trường quyết định. Doanh nghiệp không thể tự mình áp đặt sản xuất với
lượng sản phẩm bao nhiêu mà phải dựa vào cầu thị trường, cầu của ngành và
cầu của doanh nghiệp.
Thị trường điều tiết sự ra nhập hay rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp.
Khi cung thị trường về một sản phẩm vượt quá cầu thì điều tất yếu là một số
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải rút lui khỏi thị trường hoặc
sản xuất với sản lượng ít hơn. Quá trình đào thải sẽ diễn ra khi một doanh
nghiệp không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, khi cung
thiếu hụt, hoặc một ngành mà mang lại lợi nhuận cao, sức hút lớn thì sẽ kích
thích sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài ngành và những nhà đầu tư
mới. Việc ra nhập hay rút lui khỏi ngành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của
thị trường và lĩnh vực đó. Ví dụ rào cản ra nhập hay rút lui khỏi ngành, mức
độ hấp dẫn của ngành, sự liên kết của các nhà cung ứng sẵn có, hay mức độ,
nhu cầu của thị trường.
Thị trường còn kích thích các nhà đầu tư giỏi. Điều tất yếu là khi một
nhà đầu tư giỏi sẽ hoạt động tốt và đứng vững trên thị trường. Ngược lại,
những đầu tư kém hiệu quả sẽ bị sụp đổ. Các mặt hàng mới, lĩnh vực có lợi,
có tiềm năng cũng sẽ được kích thích phát triển. Bởi vì các mặt hàng mới thì
luôn thu hút được sự quan tâm, kích thích người mua muốn mua. Và khi cầu
tăng thì cung sẽ phải tăng để đáp ứng nhu cầu. Và đối với các doanh nghiệp,
các nhà đầu tư thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận. Vì vậy, họ sẽ tìm
mọi cách để xâm nhập vào những lĩnh vực có lợi, hấp dẫn.
Bên cạnh đó, thị trường còn là nơi kiểm tra đánh giá các kế hoạch, quyết
định của doanh nghiệp thông qua tốc độ phát triển, mức độ tham gia vào thị
trường của doanh nghiệp. Qua thị trường, doanh nghiệp sẽ thấy được ưu,
nhược điểm cũng như điểm mạnh, điểm yếu của mình. Từ đó, doanh nghiệp
sẽ có các biện pháp phát huy, tận dụng thế mạnh và khắc phục, tránh những
điểm yếu. Doanh nghiệp không chỉ xác định được vị trí của mình mà còn có
thể xác định được vị trí của đối thủ cạnh tranh trên thị trường và đưa ra
những chiến lược, chính sách đối với đối thủ.
Thị trường còn là nơi cung cấp thông tin cho người sản xuất và người
tiêu dùng. Đối với người tiêu dùng, thị trường cung cấp thông tin về chủng
loại, giá cả, mẫu mã, nhãn hiệu… Đối với nhà sản xuất thông tin từ thị
trường cực kỳ quan trọng. Những thông tin về nhu cầu, tình hình tiêu thụ sản
phẩm, xu hướng tiêu dùng… sẽ là những căn cứ để doanh nghiệp đưa ra các
quyết định về sản phẩm, só lượng phân phối…
3.Phát triển thị trường và sự cần thiết phải phát triển thị trường.
3.1.Quan niệm và nội dung của phát triển thị trường.
Mở rộng thị trường là mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng doanh
thu, lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Đưa hàng hoá hiện có
của mình vào các thị trường mới để tăng lượng tiêu thụ. Để đạt được mục
đích này thì ngoài thị trường truyền thống mà doanh nghiệp đang chiếm lĩnh,
doanh nghiệp cần mở rộng thêm, xâm nhập vào những đoạn thị trường khác
hoặc cải tiến sản phẩm, thay đổi chính sách giá cả… để thu hút thêm khách
hàng trên thị trường mục tiêu.
Công tác phát triển, mở rộng thị trường là tổng hợp các cách thức, biện
pháp của doanh nghiệp để đưa khối lượng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
đạt mức tối đa.
Phát triển thị trường có thể thực hiện bằng mở rộng theo sản phẩm,
mở rộng theo địa lý hay mở rộng theo khách hàng.
Mở rộng theo sản phẩm tức là đưa thêm nhiều dạng sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó tối đa việc
tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Doanh nghiệp sẽ xác định lĩnh vực hoạt
động, nhóm hàng hoặc một sản phẩm mà doanh nghiệp có lợi thế nhất để tập
trung nguồn lực vào sản xuất kinh doanh.
Có hai hướng là có thể mở rộng sản phẩm mới hoàn toàn theo công
năng, giá trị sử dụng. Theo đuổi mục đích này doanh nghiệp phải đầu tư chi
phí lớn về máy móc, thiết bị, nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm ra
thị trường…Hoặc hướng thứ hai mà doanh nghiệp có thể theo đuổi là cải
tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản phẩm hiện có. Doanh nghiệp sẽ có
các thay đổi về chất lượng, kiểu dáng, kích thước, bao bì, nhãn hiệu,… tạo
sự khác biệt cho sản phẩm của mình.
Mở rộng theo địa lý tức là mở rộng địa bàn hoạt động của doanh nghiệp
bằng hệ thống các đại lý, cửa hàng, quầy hàng, điểm bán…. Mở rộng địa lý
có thể thực hiện tại khu vực đang hoạt động của doanh nghiệp, hoặc xâm
nhập vào nhưng khu vực mới, thị trường.
Mở rộng theo khách hàng từ những khách hàng truyền thống , khách
hàng mới, khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp xác định. Doanh nghiệp
tiến hành phân chia khách hàng theo nhóm tuổi, giới tính, thu nhập, thị
hiếu… Nghiên cứu nhu cầu, mong muốn của từng nhóm đối tượng và dựa
vào khả năng của mình để có chiến lược cụ thể cho từng nhóm đối tượng.
Mở rộng thêm đối tượng phục vụ dựa vào hành vi tiêu thụ, phạm vi địa lý và
căn cứ vào mối quan hệ khách hàng, doanh nghiệp.
3.2. Sự cần thiết phải phát triển thị trường.
3.2.1. Xu thế chung của nền kinh tế.
Nếu như trước kia nền kinh tế Việt Nam còn có sự phân biệt giữa thành
phần kinh tế nhà nước và tư nhân, thậm chí chúng ta chủ trương chỉ phát
triển thành phần kinh tế nhà nước. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thị
trường và các quy luật của thị trường không tồn tại. Các doanh nghiệp thực
hiện sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước do đó không có động lực
để phát triển. Khi các quan hệ kinh tế thị trường không được thừa nhận thì sẽ
dẫn đến nền kinh tế đi ngược quy luật và đổi mới là tất yếu. Hiện nay, tất cả
các thành phần kinh tế đều bình đẳng và có cơ hội phát triển. Sự can thiệp
của nhà nước giảm dần và chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián
tiếp bằng các chính sách vĩ mô. Sự bình đẳng này cũng dẫn đến các doanh
nghiệp luôn phải cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Do đó,
để có thể đứng vững thì không còn cách nào khác mỗi doanh nghiệp phải tự
lựu chọn cho mình một hướng đi và có những chiến lược chiếm lĩnh thị phần
nhất định.
Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ các giới hạn về địa lý
không còn là vấn đề đáng quan tâm, thị trường của doanh nghiệp không bị
bó hẹp trong nước cũng như khu vực. Các doanh nghiệp có cơ hội vươn ra
nước ngoài thì cũng có nguy cơ bị xâm nhập bởi các doanh nghiệp nước
ngoài. Cạnh tranh gay gắt hơn và doanh nghiệp không thể không nghiên cứu
thị trường và thực hiện phát triển thị trường của mình không bằng cách này
thì bằng cách khác.
Đặc biệt trong vài thập niên trở lại đây, toàn cầu hoá và hội nhập chưa
bao giờ mạnh mẽ như vậy. Thị trường là thị trường toàn cầu. Bắt buộc các
doanh nghiệp trong nước phải có tầm nhìn ra nước ngoài. Trong khi đó, thị
trường trong nước vẫn phải được quan tâm và do nhu cầu luôn biến đổi, đời
sống nâng lên, các nhu cầu của con người không còn là những nhu cầu thiết
yếu. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu sản phẩm của doanh
nghiệp để có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nếu doanh nghiệp không
chú ý đêu điều này thì các nhu cầu mới sẽ sẵn sàng được đáp ứng bởi các
doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp nước ngoài với trình độ, kinh nghiệm
hơn hẳn chúng ta.
3.2.2. Phát triển thị trường là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Ngày nay, không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại
không tìm mọi cách gắn kinh doanh của mình với thị trường vì chỉ như vậy
doanh nghiệp mới hy vọng tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường.
Mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp hoạt động là lợi nhuận. Để
duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, mọi doanh nghiệp đều phải nhìn về
phía trước với những mục tiêu cần đạt tới. Trong đó mục tiêu về thị phần, lợi
nhuận là mục tiêu hàng đầu và cũng là mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh
nghiệp. Mọi cố gắng của doanh nghiệp cũng nhằm đạt được một vị trí mong
muốn xét trên vị thế cạnh tranh và sự thay đổi hoàn cảnh.
Doanh nghiệp giống như một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Nó cần
có sự trao đổi chất với thị trường bên ngoài. Sự trao đổi càng liên tục, mạnh
mẽ với quy mô càng lớn thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh. Do vậy doanh
nghiệp phải không ngừng mở rộng và phát triển thị trường của mình.
3.2.3. Các quy luật của nền kinh tế.
Quy luật cạnh tranh.
Quy luật cung cầu.
Quy luật về vòng đời sản phẩm.
4. Các yếu tố tác động đến phát triển thị trường.
4.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô.
Môi trường kinh tế: Thực trạng kinh tế và xu hướng trong tương lai có
sự ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp. Môi trường kinh tế trước
hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngành kinh tế,
cơ cấu vùng kinh tế, lạm phát.Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố
ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng như thu nhập,
sự phân hoá thu nhập.
Môi trường công nghệ, kỹ thuật: Môi trường công nghệ bao gồm các
nhân tố gây ảnh hưởng đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm mới và cơ hội
thị trường mới. Việc phân tích và phán đoán sự biến đổi công nghệ là rất
quan trọng. Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến vòng đời của sản
phẩm. Thế giới đã từng chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm trao đảo,
thậm chí mất đi nhiều lĩnh vực kinh doanh đồng thời lại làm xuất hiện nhiều
lĩnh vực mới, hoặc hoàn thiện hơn.
Môi trường văn hoá- xã hôi: Khi đưa sản phẩm ra thị trường doanh
nghiệp cần phải nắm được đặc tính về văn hoá, xã hội ở thị trường đó. Sản
phẩm, nhãn hiệu đó có phù hợp với văn hoá và có gây cách hiểu sai với
thông điệp của nhà sản xuất không? Hiểu biết văn hoá của nơi mình kinh
doanh và dự định kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định
đúng đắn và tạo được thiện cảm của khách hàng.
Môi trường tự nhiên: “ Thiên thời, địa lợi, nhân hoà “ hội tụ ba yếu tố
này sẽ làm mọi việc suôn sẻ. Nghiên cứu các quy luật tự nhiên là một trong
các yếu tố giúp doanh nghiệp tránh các rủi ro và có nhiều khi là nhân tố
quyết định thắng lợi của doanh nghiệp.
Môi trường chính trị, pháp luật: Bao gồm hệ thống luật và các văn bản
dưới luật, các công cụ, chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và cơ chế
điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội.
Môi trường toàn cầu: Khu vực hoá, toàn cầu hoá đang là một xu thế
tất yếu mà mọi ngành, mọi doanh nghiệp phải tính đến. Để tồn tại doanh
nghiệp phải tìm cách thích ứng, hoà nhập, sáng suốt nhận biết thời cơ, thách
thức.
Môi trường nhân khẩu học: Các vấn đề về dân số, quy mô, mật độ,
tuổi tác, giới tính, sắc tộc,…có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, tốc độ phát
triển thị trường . Đây là điều mà một doanh nghiệp muốn phát triển thị
trường cầ hết sức quan tâm.
4.2. Môi trường ngành.
M. Porter đã đưa ra mô hình năm áp lực cạnh tranh:
Doanh nghiệp và
đối thủ hiện tại
Sản phẩm thay
thế
Đối thủ tiềm ẩn
Khách hàngNhà cung ứng
II.Công tác kế hoạch và kế hoạch phát triển thị trường trong doanh
nghiệp.
1.Kế hoạch hoá doanh nghiệp là gì? Vai trò của kế hoạch.
Kế hoạch hoá doanh nghiệp được xác định là một phương thức quản lý
doanh nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một
cách có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp vào các lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Như vậy, kế hoạch hoá trong doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng tiên đoán
mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đã đề ra. Công
tác kế hoạch hoá bao gồm các hoạt động:
Lập kế hoạch: Đây là quá trình xác định mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và
đề xuất các giải pháp.
Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch là
những hoạt động tiếp theo nhằm đưa kế hoạch vào thực tế hoạt động.
Vai trò của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường:
Trước kia, trong nền kinh tế kế haọch hoá tập trung hệ thống chỉ tiêu kế
hoạch là cơ sở điều tiết mọi hoạt động tổ chức và quản lý của doanh nghiệp.
Khi đó, kế hoạch sẽ tạo ra các tỷ lệ tiết kiệm và tích luỹ cao, thực hiện được
các cân đối cần thiết trong tổng thể kinh tế quốc dân, nề kinh tế đạt được
những mức cung ứng cần thiế để nền kinh tế phát triển. Nhờ cơ chế kế hoạch
hoá nhà nước có thể hướng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục
tiêu và các lĩnh vực ưu tiên trong từng thời kỳ.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải thường
xuyên đối mặt với các quy luật thị trường, những dấu hiệu của thị trường là
cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình. Tuy vậy, kế hoạch
hoá vẫn thực sự cần thiết. Nó giúp tập trung sự chú ý của các hoạt động
trong doanh nghiệp vào các mục tiêu. Thị trường rất linh hoạt và thường
xuyên biến động, kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp các doanh nghiệp
dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xẩy ra để quyết định nên làm
cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm trong một thời kỳ nhất định.
Nếu như không có kế hoạch và tổ chức quá trình hoạt động thông qua các
mục tiêu định lập trước thì rủi ro trong hoạt động sẽ tăng lên.
Công tác kế hoạch giúp ứng phó với các bất định và thay đổi của thị
trường. Do đó, ngoài việc soạn lập kế hoạch thì phải tiến hành các nội dung
khác của công tác kế hoạch hoá như triển khai thực hiện, kiểm tra, điều
chỉnh.
Công tác kế hoạch hoá tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh
nghiệp. Công tác kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp cực tiểu chi phí, chú trọng
vào các hoạt động hiệu quả. Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh mún,
không được phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế luồng
hoạt động bất thường bằng các luồng hoạt động đều đặn, thay thế các phán
xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc.
Công tác kế hoạch hoá tạo cơ sở cho việc nhìn nhận logic các nội dung
hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu
sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng. Từ đó, các nhà quản lý thực hiện
các phân công, điều độ, tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo đúng
trình tự, đảm bảo sản xuất không bị rối loạn và tiết kiệm.
2. Phân loại.
Có nhiều cách phân loại hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp. Phân
loại theo thời gian, hoặc theo góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ của kế
hoạch.
Đứng trên góc độ tính chất, cấp độ kế hoach chia làm hai bộ phận: kế
hoạch chiến lược và kế hoạch chiến thuật.
Kế hoạch chiến lược xuất hiện khi các hoạt động của các doanh nghiệp
trở nên phức tạp hơn, cạnh tranh gay gắt hơn, đa dạng hơn trong khi các tiến
bộ về khoa học kỹ thuật, công nghệ tăng tốc nhanh hơn khiến các doanh
nghiệp khó khăn trong lựa chọn các mục tiêu phát triển. Kế hoạch chiến
lược áp dụng trong các doanh nghiệp là các định hướng lớn cho phép doanh
nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và những
phương pháp cơ bản để đạt mục tiêu đó. Kế hoạch chiến lược có thể áp dụng
trong thời gian dài hoặc ngắn hạn. Nó là kế hoạch bao gồm toàn bộ mục tiêu
tổng thể của doanh nghiệp, liên quan trực tiếp đến tương lai của doanh
nghiệp. Lập kế hoạch chiến lược đòi hỏi chủ yếu sự tham gia của các nhà
lãnh đạo trong doanh nghiệp.
Kế hoạch chiến thuật là công cụ cho phép chuyển các đinh hướng chiến
lược thành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp
trong khuôn khổ các hoạt động của doanh nghiệp. Kế hoạch tác nghiệp thể
hiện ở các bộ phận kế hoạch riêng biệt như: kế hoạch sản xuất, kế hoạch
marketing, kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự. Kế hoạch tác nghiệp liên
quan đến tất cả các lĩnh vực và tất cả các bộ phận của doanh nghiệp. Nó huy
động tất cả các cán bộ phụ trách bộ phận.
3.Kế hoạch phát triển thị trường.
3.1. Quan niệm.
Kế hoạch phát triển thị trường là một bộ phận của kế hoạch tác
nghiệp.Kế hoạch phát triển thị trường là quá trình phân tích tình hình thị
trường, nhu cầu, mong muốn và những biến đổi trong thị hiếu, biến đổi của
thị trường. Từ đó, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào khả năng, lợi thế của mình và
đối thủ cạnh tranh để xác định các chỉ tiêu, mục tiêu tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp cho từng vùng, từng sản phẩm, khách hàng và đưa ra các giải
pháp thực hiện để thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét