LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với việc phân tích tình hình tài chính tại công ty thiết bị và chuyển giao công nghệ": http://123doc.vn/document/1053189-hoan-thien-he-thong-bao-cao-tai-chinh-voi-viec-phan-tich-tinh-hinh-tai-chinh-tai-cong-ty-thiet-bi-va-chuyen-giao-cong-nghe.htm
Nguyên tắc nhất quán
Việc trình bày và phân loại trong BCTC phải nhất quán từ niên độ này
sang niên độ khác. Nguyên tắc này đảm bảo những người sử dụng BCTC hiểu
được những sự thay đổi về tình hình tài chính. Tuy nhiên khi có sự thay đổi
đáng kể hoạt động của mình, doanh nghiệp có thể xem xét lại việc trình bày
BCTC nhưng phải công bố đầy đủ ảnh hưởng của sự thay đổi đó về giá trị trong
các BCTC.
Nguyên tắc cơ sơ dồn tích
Đòi hỏi doanh nghiệp phải lập BCTC theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại
trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền. Theo cơ sở kế toán dồn tích, các
giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào
thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của
kỳ kế toán liên quan. Các khoản chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Tuy nhiên,
việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên Bảng cân đối kế
toán những khoản mục không thỏa mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả.
Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp
Việc lập BCTC chỉ chú trọng đến những vấn đề mang tính trọng yếu,
quyết định bản chất và nội dung của sự vật; không quan tâm đến các yếu tố có ít
tác dụng trong BCTC. Một thông tin được coi là trọng yếu tức là nếu không
trình bày hoặc trình bày thiếu tính chính xác có thể làm sai lệch đáng kể BCTC,
làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin. Các khoản
mục không mang tính trọng yếu được tập hợp với các khoản đầu mục khác có
cùng tính chất hoặc chức năng trong BCTC hoặc trình bày trong phần thuyết
minh BCTC.
Nguyên tắc bù trừ
Các khoản mục tài sản nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính không
được bù trừ; trừ khi có một chuẩn mực quốc tế khác quy định hoặc cho phép bù
Trần Thị Thu Hiền 5 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
trừ, hoặc các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và
các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu.
Nguyên tắc có thể so sánh
Các thông tin trên báo cáo tài chính nhằm để so sánh giữa các kỳ kế toán
phải được trình bày tương ứng với thông tin bằng số liệu trên báo cáo tài chính
của kỳ trước. Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn giải
bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được
báo cáo tài chính của kỳ hiện tại.
Yêu cầu lập và trình bày BCTC phải tuân thủ:
Trung thực và hợp lý:
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và
trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy
định có liên quan hiện hành. Bởi vậy, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng
các chính sách kế toán nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh
được và dễ hiểu. Trường hợp chưa có quy định ở Chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán hiện hành thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây
dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo BCTC cung cấp được các
thông tin thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
thông tin phải đáng tin cậy, phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình
hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; phản ánh đúng bản chất kinh tế
của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp
của chúng; thông tin phải trình bày khách quan, không thiên vị và tuân thủ
nguyên tắc thận trọng, đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán
Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp
kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày
BCTC. Trong trường hợp không có chuẩn mực kế toán hướng dẫn riêng, khi xây
dựng các phương pháp kế toán cụ thể, doanh nghiệp cần xem xét đến những yêu
cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán đề cập đến những vấn đề tương tự
Trần Thị Thu Hiền 6 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
và có liên quan; những khái niệm, tiêu chuẩn, điều kiện xác định và ghi nhận đối
với các tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí được quy định trong chuẩn mực
chung…
1.4. Mục đích và vai trò của Hệ thống BCTC
Mục đính của BCTC là trình bày trung thực về tình hình tài chính, kết quả
hoạt động tài chính và các luồng lưu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu của người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế. Thông qua
BCTC người sử dụng thông tin có thể đánh giá được sức mạnh tài chính, khả
năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp. Do đó BCTC là mối quan tâm của
rất nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà
đầu tư, cổ đông, chủ nợ, khách hàng, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, bảo hiểm,
các cơ quan Chính phủ, người lao động…
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan
tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận, ngoài ra còn có những mục đích khác như tạo
công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm,
hàng hóa và dịch vụ với chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi
trường…Như vậy, các nhà quản trị cần có đủ thông tin hiểu rõ tình hình tài
chính và để ra các quyết định đúng đắn và các biện pháp xác thực nhằm tăng
cường hiệu quả quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng, mối quan tâm của họ là khả
năng trả nợ của doanh nghiệp, BCTC giúp họ có được thông tin về số lượng tiền
và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó tính toán được các chỉ
tiêu khả năng thanh toán của doanh nghiệp như hệ số thanh toán nhanh, hệ số
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn…Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho
vay tín dụng còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp vì đó sẽ là
khoản bảo hiểm cho họ khi doanh nghiệp gặp rủi ro.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như
sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn,… Vì vậy,
Trần Thị Thu Hiền 7 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh
doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời, các nhà đầu
tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác
quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà
đầu tư.
Các nhà cung cấp thông qua BCTC biết được tình hình và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp để ra quyết định cung cấp và hình thức thanh toán (có
nên chấp nhận mua chịu hoặc thanh toán chậm hay không).
Các cơ quan chức năng, các cơ quan quản lý của Nhà Nước thông qua
BCTC để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có đúng chế độ, có
đúng luật pháp không, để xác định số thuế phải nộp của doanh nghiệp hay để ra
các quyết định trong đường lối, chính sách, chế độ cho phù hợp…
2. Hệ thống BCTC ở Việt Nam
2.1. Lịch sử và hệ thống văn bản pháp quy về BCTC ở Việt Nam
Dựa vào lịch sử chế độ kế toán Việt Nam bắt đầu từ sau Cách mạng tháng 8
năm 1945, quá trình phát triển của hệ thống BCTC có thể chia thành 4 thời kỳ:
Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1975: Hệ thống BCTC được xây dựng và
ban hành mang tính cứng nhắc, chủ yếu phục vụ cho việc quản lý của các cơ
quan nhà nước, ít chú trọng đến việc phục vụ cho quản lý của bản thân doanh
nghiệp. Chính vì vậy, hệ thống BCTC được ban hành và áp dụng thống nhất
theo từng loại hình xí nghiệp (công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, xây
dựng cơ bản). Điểm đánh dấu sự ra đời và phát triển của hệ thống kế toán doanh
nghiệp trong giai đoạn này là Chế độ báo cáo kế toán áp dụng cho các xí nghiệp
ban hành theo Quyết định 223 – CP ngày 1/12/70. Hệ thống báo cáo kế toán
theo quyết định này gồm 13 báo biểu chia làm 4 loại, phản ánh vốn và nguồn
vốn kinh doanh của xí nghiệp; phản ánh chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm;
phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm và lãi lỗ; phản ánh các quỹ xí nghiệp, tiền
mặt và thanh toán.
Trần Thị Thu Hiền 8 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
Giai đoạn từ năm 1975 đến 1986: Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta
vô cùng khó khăn, nền nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, các nguồn
viện trợ bị cắt giảm, chiến tranh biên giới đang diễn ra; hệ thống kế toán liên tục
được sửa đổi, bổ sung hay ban hành cho phù hợp với điều kiện mới. Từ đó ra
đời Chế độ báo cáo thống kê – kế toán định kỳ do Tổng cục trưởng Tổng cục
thống kê ban hành theo Quyết định số 13 – TCKT/PPCĐ ngày 13/1/1986. Hệ
thống báo cáo thống kê – kế toán định kỳ này gồm 21 báo biểu trong đó đối với
lĩnh vực kế toán có 9 biểu được đánh số hiệu từ 12/CN đến 20/CN.
Giai đoạn từ năm 1987 đến 1996: Cùng với việc ban hành Chế độ tài khoản
kế toán thống nhất (tháng 12/1989), Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Chế độ
báo cáo kế toán định kỳ áp dụng cho các doanh nghiệp quốc doanh theo Quyết
định số 224 – TC/CĐKT ngày 18/4/1990 và Chế độ kế toán định kỳ áp dụng cho
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo Quyết định số 598 – TC/CĐKT ngày
8/12/1990. Các doanh nghiệp quốc doanh có 4 báo cáo định kỳ đó là: Bảng tổng
kết tài sản, Báo cáo kết quả kinh doanh, Chi phí sản xuất theo yếu tố và Bản giải
trình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh lập và nộp 3 báo cáo định kỳ là Bảng tổng kết tài sản, Kết quả kinh doanh
và Báo cáo tồn kho vật liệu, sản phẩm, hàng hóa.
Sau một thời gian vận dụng vào thực tế, hệ thống BCKT ban hành theo
Quyết định số 224 TC/QĐ/CĐKT ngày 18/4/1990 của Bộ Tài chính đã bộc lộ
khá nhiều khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu hội nhập của nền
kinh tế. Đứng trước thực trạng đó, Bộ Tài chính tiến hành nghiên cứu xây dựng
và ban hành hệ thống kế toán doanh nghiệp cải cách theo cơ chế thị trường
(trong đó có hệ thống báo cáo tài chính) theo Quyết định số 1206 QĐ/CĐKT
ngày 14/12/1994 và thực hiện thí điểm ở một số đơn vị rồi tổng kết và ban hành
chính thức theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, áp dụng
cho các doanh nghiệp (trong đó có chế độ báo cáo tài chính). Theo quyết định
này, hệ thống BCTC doanh nghiệp gồm 4 biểu mẫu là “Bảng cân đối kế toán”,
Trần Thị Thu Hiền 9 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
“Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”, “ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” và
“Thuyết minh báo cáo tài chính”.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn
( trừ công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên được chuyển từ doanh nghiệp
nhà nước), công ty cổ phần (trừ công ty chứng khoán cổ phần và công ty cổ
phần niêm yết trên thị trường chứng khoán), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân và hợp tác xã (trừ hợp tác xã nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng nhân dân)
áp dụng hệ thống báo cáo tài chính ban hành theo quyết định số 1177
TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 của Bộ Tài chính.
Giai đoạn 1997 đến nay: Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế và xu hướng toàn cầu hóa, để đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp,
ngày 25/10/2000 chế độ báo cáo tài chính được ban hành theo Quyết định
167/2000/QĐ/BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính áp dụng thống nhất cho mọi loại
hình doanh nghiệp. Về cơ bản, số lượng báo cáo tài chính và nội dung các báo
cáo chủ yếu vẫn dựa trên hệ thống báo cáo ban hành theo quyết định
1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 nhưng số lượng và nội dung các chỉ tiêu
cùng với trật tự sắp xếp và thời gian lập đã có những thay đổi căn bản. Tuy hệ
thống BCTC này là một bước đột phá, được xây dựng trên cơ sở và các nguyên
tắc của chuẩn mực quốc tế, phù hợp với tiến trình hội nhập, khắc phục được
phần lớn nhược điểm của các báo cáo trước nhưng hệ thống báo cáo này còn quá
chi tiết và thuộc phạm vi của kế toán quản trị, mẫu biểu quá cồng kềnh và thực
sự là bài toán khó đối với trình độ kế toán Việt Nam, đặc biệt là kế toán trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước tình hình đó, ngày 21/12/2001, Bộ trưởng
Bộ Tài chính đã ký quyết định số 144/2001/QĐ – BTC nhằm thay thế, sửa đổi
Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT về Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ
được áp dụng Chế độ kế toán riêng. Theo quyết định này, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chỉ lập và gửi các báo cáo tài chính hàng năm như: Bảng cân đối kế toán,
Kết quả hoạt động kinh doanh, Thuyết minh báo cáo tài chính, Báo cáo lưu
Trần Thị Thu Hiền 10 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
chuyển tiền tệ. Ngoài ra các doanh nghiệp còn phải lập và gửi cơ quan thuế 2
phụ biểu là: Bảng cân đối tài khoản và Tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN.
Ngày 20/03/2006, do nhu cầu tập hợp và bổ sung hệ thống văn bản pháp
luật về chế độ kế toán và thực hành kế toán, Bộ Tài chính đã quyết định ban
hành QĐ số 15/2006/QĐ – BTC. Đối với “Báo cáo tài chính”, quyết định này
thay thế Quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính ban hành “Chế độ kế toán doanh nghiệp”; Quyết định số
167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
“Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp”. Theo QĐ 15/2006/QĐ – BTC, hệ
thống báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp
thuộc các ngành và các thành phần kinh tế. Riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ
vẫn tuân thủ các quy định chung tại quyết định và những qui định, hướng dẫn cụ
thể phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chế độ kế toán doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
Đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công
ty Nhà nước hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập báo cáo tài
chính tổng hợp theo quy định tại Thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện Chuẩn
mực kế toán số 25“Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công
ty con”.
Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ (Báo cáo tài chính quý) được áp
dụng cho các DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán và
các doanh nghiệp khác khi tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ.
2.1. Nội dung và kết cấu của các BCTC theo chế độ hiện hành
2.1.1. BCĐKT (mẫu số B01 – DN)
Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát
tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài
sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm). Nội dung của Bảng cân
đối kế toán thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và
Trần Thị Thu Hiền 11 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu được phân loại, sắp xếp thành từng loại,
mục và từng chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu được mã hóa để thuận tiện cho việc
kiểm tra, đối chiếu cũng như việc xử lý trên máy tính và được phản ánh theo số
đầu năm, số cuối kỳ.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khỏan kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối
kế toán được chia thành 2 phần (có thể kết cấu theo kiểu một bên hoặc hai bên)
là phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”.
Phần “Tài sản” phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp đến
cuối kỳ kế toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giai đoạn, các
khâu của quá trình kinh doanh. Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sản được
sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất.
Về mặt kinh tế: Số liệu các chỉ tiêu phản ánh bên “Tài sản” thể hiện giá trị tài
sản theo kết cấu hiện có tại doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo như tài sản
cố định, vật liệu, hàng hóa, tiền tệ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng …), các
khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu, các
giai đoạn trong quá trình sản xuất – kinh doanh ( thu mua, sản xuất, tiêu thụ…).
Căn cứ vào nguồn số liệu này, trên cơ sở tổng số tài sản và kết cấu tài sản hiện
có mà đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: Số liệu của các chỉ tiêu bên “Tài sản” phản ánh toàn bộ số tài
sản hiện có đang thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp.
Phần “Nguồn vốn” phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh
nghiệp đến cuối kỳ hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theo
từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp
– vốn chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng,…). Tỷ lệ và kết
cấu của từng nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt
động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Trần Thị Thu Hiền 12 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
Về mặt kinh tế: Số liệu phần “Nguồn vốn” của Bảng cân đối kế toán thể hiện
quy mô tài chính, nội dung tài chính và thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: Số liệu của các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý của
doanh nghiệp về số tài sản đang quản lý, sử dụng đối với Nhà nước (về số vốn
của Nhà nước), với cấp trên, với các nhà đầu tư, với cổ đông, với ngân hàng, với
các tổ chức tính dụng (về các khoản vốn vay),với khách hàng, với các đơn vị
kinh tế khác, với công nhân viên…
Bảng cân đối kế toán bao gồm các cột sau:
Cột 1 “Tài sản” hoặc “Nguồn vốn”: Phản ánh các chỉ tiêu thuộc tài sản
và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Cột 2 “Mã số”: Phản ánh mã số của các chỉ tiêu.
Cột 3 “Thuyết minh”: Phản ánh đường dẫn đến các chỉ tiêu cần giải
thích và bổ sung ở Bản thuyết minh BCTC, mục VI “Thông tin bổ sung cho các
khoản mục được trình bày trong Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh”
Cột 4 “Số cuối năm”: Phản ánh số liệu của các chỉ tiêu tương ứng tại
thời điểm cuối năm báo cáo. Với báo cáo quý, cột này phản ánh số liệu mỗi quý.
Cột 5 “ Số đầu năm”: Căn cứ vào số liệu ở cột “Số cuối năm” trên
Bảng cân đối kế toán ngày cuối cùng của năm báo cáo trước để ghi.
Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính (nội bảng), Bảng cân đối kế toán còn
phản ánh các chỉ tiêu ngoại bảng như: tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hóa giữ
hộ, nhận gia công; hàng hóa nhận bán hộ, ký gửi; nợ khó đòi đã xử lý,…Đây là
những chỉ tiêu phản ánh những tài sản tạm thời để ở doanh nghiệp nhưng không
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc một số chỉ tiêu kinh tế đã được phản
ánh ở các tài khoản trong bảng cân đối kế toán nhưng cần theo dõi để phục vụ
yêu cầu quản lý.
2.1.2. BCKQHĐKD (mẫu số B 02 – DN)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một BCTC phản ánh tóm lược các
khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho một thời
Trần Thị Thu Hiền 13 Kế toán 44A
Luận văn tốt nghiệp
kỳ nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh (hoạt động bán hàng và
cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và hoạt động khác.
Thông qua báo cáo này, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.Đồng thời biết được quy mô chi phí, doanh
thu, thu nhập và kết quả từ các hoạt động kinh doanh cũng như số lợi nhuận
thuần trước thuế và sau thuế thu nhập doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh bao gồm các cột sau:
Cột 1 “Chỉ tiêu”: phản ánh các chỉ tiêu của bảng
Cột 2 “Mã số”: phản ánh mã số của các chỉ tiêu trong bảng
Cột 3 “Thuyết minh”: phản ánh đường dẫn đến các chỉ tiêu cần giải
thích bổ sung ở Bản thuyết minh báo cáo tài chính, mục VI “Thông tin bổ sung
cho các khoản mục được trình bày trong Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh.
Cột 4 “Năm nay”: phản ánh trị số của các chỉ tiêu trong kỳ báo cáo.
Cột 5 “Năm trước”: phản ánh giá trị của các chỉ tiêu mà doanh nghiệp
đạt được trong năm trước. Số liệu để ghi vào cột này của báo cáo kỳ này được
căn cứ vào số liệu ghi ở cột 4 “Năm nay” của báo cáo này kỳ trước theo từng chỉ
tiêu tương ứng.
2.1.3. BCLCTT (mẫu số B 03 – DN)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình
thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
BCLCTT cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng
tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra trong hoạt động
sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”, tiền
bao gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn; còn
các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng kể
từ ngày mua khoản đầu tư đó) có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng
tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền (kỳ
Trần Thị Thu Hiền 14 Kế toán 44A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét