Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Giải pháo nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với ngân hàng ngoại thương.doc

chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
ợng tiền mặt ở một mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa
đảm bảo tính sinh lời.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành bại
của Ngân hàng vì đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng. Cũng vì
vậy mà đây là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh đIều đó, việc quản lý
tiền cho vay đợc tiến hành rất chặt chẽ, đặc biệt là món vay lớn, với thời hạn
dài. Ngân hàng thơng mại có thể cho vay theo nhiều hình thức khác nhau.
Ngoài ra Ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu t chứng khoán
trên thị trờng để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh toán của
Ngân hàng.
Hoạt động trung gian là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàng một
loạt các dịch vụ có liên quan. Ngân hàng sẽ nhận đợc một khoản thu dới hình
thức hoa hồng. Công nghệ Ngân hàng càng phát triển thì hoạt động này càng
phong phú và doanh thu càng lớn. Các hoạt động tiêu biểu là: chuyển tiền,
thanh toán hộ khách hàng thông qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của
khách hàng tại Ngân hàng, phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, th tín
dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sản cho khách hàng, t
vấn cho doanh nghiệp vv.
Ngày nay, xu hớng của Ngân hàng là hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh
vực với nhiều nghiệp vụ khác nhau. Các nghiệp vụ có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ
cho nhau nhằm đạt đợc mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận cao nhất.
3. Các loại hình tín dụng Ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và
mục tiêu quản lý của Ngân hàng Thơng mại mà có cách phân loại tín dụng nh
sau:
3.1. Nếu căn cứ vào thời hạn, tín dụng chia thành các loại sau đây:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
- Tín dụng trung hạn: có thời gian từ 1 năm đến 5 năm (có nơi quy định
là 7 năm).
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn từ 5 năm trở nên (có nơi quy định là 7
năm).
Thời hạn tín dụng đó chính là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp
cho khách hàng một khoản tín dụng và nó đợc xác định cụ thể ngày, tháng,
năm. Hay thời hạn tín dụng còn đợc hiểu là thời hạn đợc tính từ lúc đồng vốn
đầu tiên của ngân hàng đợc phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải
thu về.
Tín dụng ngắn hạn thờng gắn với những khoản vay của doanh nghiệp để bổ
sung vào tài sản lu động, bởi vì tài sản lu động thờng có vòng quay trên một
vòng thấp hơn một năm. Do vậy trong một năm doanh nghiệp có thể hoàn trả
đợc số tiền vay ở Ngân hàng.
Lớp: Ngân hàng 41C
5
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
Các tài sản cố định nh phơng tiện sản xuất, phơng tiện vận tải, một số cây
trồng vật nuôi các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ 1
năm đến 5 năm.
Ngợc lại, những công trình đầu t lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ mô nh:
máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đờng có nhu cầu nguồn
vốn từ 5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm.
Tất nhiên cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án
có thời hạn dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp
khó có thể tính đợc hết khó khăn sẽ gặp trong tơng lai. Do vậy mức độ rủi ro
của các khoản tín dụng có thời gian lớn đối với Ngân hàng sẽ tăng nên. Điều
này một phần lý giải tại sao lãi suất các khoản cho vay dài hạn thờng cao hơn
các khoản các khoản cho vay ngắn hạn.
Phân loại Tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân
hàng Thơng mại. Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng nh ảnh hởng
trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một Ngân hàng Thơng mại.
3.2. Phân loại theo hình thức cho vay.
Căn cứ theo hình thức cho vay ta có các loại tín dụng sau:
- Chiết khấu là việc Ngân hàng Thơng mại ứng trớc tiền cho khách hàng
tơng ứng với giá trị của thơng phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của
Ngân hàng để sở hữu một thơng phiếu cha đến hạn. Về mặt pháp lý thì
Ngân hàng không phải là nhà cho vay với chủ sở hữu thơng phiếu và chỉ
là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên đối với Ngân hàng, việc bỏ
tiền ở thời điểm hiện tại để thu về một khoản tiền lớn hơn trong tơng lai
với lãi suất ấn định trớc đợc coi nh là hoạt động tín dụng, nhng có lẽ coi
đây là một hoạt động đầu t của Ngân hàng hơn là một hoạt động tín
dụng.
- Cho vay đợc hiểu là việc Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự
cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
định với mức lãi suất cam kết. Cho vay đợc gọi là một trong các nghiệp
truyền thống của Ngân hàng Thơng mại, nó đợc hình thành ngay từ
buổi sơ khai của các Ngân hàng, và đợc đánh giá là hoạt động sinh lời
cao nhất cho các Ngân hàng Thơng mại.
- Bảo lãnh là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
thay khách hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng
trả nợ. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song Ngân hàng vẫn thu đợc lợi
từ khách hàng nhờ uy tín của mình. Nghiệp vụ này đợc đa vào tài khoản
ngoại bảng của Ngân hàng. Tuy nhiên nếu có nghiệp vụ phát sinh tức là
Ngân hàng đứng ra thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng
của mình thì nó lại đợc đa vào tài khoản nội bảng.
- Cho thuê đó là việc Ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho
khách hàng thuê theo những điều kiện nhất định. Sau thời gian đó
khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng. Đây là hoạt động khá
mới mẻ với Ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động này sinh lời khá cao, nhng
nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro trong đó có yếu tố về công nghệ. Điều
Lớp: Ngân hàng 41C
6
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
này đòi hỏi cán bộ tín dụng không những phải có chuyên môn về nghề
nghiệp mà còn có cả sự hiểu biết về kỹ thuật, về công nghệ.
3.3Phân loại tín dụng theo tài sản đảm bảo.
Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo thì ta có các loại hình tín dụng sau đây:
- Tín dụng đảm bảo đó là sự cam kết của ngời nhận tín dụng về việc dùng
tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ tài chính
đối với Ngân hàng trong trờng hợp không trả đợc nợ. Trong trờng hợp
này khi khách hàng không trả đợc nợ, hoặc vì sử dụng sai mục đích
nguồn vốn vay dẫn đến không thanh toán đợc thì Ngân hàng sẽ bán tài
sản đi để thu hồi nguồn vốn. Tín dụng đảm bảo đợc áp dụng đối với các
khách hàng có độ rủi ro cao nh khách hàng mới hay những khách hàng
có tình hình tài chính không tốt
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo đó là loại hình tín dụng mà khách
hàng có nhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài
sản đảm bảo. Loại tín dụng này thờng đợc cấp cho các khách hàng có
uy tín cao, những khách hàng có mối quan hệ tốt và lâu dàI đối với
Ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh, có mối quan hệ tốt với
các tổ chức tài chính. Cũng có thể là các khoản vay thực hiên theo chỉ
thị của Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo.
Bên cạnh những tiêu thức phân loại trên, các Ngân hàng Thơng mại còn sử
dụng các tiêu thức khác tuỳ theo đối tợng cho vay, tính đa dạng của sản phẩm
hay tính chuyên môn hoá trong ngành để phân chia ví dụ nh: Tín dụng lành
mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng
II. Vai trò tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thơng mại trong nền
kinh tế thị trờng
1. Tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho khách hàng vay
vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh
doanh, phục vụ đời sống . Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại
nguồn thu nhập chủ yếu và nó chiếm phần lớn hoạt động trong các Ngân hàng
Thơng mại, song không phải tất cả các Ngân hàng Thơng mại đều thực hiện
tốt hoạt động này. Một số Ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý và thu
hồi nợ, một số khác lại gặp khó khăn trong việc không thể tìm đợc dự án thích
hợp để cho vay hoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy việc xem
xét chất lợng hiệu quả hoạt động tín dụng nhất là tín dụng trung và dài hạn là
hết sức cần thiết. Nó giúp các Ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động tín
dụng của mình từ đó đa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu
sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tín dụng.
Chất lợng, hiệu quả công tác tín dụng Ngân hàng đợc nhìn nhận từ 3
phía: các nhà Ngân hàng, các doanh nghiệp, và từ nền kinh tế. Trong bài viết
này, chúng ta tạm giới hạn việc nghiên cứu chất lợng tín dụng dới giác độ của
Lớp: Ngân hàng 41C
7
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
Ngân hàng. Nếu xét theo quan điểm của các nhà Ngân hàng thì hoạt động tín
dụng trung và dài hạn đợc xem là có hiệu quả khi nó đảm bảo đợc 3 yếu tố:
khả năng sinh lợi, khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn và khả năng thanh
khoản từ phía nguồn. Điều này có nghĩa là các Ngân hàng khi tiến hành cho
vay trung dài hạn thì khoản vay đó phải đảm bảo trang trải đợc chi phí trả cho
lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí hoạt động của Ngân hàng và lãi dự tính.
Song không phải các Ngân hàng cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là
có hiệu quả cao bởi vì nếu chỉ cho vay ra mà không thu hồi đợc vốn cho vay
hoặc cho vay không cân xứng với nguồn huy động đợc thì sớm hay muộn,
Ngân hàng cũng rơi vào tình trạng thua lỗ, đổ bể.
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn có các hình thức sau:
- Hoạt động tín dụng theo hình thức dự án đầu t
- Hình thức cho thuê tài chính
- Thấu chi
- Bảo lãnh trung và dài hạn
2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
2.1. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp
- Tín dụng trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều
kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trờng. Đó là mục tiêu hàng đầu
của doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng thị trờng hoạt
động của mình và nếu vậy phải mở rộng sản xuất. Mở rộng sản xuất không
phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành một sớm một chiều. Đó là
hoạt động lâu dài và cần có nguồn vốn dài hạn. Nhng không phải doanh
nghiệp nào cũng đủ vốn để tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh. Do vậy
nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp rất cần
thiết. Với những lợi thế đặc thù, tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng đợc
các doanh nghiệp a thích hơn hình thức phát hành cổ phiếu.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi
mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Điều đó giúp doanh nghiệp thích
nghi với tình hình thị trờng cũng nh đặc thù của chính doanh nghiệp tạo điều
kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Về dài hạn, các doanh
nghiệp luôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xởng, mua
sắm máy móc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất, chất l-
ợng sản phẩm và giảm chi phí đến mức tối thiểu. Đặc biệt đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trong lúc các nhà
Lớp: Ngân hàng 41C
8
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
kinh doanh cha tích luỹ đợc nhiều, cha có nhiều thời gian để tích luỹ vốn, tâm
lý đầu t trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế.
Việc vay vốn trung và dài hạn ở ngân hàng thơng mại sẽ làm cho doanh
nghiệp có thể tự chủ và có khả năng kiểm soát độc lập đợc hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp mình mà không phải phân chia quyền kiểm soát
với các cổ đông nếu huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu.
- Tín dụng trung và dài hạn còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp
trong việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh,
các doanh nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản
xuất kinh doanh, gia tăng sản lợng để chiếm lĩnh thị trờng. Khi doanh nghiệp
đi vay vốn trung dài hạn tại Ngân hàng thơng mại sẽ có thể điều chỉnh đợc kỳ
hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đến hạn trả nợ khi họ
không cần đến việc sử dụng vốn trung và dài hạn nữa. Khi doanh nghiệp gặp
khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì có xin Ngân
hàng gia hạn nợ. Ngoài ra, tín dụng trung và dài hạn tránh đợc các chi phí phát
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký
Việc trả nợ trung và dài hạn cũng đợc xây dựng theo một sự phân chia ổn
định và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ
một cách dễ dàng hơn.
2.2. Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với nền kinh tế
- Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn,
điều hoà lợng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Với chức năng là trung gian
tài chính, các Ngân hàng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
và cho vay đối với các đối tợng có nhu cầu điều đó đợc thể hiện rõ trong hoạt
động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng, nó giúp các doanh nghiệp nói
riêng và cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch không ngắt
quãng và là một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. Thông qua cho vay trung và
dài hạn mà xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu t phát triển nền kinh tế. Hoạt động tín
dụng thúc đẩy lu thông hàng hoá, đẩy nhanh chu chuyển tiền tệ, thúc đẩy tái
sản xuất mở rộng.
- Tín dụng trung và dài hạn cũng có vai trò quan trọng trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng
tỷ trọng các ngành sản xuất vật chất là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nớc,
đáp ứng nhu cầu trớc mắt cũng nh lâu dài. Đầu t cho vay trung dài hạn trực
tiếp hay gián tiếp góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc
làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống của dân c, phát triển lực lợng lao
động, giúp nền kinh tế tăng trởng ổn định.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế
đối ngoại. trong điều kiện hiện nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn
Lớp: Ngân hàng 41C
9
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
gắn với thị trờng thế giới, nền kinh tế đóng trớc đây đã nhờng bớc cho nền
kinh tế mở phát triển. Tín dụng trung và dài hạn đã trở thành một trong những
phơng tiện nối liền kinh tế các nớc với nhau dới các hình thức: tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa với sự phát triển
kinh tế trong cả hiện tại và tơng lai. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết với thực
trạng nền kinh tế nớc ta hiện nay: Nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là rất lớn trong khi việc sử dụng vốn còn có nhiều bất cập,
hiệu quả sử dụng vốn không cao, còn thất thoát và gây lãng phí lớn.
2.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động của Ngân
hàng Thơng mại .
- Tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân
hàng, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Tín dụng
trung dài hạn cả về số lợng và chất lợng là hoạt động mang tính chiến lợc của
các Ngân hàng Thơng mại. Với những khoản tín dụng trung và dài hạn có quy
mô lớn và lãi suất cao, thời gian dài, tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi
nhuận chủ yếu cho Ngân hàng. Do vậy tín dụng trung và dài hạn mang lại thu
nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của Ngân hàng Thơng mại từ trớc
đến nay.
- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng
đang tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tơng lai. Tạo điều kiện để
Ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai
trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Khi Ngân hàng không đa dạng hoá hoạt
động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì ngân hàng không
thể đứng vững đợc trong nền kinh tế thị trờng với sự cạnh tranh gay gắt của
các Ngân hàng khác. Mặt khác, tín dụng trung và dài hạn còn là công cụ cạnh
tranh hiệu quả của Ngân hàng nhằm thu hút khách hàng về phía mình. Khi có
đợc mối quan hệ, Ngân hàng có điều kiện lôi kéo khách hàng sử dụng các
dịch vụ khác do mình cung cấp
- Mặt khác tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải
quyết nguồn vốn huy động còn d thừa tại mỗi ngân hàng thơng mại. Đồng
thời là cách để Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho
các doanh nghiệp. Vì vậy cần phải nâng cao chất lợng tín dụng trung và dài
hạn để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu đợc lợi
nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cờng khả năng cạnh tranh
với các Ngân hàng khác.
Lớp: Ngân hàng 41C
10
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
III. Nội dung nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn.
3.1. Mục đích cho vay.
Nếu nh tín dụng ngắn hạn đợc cho vay chủ yếu để bổ sung vào nguồn vốn
lu động của doanh nghiệp, thì tín dụng trung và dài hạn lại nhằm đầu t vào các
dự án có thời gian tơng đối dài nh mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới trang
thiết bị và công nghệ, xây dựng sửa chữa nhà xởng cơ sở vật chất kỹ thuật
nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, và phát triển trong tơng lai
của doanh nghiệp.
3.2. Đối tợng cho vay.
Với mục đích cho vay nh trên, nên đối tợng cho vay của tín dụng trung và
dài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu t của dự án không phân
biệt thành phần kinh tế, là tổ chức, cá nhân hay là doanh nghiệp, bao gồm: giá
trị vật t, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuế
và chuyển nhợng đất đai, giá thuê mua các tài sản, chi phí mua bảo hiểm và
các chi phí khác.
3.3. Điều kiện cho vay
Để đợc vay vốn, đơn vị xin vay phải gửi đến ngân hàng đơn xin vay, luận
chứng kinh tế, kỹ thuật và dự toán đã đợc thẩm định và cấp trên phê duyệt và
các báo cáo tài chính của mình trong một vài năm trớc. Ngoài ra, đơn vị xin
vay phải gửi đến Ngân hàng bản tính toán hiệu quả của dự án, lợi nhuận mà dự
án mang lại qua các năm, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của dự án
nh NPV, IRR Bên cạnh đó có tính toán đầy đủ các số tiền xin vay, các nguồn
trả nợ và lệnh trả nợ. Ngân hàng cho vay sẽ xem xét kỹ các tài liệu nhằm đánh
giá đầy đủ khả năng của đơn vị vay vốn trớc khi quyết định cho vay, tình hình
tài chính và nghiã vụ của họ với Nhà nớc và các tổ chức tàichính nh thế nào.
Khi ngân hàng quyết định cho các doanh nghiệp vay trung và dài hạn,
ngân hàng cần phải nắm chắc hiệu quả của phơng án, dự án, chơng trình sản
xuất của bên vay vốn.
Một trong các điều kiện để cho các Ngân hàng Thơng mại cho vay là thế
chấp. Đó cũng là đảm bảo tín dụng đợc thực hiện dới nhiều hình thức khác
nhau nhng nhìn chung có thể chia làm hai loại: đảm bảo đối vật và đảm bảo
đối nhân.
- Đảm bảo đối vật: đảm bảo đối vật là hình thức đảm bảo tín dụng mà
trong đó Ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ đợc thừa hởng một số quyền hạn
nhất định đối với tài sản của khách hàng nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong
trờng hợp khách hàng không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Có 2 hình
thức đảm bảo đối vật chính là thế chấp và cầm cố.
Lớp: Ngân hàng 41C
11
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
+ Thế chấp là phơng tiện chuyển dịch quyền lợi về tài sản sang cho chủ
nợ với mục đích làm đảm bảo cho món nợ hoặc miễn trừ một nghĩa vụ. Ngời
đi vay đợc gọi là ngời thế chấp và ngời cho vay đợc gọi là ngời đợc thế chấp.
+ Cầm cố là hành vi giao nộp tài sản hoặc các chứng từ chứng nhận quyền
sở hữu tài sản của con nợ (ngời đợc cầm cố) để thực hiện một nghĩa vụ. Nghĩa
vụ cầm cố trong quan hệ tín dụng là ngời đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
nợ đúng hạn hợp đồng. Trong trờng hợp ngời đi vay không thanh toán nợ đúng
hạn theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố và đợc u tiên
thu nợ trớc các chủ nợ khác. Những loại tài sản cầm cố thông dụng để đảm
bảo cho vay Ngân hàng gồm: cầm cố hàng hoá, chiết khấu thơng phiếu, cầm
cố các chứng khoán khác.
- Đảm bảo đối nhân: Đảm bảo đối nhân là sự cam kết của một hoặc
nhiều ngời về việc trả nợ Ngân hàng thay cho khách hàng vay vốn khi ngời
này không trả đợc nợ. Trong đảm bảo đối nhân có 3 chủ thể liên quan với
nhau nh sau:

1: Hợp đồng tín dụng đợc ký giữa ngân hàng và ngời đi vay.
2: Hợp đồng bảo lãnh đợc ký giữa ngân hàng và ngời bảo lãnh.
Khi xét duyệt một bảo lãnh ngân hàng cần chú ý đến một số điểm nh sau:
+ Ngời bảo lãnh phải có đủ năng lực bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
Nếu là pháp nhân thì ngời đứng ra bảo lãnh phải là ngời đại diện hợp pháp của
pháp nhân.
+ Thể nhân hoặc pháp nhân đứng ra bảo lãnh phải có đủ năng lực tài chính
để thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
+ Uy tín của ngời bảo lãnh.
Đảm bảo tín dụng đợc coi là tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay nhng phải thấy
rằng đây không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất hay nói cách khác không
phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc. Tuy nhiên trong thời gian qua, các
Ngân hàng thơng mại nớc ta vẫn xếp đảm bảo tiền vay vào vị trí số một
3.4. Nguồn vốn
Lớp: Ngân hàng 41C
12
Người đi vay Ngân hàng Người bảo lãnh
1 2
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
Ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn sau để cấp tín dụng trung và
dài hạn cho khách hàng.
- Vốn tự có: Đây là nguồn vốn chủ yếu hình thành nguồn vốn cho vay
trung và dài hạn của các Ngân hàng Thơng mại góp vốn hoặc tích luỹ trong
quá trình kinh doanh. Các Ngân hàng Thơng mại có vốn tự có lớn sẽ có nhiều
u thế trong cho vay trung dài hạn. Đối với các Ngân hàng Thơng mại Việt
Nam hiện nay thì đây là một trở ngại vì vốn tự có của bản thân mỗi ngân hàng
còn rất nhỏ bé so với nhu cầu đầu t phát triển kinh tế.
- Ngân hàng có thể huy động vốn của dân c dới hình thức phát hành trái
phiếu dài hạn hoặc huy động tiền gửi định kỳ dài hạn để cho vay trung dài
hạn. Nguồn vốn này hiện nay rất hạn chế do dân chúng ít ngời muốn gửi tiền
dài hạn và kỳ hạn của trái phiếu huy động không dài.
- Vốn vay từ Ngân hàng Trung ơng: Nguồn tiền này cũng bị hạn chế vào
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng
- Vay nợ nớc ngoài để cho vay trung dài hạn: Đây là một hình thức đợc
các Ngân hàng trên thế giới sử dụng thờng xuyên với khối lợng lớn. Ưu điểm
của nguồn vốn này là có khối lợng lớn và lãi suất chấp nhận đợc nhng các
Ngân hàng chỉ nên sử dụng nguồn vốn này nếu có dự án đầu t có hiệu quả cao
tránh việc không hoàn trả đợc nợ vay.
- Vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chơng trình hoặc dự án
đầu t của Nhà nớc, tổ chức kinh tế-tài chính, tín dụng, xã hội trong và ngoài n-
ớc. Đặc điểm của nguồn vốn này là không ổn định, các dự án đầu t thờng đợc
chỉ định trớc, Ngân hàng chỉ là ngời trung gian đóng vai trò quản lý, giải ngân
và thu hồi vốn đầu t mà không có quyền lựa chọn.
- Ngoài những nguồn vốn trên, đối với các Ngân hàng quốc doanh Việt
nam thì hàng năm các Ngân hàng này còn nhận đợc một khoản vốn điều lệ từ
Ngân hàng Trung ơng. Đó cũng là nguồn vốn hình thành vốn vay trung và dài
hạn tại các Ngân hàng Thơng mại, nhất là đối với dự án vay theo sự chỉ định
của Chính phủ.
3.5. Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là trên 1 năm, đợc xác định căn cứ vào yêu cầu của dự
án, khả năng trả vốn của dự án đầu t và tính chất nguồn vốn của bên cho vay.
Thời gian cho vay đợc tính từ khi bên vay nhận đợc khoản vốn đầu tiên cho
đến khi trả hết nợ. Thông thờng, Ngân hàng căn cứ vào thời gian khấu hao để
để xác định thời gian cho vay. Thời gian cho vay ngắn hơn hoặc dài hơn quá
nhiều so với thời gian khấu hao đều ảnh hởng tới quá trình hoàn trả của khách
hàng vì khấu hao từ tài sản là một trong những nguồn chủ yếu để trả nợ cho
khách hàng. Thời hạn cho vay bao gồm thời gian ân hạn (nếu có) và thời gian
trả nợ.
Lớp: Ngân hàng 41C
13
chuyên đề tốt nghiệp Vũ Văn Cờng
- Thời gian ân hạn đợc tính tơng xứng với thời gian xây dựng công
trình, thời gian lắp đặt máy móc và sản xuất thử sản phẩm.
- Thời gian trả nợ: tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị vay,
tuỳ vào khả năng thu nhập của bên vay mà hai bên thoả thuận kỳ hạn trả nợ và
số tiền trả nợ từng kỳ.
3.6. Lãi suất cho vay
Về cơ bản, khoản đầu t có kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng lớn. Vì thế lãi
suất cho vay trung dài hạn thờng cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Lãi suất
cho vay đợc xác định tuỳ vào dự án, ngành nghề, lĩnh vực đầu t, chính sách
của ngân hàng cũng nh sự thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng.
Lãi suất cho vay có thể đợc tính theo lãi suất cố định hoặc lãi suất biến động.
Lãi suất cố định là lãi suất giữ nguyên không thay đổi trong suốt thời kỳ thực
hiện hợp đồng. Lãi suất biến đổi là lãi suất có thể thay đổi lên xuống trong
thời hạn vay. Trong cho vay trung dài hạn, phần lớn các ngân hàng sử dụng lãi
suất biến đổi để tránh rủi ro cho ngân hàng và ngời vay khi lãi suất trên thị tr-
ờng biến động. Thông thờng, đối với các khoản vay trung và dàI hạn tại các
Ngân hàng Thơng mại thì lãi suất đợc đIều chỉnh 6 tháng một lần và đợc tính
theo công thức sau: lãi suất đIều chỉnh = lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng
+ 0,1%/tháng
3.7. Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức d nợ vay tối đa đợc duy trì trong một thời hạn
nhất định mà Ngân hàng có thể cung cấp cho một khách hàng theo thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng.
Hạn mức tín dụng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
- Quy định của Ngân hàng Nhà nớc, mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ.
- Hạn mức tín dụng còn phụ thuộc vào chính bản thân các Ngân hàng Thơng
mại, vào khối lợng vốn huy động của Ngân hàng càng lớn thì mức tín dụng mà
Ngân hàng có thể cung cấp cho từng khách hàng càng nhiều, và vào chính
sách tín dụng của Ngân hàng Thơng mại từng thời kỳ và đối với mỗi dự án
cũng có khác nhau.
- Nhu cầu vay vốn của ngời vay, tình hình tài chính và uy tín của ngời vay ảnh
hởng trực tiếp tới hạn mức tín dụng. Các Ngân hàng Thơng mại thờng căn cứ
vào tình hình tài chính của khách hàng có tốt hay không, uy tín của họ với các
tổ chức tài chính để ra quyết định hạn mức tín dụng.
- Sự ổn định hay bất ổn của nền kinh tế. Khi nền kinh tế bất ổn thì rủi ro
trên thị trờng sẽ cao nên. Do vậy khả năng thu hồi vốn sẽ xấu đi.
8. Thẩm định dự án
Khi tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn, Ngân hàng cần chú ý thẩm định
hai nội dung: Thẩm định chủ đầu t và thẩm định dự án đầu t. Trong khâu thẩm
định, Ngân hàng cần nắm chắc phơng diện tài chính của dự án nhằm xác định
Lớp: Ngân hàng 41C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét