thể đánh giá được chất lượng tín
dụng, phần mềm càng tham gia hỗ trợ cho cán bộ tín dụng trong nhiều công việc
thì càng tạo nhiều điều kiện nâng cao được chất lượng tín dụng.
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng:
a. Các chỉ tiêu pháp quy:
- Theo QĐ 1627 của thống đốc NHNN thì tổng dư nợ cho vay đối với các
đối tượng đặc biệt (như: tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên kiểm toán tại NH;
thanh tra viên thực hiện thanh tra tại ngân hàng. Các cổ đông lớn, kế toán trưởng
12
của NH. Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 điều
77 của Luật các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp
đó) không được vượt quá 5% vốn tự có của NH.
- Cũng theo QĐ 1627 thì tổng dư nợ đối với một khách hàng không vượt
quá 15% vốn tự có của NH.
- Giới hạn dư nợ cho vay của 10 khách hàng lớn nhất không quá 30%
tổng dư nợ.
- Nợ quá hạn trên tổng dư nợ (trừ nợ khoanh) không quá 5% là tốt.
b. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng
- Tăng trưởng tín dụng:
Dư nợ kỳ này
Tăng trưởng TD = 100%
Dư nợ kỳ trước- Dư nợ kỳ này
Nó phản ánh tốc độ tăng dư nợ tín dụng của ngân hàng kỳ này so với kỳ
trước, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ kỳ này ngân hàng đã mở rộng được hoạt
động tín dụng, và nếu nhìn chung thì ta có thể đánh giá là chất lượng tín dụng
của ngân hàng đã được nâng cao.
- Vòng quay vốn tín dụng:
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ cho vay bình quân trong kỳ
Chỉ số này cho biết tốc độ lưu chuyển của vốn tín dụng là nhanh hay
chậm. Vòng quay vốn tín dụng nhanh thể hiện chất lượng tín dụng tốt, tổng số
thu nợ trong kỳ lớn. Ngược lại thì nó lại thể hiện chất lượng tín dụng không tốt,
thu nợ trong kỳ kém, vốn tín dụng bị đóng băng. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào hai
yếu tố: doanh số thu nợ trong kỳ càng cao kỳ luân chuyển vốn càng nhanh, và
ngược lại dư nợ cho vay bình quân càng nhỏ kỳ luân chuyển vốn càng nhanh.
13
- Hiệu quả một đồng vốn cho vay: đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu
vòng quay vốn tín dụng, nó phản ánh một đồng dư nợ cho vay sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu.
- Tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng dư nợ cho vay có bao nhiêu đồng là
nợ quá hạn. Chỉ tiêu này phản ánh việc quản lý nợ của ngân hàng, chỉ tiêu này
càng lớn chứng tỏ số nợ quá hạn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ, rủi ro tín
dụng của ngân hàng càng tăng và việc quản lý tín dụng của ngân hàng không
hiệu quả, chất lượng tín dụng không tốt.
Chỉ tiêu này có thể xác định chi tiết theo thời gian quá hạn của khoản nợ:
Nợ quá hạn dưới 180 ngày
Tỷ lệ nợ quá hạn =
dưới 180 ngày Tổng dư nợ
Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
Tỷ lệ nợ quá hạn =
khả dụng Tổng dư nợ
Nợ quá hạn trên 360 ngày
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Tổng dư nợ
Nếu tỷ lệ nợ khó đòi càng cao thì ngân hàng không những phải gánh chịu
rủi ro tín dụng lớn mà còn có nguy cơ mất khả năng thanh toán, vì đây là những
khoản nợ khó có khả năng thu hồi, và ngân hàng cũng có nguy cơ mất vốn.
- Hiệu suất sử dụng vốn:
Tổng dư nợ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét