LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "bước phát triển trong quan hệ eu -asean": http://123doc.vn/document/546847-buoc-phat-trien-trong-quan-he-eu-asean.htm
với các thành viên mới là 2015.
Nh vậy với mục tiêu ban đầu là giữ gìn ổn định và an ninh trong khu vực,
lúc đầu Hiệp hội đợc xem nh là khối mang màu sắc chính trị là chủ yếu , đến
nay sự hợp tác giữa các thành viên trong ASEAN ngày càng khăng khít và toàn
diện.
3. Lịch sử phát triển quan hệ hợp tác EU-ASEAN
3.1 Quan điểm và chiến lợc của cả hai phía khi xúc tiến quan hệ hợp
tác.
Sau đại chiến thế giới lần II, khu vực Đông Nam á càng ngày càng thu
hút đợc sự quan tâm của thế giới. Một bằng chứng cụ thể là ngời ta xuất bản
ngày càng nhiều sách báo, bài viết, ấn phẩm về khu vực này. Tuy vậy, mặc dù
quan hệ kinh tế nói chung giữa các nớc EU với các nớc ASEAN đã có từ lâu nh-
ng trong một thời gian tơng đối dài sau chiến tranh thế giới lần II, các nớc EU
rất ít chú ý đên ASEAn. Nói khác đi, sau chiến tranh thế giới lần II vị trí của
EU ở Đông Nam á bị suy giảm, quan hệ kinh tế cũng vì thế trở nên mờ nhạt
nhờng bớc cho sự lấn sâu của Mỹ và Nhật bản. Hiện nay sự tăng trởng kinh tế ở
Đông Nam á đã là điểm thu hút đối với EU. Năm 2000, một nửa tổng số tăng
trởng kinh tế thế giới thuộc về châu á ( gồm Đông và Đông Nam á) cho nên
EU phải quan tâm đặc biệt đến châu á trong đó có khu vực Đông Nam á.
ngày nay, khi chiến tranh lạnh kết thúc, EU thấy cần phải điều chỉnh lại
chính sách của mình đối với châu á theo hớng hợp tác chặt chẽ, bình đẳng và
hài hoà lợi ích của các bên trong khu vực này. ngày 14-7-1994, EU đã thông
qua một văn kiện quan trọng với tiêu đề Tiến tới một chiến lợc mới đối với
châu á. Văn kiện này dã đề ra những định hớng và chính sách mới của EU đối
với châu á đặc biệt là Đông Nam á không chỉ cho những năm còn lại của thế
kỷ XX mà còn cho cả những năm đầu của thế kỷ XXI. Đồng thời trên các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng, liên minh châu âu cũng giới thiệu đến ngời dân
5
nớc họ hình ảnh của một đông Nam á năng động và phát triển để ngời dân
châu âu tăng cờng hơn nữa việc tìm hiểu, nghiên cứu và xúc tiến đầu t tại Đông
Nam á.
Nhân tố thúc đẩy mạnh nhất trong quan hệ giữa EU và ASEAN là giao lu
buôn bán và trao đổi hàng hoá. các nớc ASEAN hiện nay đều mở cửa thị trờng,
lợi dụng chính sách thơng mại tự do của EU và biện pháp khuyến khích nhập
khẩu hàng hoá, nhất là hệ thống u đãi thuế quan chung để đa hàng vào thị trờng
EU, tăng tỉ trọng xuất khẩu của mình. Để tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt, năm
1980 ASEAN đã nâng cấp quan hệ ASEAN- EU thành quan hệ đối thoại đầy
đủ, sự kiện này đợc đánh dấu bằng thoả thuận hợp tác ASEAN-EC trong đó
nhẫn mạnh EC giúp đỡ ASEAN về tài chính cũng nh kỹ thuật nhằm thúc
đẩy,phát triển bạn hàng hữu nghị giữa các nớc và tổ chức của hai khu vực này.
Ngoài việc nâng cao khả năng thâm nhập hàng hoá của ASEAN vào thị trờng
EU, thông qua kênh đối thoại này các nớc ASEAN cũng đợc tiếp cận với nguồn
viện trợ phát triển cho các lĩnh vực khác nh khoa học- công nghệ, văn hoá- xã
hội và phát triển nguồn nhân lực. Về phía Liên minh châu âu, mở cửa thị trờng
ASEAN cũng có nghĩa là tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp EU. Rõ
ràng là các nhà xuất khẩu EU hiện nay đã cạnh tranh lành mạnh hơn với Mỹ.
Hiện tại buôn bán giữa các nớc trong khu vực Đông nam á rất sôi động và thị
trờng ở đây đòi hỏi nhiều vốn và hàng tiêu dùng nên các hãng châu âu nhất là
các hãng vừa và nhỏ đang có kế hoạch mở rộng, tăng cờng hoạt động của mình
ở khu vực này. Hiện nay các hãng của châu âu đã dành đợc những vị trí vững
chắc tại nhiều lĩnh vực ở châu á. Tuy EU đầu t vào ASEAN còn chậm nhng lại
thu đợc nhiều thành tựu.
Một đặc điểm cũng tác động không nhỏ tới quan hệ giữa hai khối là
ASEAN và EU có sự tiếp cận khác nhau về hợp tác giữa hai nhóm nớc. Đối với
ASEAN sự hợp tác này có thể cho phép sử dụng EU nh một đối trọng nhằm
ngăn cho ASEAN khỏi bị phụ thuộc vào Mỹ và Nhật Bản và ASEAN hi vọng
6
nhận đợc những đặc quyền mà EU đã dành cho sản phẩm của các nớc APC (các
nớc châu Phi, Caribê, Thái Bình Dơng). Với EU, ASEAN có thể phục vụ EU
nh là nguồn cung cấp t liệu thô, nguồn lao động rẻ và thị trờng tiêu thụ cho
hàng hoá EU. Cộng đồng châu âu cũng có ý định nghiêm túc trong việc theo
đuổi hợp tác với ASEAN, một khu vực mà EU có thể tìm thấy một thị trờng lớn
với sức mua đang tăng lên và nguồn tài nguyên phong phú.
qua đây ta có thể nhận thấy quan hệ EU- ASEAN là quan hệ hợp tác toàn
diện, mỗi bên đều có mục đích riêng khi tham gia hợp tác nhng tựu chung lại
các hoạt động đó đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sự ổn
định, hoà bình và an ninh trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới.
3.2 . Sự hình thành và phát triển quan hệ EU- ASEAN
Để cùng tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải tích cực đẩy mạnh
các mối quan hệ. Mở rộng quan hệ hợp tác không chỉ giúp cho các nớc, các tổ
chức và các khu vực hiểu biết lẫn nhau mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển, lấp
chỗ trống trong sự thiếu hụt về nguồn lực.
Bất chấp khoảng cách về vị trí địa lý, sự khác biệt về văn hoá xã hội, con
ngời cũng nh trình độ phát triển kinh tế, Liên minh châu âu ngày càng đẩy
nhanh quá trình hợp tác với các quốc gia ở Đông Nam á. Bằng chứng cụ thể là
cộng đồng kinh tế châu âu (EEC) là đối tác đầu tiên thiết lập quan hệ với
ASEAN vào năm 1972 thông qua Uỷ ban phối hợp đặc biệt của ASEAN
(Special Coordinating committee of ASEAN - SCCAN).
Trong lịch sử hơn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai tổ chức này đã
đạt đợc nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Quá trình phát triển mối quan hệ EU-
ASEAN đợc đánh dấu bằng nhiều sự kiện quan trọng nhng có thể tóm tắt trong
3 giai đoạn chính:
* Giai đoạn đầu (1967-1972)
Thời kỳ này quan hệ EU-ASEAN cha đợc thiết lập chính thức. Quan hệ
hai bên diễn ra chủ yếu dới hình thức quan hệ song phơng giữa các nớc thành
viên. Đây là thời kỳ EU chú trọng đến việc liên kết, ổn định nội bộ, kết nạp
7
thêm thành viên mới nhằm tăng uy tín của cộng đồng, đồng thời tăng cờng phát
triển kinh tế. Trong công tác đối ngoại, EU chú ý tới các nớc lớn nh Mỹ, Nhật
Bản và các nớc thuộc sân sau của EU là Trung Cận Đông, Châu Phi, trung
Mĩ, Caribê.
trong khi đó Đông Nam á lại là điểm nóng trong thời kỳ chiến tranh
lạnh, hầu hết các nớc ASEAN mới bớc vào giai đoạn đầu công nghiệp hoá cho
nên ASEAN cha thu hút đợc sự chú ý của EU. Hoạt động của ASEAN chủ yếu
tập trung vào giải quyết những bất đồng hay xung đột giữa các nớc trong cộng
đồng nhằm tìm kiếm lập trờng chung về chính trị và khả năng hợp tác trong
khối. Do vậy ASEAN cũng cha có chính sách cụ thể đối với EU - một thị trờng
còn xa lạ với ASEAN.
* Giai đoạn thứ hai(1972-1980)
đây là giai đoạn quan hệ EU- ASEAN đợc thiết lập chính thức. mở đầu
của mối quan hệ này là ASEAN thành lập một Uỷ ban phối hợp đặc biệt của các
thành viên ASEAN (SCCAN) gồm Bộ trởng thơng mại của 5 nớc nhằm mục
đích tiếp xúc với EU và điều tra khả năng thâm nhập thị trờng EU của ASEAN.
Việc ra đời của SCCAN đợc coi nh là sự thể chế hoá quan hệ đối thoại giữa
ASEAN - EU. Vào tháng 11-1972 tại Brussels đã diễn ra cuộc tiếp xúc đầu tiên
giữa hai nhóm nớc ở cấp đại sứ. Năm 1975 nhóm nghiên cứu hỗn hợp (Joint
Study Group- JSG) đợc thành lập gồm các uỷ viên của EU và viên chức chính
phủ của ASEAN để thúc đẩy quan hệ EU-ASEAN. Nh vậy từ cuối những năm
70, cả ASEAN lẫn EU đều nỗ lực tìm kiếm những khả năng tạo nên quan hệ
gần gũi hơn, các nớc ASEAN coi EU là địa điểm hấp dẫn đối với các hàng hoá
xuất khẩu của họ.
* Giai đoạn ba (từ năm 1980
hiện nay)
Giai đoạn này mở đầu bằng hiệp định hợp tác EU-ASEAN (3-1980), cả
EU và ASEAN đều thực sự tăng cờng quan hệ với nhau. Các cuộc gặp cấp Bộ
trởng diễn ra đều đặn 18 tháng một lần tại các thành phố của các nớc EU và
ASEAN.
8
3-1980 tại Kuala Lumpur (Malaysia) hai bên ký Hiệp định hợp tác EU-
ASEAN với mục tiêu phát triển quan hệ văn hoá xã hội cũng nh các quan hệ th-
ơng mại và kinh tế trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi, đồng thời đóng góp vào
việc mở rộng thơng mại quốc tế.
Sau hơn một thập kỷ quan hệ, cả EU và ASEAN đã định ra đợc thể chế
pháp lý ở nhiều cấp: Uỷ ban hợp tác chung, Uỷ ban Brussels của ASEAN, Hội
nghị bộ trởng ASEAN-EU, Hội nghị các quan chức cao cấp ASEAN-EU Điều
này đã đa đến kết quả là EU chính thức trở thành thành viên đối thoại của
ASEAN khi mà cả thế giới còn đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Quan hệ EU-ASEAN ngày càng đợc phát triển theo cả chiều rộng lẫn
chiều sâu. Trong các cuộc tiếp xúc, vấn đề thơng mại vẫn đợc đặt lên hàng đầu,
tuy nhiên hai bên cũng quan tâm đến những vấn đề thời sự nóng bỏng của thế
giới nh vấn đề hoà bình, giải trừ quân bị, kiểm soát vũ khí hạt nhân, vấn đề môi
trờng, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phát triển nguồn nhân lực Trong lĩnh vực
hợp tác phát triển, EU trợ giúp ASEAN về kỹ thuật tài chính cho các dự án của
ASEAN, u tiên phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, năng lợng. Bên
cạnh đó EU còn giành cho ASEAN nhiều u đãi nh các khoản viện trợ phát triển,
hởng một số đặc quyền của hệ thống u đãi chung (GSP). Còn đối với EU,
ASEAN là một khu vực đang phát triển, sẽ cung cấp cho EU thị trờng và
nguyên liệu, là nơi tiêu thụ hàng hoá của EU với số dân khá đông. Nhìn chung
trong quan hệ hợp tác giữa EU và ASEAN cả trong quá khứ lẫn hiện tại, phía
ASEAN đợc hởng lợi nhiều hơn nhng EU cũng tìm kiếm đợc nhiều lợi ích khi
hợp tác với ASEAN.
4. Hoạt động hợp tác phát triển giữa EU và ASEAN
4.1. Quan hệ hợp tác toàn diện EU-ASEAN
Kể từ khi thiết lập quan hệ chính thức, hai tổ chức EU và ASEAN đã
cùng nhau hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Hội nghị Bộ trởng ASEAN-EU (AEMM)
- cấp đối thoại cao nhất - lần thứ 13 diễn ra tại Vientiane (Lào) đã đặt nền móng
cho định hớng hợp tác toàn diện trong những năm tới của thế kỷ XXI bởi hợp
tác toàn diện là con đờng duy nhất đạt đến sự phát triển đồng đều. Trong điều
9
kiện các mối quan hệ trên thế giới có sự liên hệ chặt chẽ, một sự kiện diễn ra ở
nơi này cũng có thể ảnh hởng đến nơi khác. Chính vì thế quan điểm hợp tác
toàn diện của EU-ASEAN sẽ là cơ sở cho các mối quan hệ giữa hai tổ chức.
Vậy các khía cạnh của "Hợp tác toàn diện" đợc thể hiện trong những
điểm gì?
4.1.1. Về vấn đề chính trị và an ninh
EU và ASEAN có vai trò quan trọng và ổn định trong phạm vi từng khu
vực và trên thế giới. Về phía EU, Liên minh Châu Âu đã thông báo với ASEAN
những bớc tiến quan trọng do Hội đồng Châu Âu thực thiện tại Nice, trong đó
có chính sách an ninh và quốc phòng châu Âu, sự mở rộng Liên minh châu Âu.
Đồng thời, ASEAN đã thông báo diễn biến tại khu vực Đông Nam á, việc thực
thi các hiệp ớc và các kế hoạch hành động nh: kế hoạch hành động Hà Nội
(HAP), Hiệp ớc thân thiện và hợp tác (TAC), Hiệp ớc khu vực phi vũ khí hạt
nhân tại Đông Nam á (ASEANNFZ)
Quan điểm của hai bên về vấn đề chính trị và an ninh bao gồm các điểm:
- Tăng cờng hợp tác an ninh khu vực thông qua ARF. Đây đợc xem là
một diễn đàn quan trọng đối thoại vấn đề hoà bình và an ninh tại khu vực châu
á - Thái Bình Dơng. Nhấn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp xây dựng
lòng tin (CBM
S
) đã đợc thực hiện nhằm tăng cờng tiến trình ARF và khuyến
khích nỗ lực hơn nữa để tăng cờng CBM
S
cũng nh hoàn thành khái niệm và
nguyên tắc ngoại giao phòng ngừa. EU cũng bày tỏ thiện chí sẵn sàng trao đổi
kinh nghiệm trong các lĩnh vực này với ASEAN.
- Thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngời, quyền tự do chính đáng.
- EU quan tâm và hy vọng tiếp tục có những diễn biến tích cực trong quá
trình hoà giải dân tộc ở Myanmar.
- ủng hộ mạnh mẽ một Indonesia thống nhất, dân chủ và thịnh vợng, EU
cũng cùng với các nớc nỗ lực trong việc giải quyết xung đột nội bộ thông qua
đối thoại và hoà giải.
10
- Hoan nghênh đối thoại trực tiếp Liên Triều đạt đợc những bớc tiến tích
cực. Hoan nghênh những bớc tiến trong việc thực hiện Tuyên bố Bắc - Nam bao
gồm vấn đề nhân đạo, hợp tác kinh tế, đối thoại về quân sự và CBM
S
. Mong đợi
có những tiến triển trong vấn đề này.
- Tình hình Balkans, chính biến tại Croatia và Nam T dọn đờng cho quá
trình hoà giải và hợp tác giữa các nớc trong khu vực và tạo cơ hội lịch sử cho
khu vực này hoà nhập với xu thế ở Châu Âu, kêu gọi tất cả các bên liên quan từ
bỏ bạo lực và chủ nghĩa cực đoan, tiếp tục ủng hộ những nỗ lực hoà bình và ổn
định.
- Cả hai tổ chức cũng đặc biệt quan tâm về tình hình Trung Đông thể hiện
sự quan tâm sâu sắc về tình hình bạo lực gần đây và kêu gọi tất cả các bên liên
quan trở lại quá trình đàm phán.
Nh vậy quan điểm của cả hai phía EU và ASEAN là rất rõ ràng, hai bên
luôn xúc tiến các chơng trình đối thoại nhằm tăng cờng hiểu biết lẫn nhau đồng
thời bày tỏ thái độ quan tâm đến các vấn đề nóng hổi đang diễn ra ở khắp nơi
trên thế giới. Liên minh Châu Âu và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á mong
muốn cùng hau hợp tác phát triển trong bối cảnh tình hình thế giới hoà bình và
ổn định.
11
4.1.2. Về các vấn đề kinh tế
Vấn đề "kinh tế" luôn đợc coi là vấn đề quan trọng nhất khi đánh giá sự
phát triển của mỗi quốc gia bởi kinh tế phát triển là nền tảng thúc đẩy các lĩnh
vực khác. Hiện nay, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ
chức, giữa các khu vực cũng đặt "kinh tế" lên hàng đầu. Trên cơ sở đó EU và
ASEAN đã và đang thúc đẩy nhiều chơng trình phát triển kinh tế. Năm 1999,
với sự kiện phát hành thành công đồng tiền chung Châu Âu Euro cũng nh sự
phục hồi kinh tế tại khu vực ASEAN sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997
là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ tiềm năng kinh tế giữa hai khu vực là vô cùng
lớn. Cả hai bên cũng đã nhất trí về tầm quan trọng của việc tiếp tục cải cách
kinh tế và tài chính phạm vi quốc gia và hợp tác toàn cầu trong việc cải cách cơ
cấu tài chính quốc tế vì sự phát triển kinh tế bền vững của các nhóm nớc trong 2
khu vực và nhất trí cho rằng đây là lý do để tăng cờng hợp tác trong tất cả các
lĩnh vực:
- Tiến triển của ASEAN trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực.
Ghi nhận việc ASEAN tiếp tục tăng cờng cam kết trong việc đẩy nhanh hội
nhập kinh tế khu vực thông qua tự do thơng mại hàng hoá, dịch vụ, đầu t, hợp
tác nông nghiệp và thông tin viễn thông, hoan nghênh cố gắng chung của các
thành viên mới của ASEAN bao gồm dự án phát triển lu vực sông Mê Kông và
sáng kiến vì hội nhập ASEAN.
- Nhấn mạnh vai trò quan trọng của tổ chức Thơng mại thế giới (World
Trade Organization - WTO) trong việc thúc đẩy tăng trởng, phát triển và thịnh
vợng kinh tế toàn cầu. ủng hộ việc phát động sớm vòng đàm phán mới về thơng
mại của WTO và nhất trí sự cần thiết một chơng trình nghị sự mở rộng và cân
bằng phản ánh lợi ích của tất cả các thành viên WTO, cụ thể là các nớc đang
phát triển. Cả hai khối đều nhất trí về tầm quan trọng của việc đẩy nhanh tiến
trình gia nhập WTO của Việt Nam, Lào, Campuchia.
- Thể hiện sự ủng hộ việc tiếp tục hợp tác cắt giảm hàng rào phi thuế quan
để tạo thuận lợi trao đổi thơng mại giữa hai khu vực.
12
4.1.3. Về tơng lai quan hệ hợp tác EU-ASEAN:
Quan hệ EU-ASEAN đợc xem là nền tảng trong hợp tác và đối thoại của
EU đối với châu á. Trên cơ sở châu á và châu Âu sẽ tiếp tục đối thoại chính trị
trên tinh thần cởi mở và quan hệ đối tác, tăng cờng và phát triển sâu hợp tác
hiện nay vì lợi ích của nhau và của nhân dân hai khu vực. Quan hệ hợp tác song
phơng cũng cần đợc tăng cờng. ASEAN và EU đã cùng nhau chia sẻ sự gắn bó
về lịch sử, kinh tế, khoa học và giáo dục thì nay sẽ tiếp tục xây dựng mối quan
hệ đối tác sâu rộng đó là quan hệ kinh tế và kinh doanh, hợp tác phát triển, đối
thoại chính trị và an ninh cũng nh giao lu giữa ngời với ngời. Hai bên nhất trí
cần tăng cờng và mở rộng đối thoại trong tơng lai:
- EU nhắc lại cam kết tăng cờng nỗ lực chung đối với việc xoá đói, u tiên
đặt biệt các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực (HRD), bảo vệ sức khoẻ và môi
trờng, khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ, phát
triển đô thị và nông thôn, kiểm soát ma tuý, năng lợng, giáo dục và văn hoá.
- Tiến triển đối thoại và hợp tác kinh tế ASEAN-EU. Thừa nhận sự cần
thiết mở rộng phạm vi đối thoại hiện nay để giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh
tế trong chơng trình công tác đợc thông qua tại Uỷ ban hợp tác chung EC-
ASEAN tại Bangkok tháng 5-1999, đặc biệt là vấn đề sở hữu trí tuệ (Intellectual
Property Rights- IPR), tiêu chuẩn, chất lợng và đánh giá hợp chuẩn thông qua
phơng thức tiếp cận thực tiễn. Nhất trí thờng xuyên tổ chức Hội nghị Điều phối
không chính thức ASEAN-EC để bảo đảm thực hiện nhanh và hiệu quả chơng
trình công tác nêu trên.
- Thể hiện hy vọng thông qua đối thoại đa phơng và song phơng về tiếp
cận thị trờng và tự do hoá quan hệ kinh tế và đầu t EU-ASEAN sẽ phát triển.
Để triển khai các đề xuất và chỉ thị của Hội nghị nêu trên, Hội nghị JCC
lần thứ 14 đã đợc tổ chức tại Brussels vào tháng 9/2002 nhấn mạnh phơng thức
tiếp cận mới cho hợp tác EU-ASEAN, đối thoại chính sách trong các lĩnh vực
cùng quan tâm và các lĩnh vực mà EU có khả năng hỗ trợ phát triển cho
ASEAN.
4.1.4. Hoạt động hỗ trợ phát triển
13
Hỗ trợ kỹ thuật là một trong 3 lĩnh vực đợc u tiên nhấn mạnh cùng với
hợp tác kinh tế và thơng mại trong Hiệp định hợp tác ASEAN - EC đợc ký kết
năm 1980 mục tiêu của Hiệp định là tăng cờng sự tự tin và thúc đẩy hợp tác
phát triển rộng mở hơn. ASEAN đã nhận đợc nhiều hỗ trợ kỹ thuật và tài chính
cần thiết để thực hiện các hoạt động, dự án và chơng trình khác nhau mà hai
bên đã nhất trí. Hỗ trợ kỹ thuật của EU trong những năm qua bao gồm: các dự
án nghiên cứu, học bổng đào tạo, khảo sát, nghiên cứu, hội thảo, toạ đàm, đào
tạo nghề và đào tạo xúc tiến thơng mại và đầu t. Hỗ trợ các lĩnh vực từ thơng
mại, công nghiệp, tài chính, ngân hàng, khai khoáng và năng lợng, nông lâm
nghiệp, vận tải và thông tin liên lạc đến phát triển xã hội và kiểm soát ma tuý.
Cụ thể, EU đã hỗ trợ ASEAN trong việc thiết lập Viện đào tạo và nghiên cứu
Hải quan ASEAN (ACITAR), Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu quản lý năng
lợng EC-ASEAN (AEEMTRC) Ngoài ra, trong chơng trình hợp tác phát triển
còn bao gồm Chơng trình đối tác đầu t EC (ECIP), chơng trình thờng niên cho
các nhà lãnh đạo kinh doanh ASEAN và xây dựng mô hình Viễn cảnh kinh tế vĩ
mô ASEAN. EU đã áp dụng phơng thức tiếp cận linh hoạt và thực tiễn để triển
khai Hiệp đinh hợp tác phát triển. Các hoạt động hợp tác phát triển sẽ đợc điều
chỉnh theo từng giai đoạn cho phù hợp với nhịp độ tăng trởng và phát triển của
khu vực ASEAN. Trong các hoạt động đối thoại, ASEAN chủ yếu quan tâm đến
các lĩnh vực nh nông nghiệp, công nghiệp, vận tải và thông tin liên lạc, tiếp cận
thị trờng, hệ thống u đãi thuế quan phổ cập chung, giá hàng hoá xuất - nhập
khẩu, ổn định doanh số xuất khẩu, chuyển giao nguồn lực thông qua hình thức
viện trợ chính thức (ODA) và đầu t nớc ngoài. Từ sau hội nghị Bộ trởng
ASEAN-EU lần thứ 11 tại Karlsruhe (Đức) vào tháng 9-1994, những u tiên
trong lĩnh vực hợp tác phát triển đã chuyển sang lĩnh vực xoá đói HRD, chăm
sóc y tế, kế hoạch hoá gia đình, vai trò phụ nữ, tôn trọng quyền phụ nữ, môi tr-
ờng và phát triển bền vững. Tại AEMM lần thứ 12 tại Singapore vào tháng 2-
1997, một số lĩnh vực đợc quan tâm nh: quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và hợp
chuẩn, hài hoà thủ tục hải quan. Vai trò của khu vực t nhân đợc thừa nhận rộng
rãi trong đối thoại EU-ASEAN nh là mục tiêu hàng đầu tăng cờng quan hệ kinh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét