Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

thực trạng và giải pháp tăng cường kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn ở thái bình


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và giải pháp tăng cường kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn ở thái bình": http://123doc.vn/document/1055511-thuc-trang-va-giai-phap-tang-cuong-kiem-tra-kiem-soat-quy-trinh-lap-chap-hanh-va-quyet-toan-ngan-sach-xa-phuong-thi-tran-o-thai-binh.htm


chơng I
Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát
quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách
xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình
1. Đặc điểm chung của Thái Bình ảnh hởng tới công tác kiểm tra, kiểm soát
quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị trấn.
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng Sông Hồng với
diện tích đất tự nhiên là 1542,24 km
2
chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nớc.
Là một tỉnh đồng bằng có địa hình tơng đối bằng phẳng, có 3 mặt giáp sông
và một mặt giáp biển. Thái Bình đợc bao bọc bởi hệ thống sông biển khép kín.
Trớc đây khi cha xây dựng cầu Tân Đệ Thái Bình đợc coi nh một ốc đảo nhng
từ khi xây dựng cầu thì cơ hội giao thơng giữa Thái Bình với các tỉnh đợc mở
rộng vì Thái Bình nằm trong vùng ảnh hởng trực tiếp của tam giác tăng trởng
kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tuy nhiên nằm trong vùng nhiệt
đới gió mùa, đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng "bờ xôi ruộng
mật" do đợc bồi tụ bởi hệ thống Sông Hồng và sông Thái Bình nên ở Thái
Bình chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với lao động trong khu vực nông nghiệp
chiếm tới 74,3%. Dân số đông tập trung chủ yếu khu vực nông thôn, chiếm
94,2% dân số toàn tỉnh, bình quân nhân khẩu là 3,75 ngời/hộ, mật độ dân số
1.183 ngời/km
2
. Là một tỉnh thuần nông đất chật, ngời đông nên nguồn thu
ngân sách chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, thể hiện trong cơ cấu thu,
chi ngân sách hàng năm, thuế sử dụng đất nông nghiệp tỷ trọng lớn. Từ năm
1996 trở về trớc, nhìn chung Thái Bình luôn hoàn thành nhiệm vụ thu chi ngân
sách đợc giao và số thu năm sau thờng cao hơn năm trớc, đáp ứng đợc cơ bản
các nhiệm vụ kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh, bộ mặt nông thôn đợc đổi
mới thể hiện ở việc cứng hoá kênh mơng, các công trình xây dựng điện - đờng
- trờng - trạm đợc đầu t với phơng châm " Nhà nớc và nhân dân cùng làm" do
đó đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đợc cải thiện. Song năm 1997
đã xảy ra mất ổn định tình hình ở nông thôn trong tỉnh đã có tác động tiêu cực
đến tình hình phát triển kinh tế xã hội trong tỉnh nói chung và tình hình quản
lý thu, chi, điều hành ngân sách nói riêng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình trên là công tác quản
lý ngân sách xã những năm 96; 97 tuy đã đạt đợc những kết quả nhất định
song vẫn còn bộc lộ những yếu kém, cơ chế quản lý thiếu đồng bộ và chậm
đổi mới, cha đáp ứng yêu cầu phát triển và chuyển đổi cơ chế quản lý của nền
kinh tế xã hội, không ít xã đã tự đặt ra các chế độ thu, chi, 90% số thu chi
ngân sách xã cha đợc quản lý hạch toán qua kho bạc nhà nớc, sổ sách chứng
từ kế toán vừa thiếu, vừa không thống nhất, nhiều xã còn hạch toán ghi đơn.
Hầu hết các xã trong điều hành ngân sách đều không dựa vào khả năng nguồn
thu để quyết định nhiệm vụ chi, nhất là trong chi đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng,
tình trạng chi vợt khả năng thu là phổ biến dẫn đến công nợ nặng nề.
Từ năm 1997, thực hiện luật ngân sách nhà nớc, NĐ 87 CP của chính
phủ ngày 19/12/1996, thông số 14TC/NSNN ngày 28/03/1997 (đợc thay thế
bằng thông t số 118/2000/TT BTC ngày 22/12/2000) Thái Bình đã thực hiện
phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, phờng, thị trấn (gọi
chung là xã) theo luật ngân sách nhà nớc. Nhờ vậy từ năm 1998 đến nay, ngân
sách xã cơ bản đợc quản lý theo quy luật ngân sách nhà nớc và dần đi vào nề
nếp, tuyệt đại các khoản thu, chi ngân sách xã đợc quản lý qua kho bạc nhà n-
ớc và phản ánh vào ngân sách nhà nớc, bớc đầu làm chuyển biến nhận thức
trong công tác quản lý tài chính ngân sách xã ở địa phơng.
Việc quản lý ngân sách xã qua kho bạc nhà nớc nói riêng và theo luật
ngân sách nhà nớc nói chung ở cơ sở xã, phờng, thị trấn là một việc làm khó
do thờng phát sinh những vớng mắc nhất là trong điều kiện nông thôn Thái
Bình, đó là:
Nhận thức của một số cán bộ cơ sở về việc chấn chỉnh công tác quản lý
tài chính ngân sách xã theo luật ngân sách nhà nớc cha thật đầy đủ. Sự điều
hành và quản lý tài chính ngân sách xã theo luật ngân sách nhà nớc của bộ
máy chính quyền cơ sở còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện chế độ kế toán
thống kê ở một số cơ sở còn yếu kém Một số nguồn thu đợc phân cấp do ảnh
hởng của tình hình nông thôn mất ổ định nên không đảm bảo số thu theo dự
toán, do đó đã ảnh hởng đến cân đối thu, chi ngân sách xã, ít nhiều ảnh hởng
đến hoạt động thờng xuyên của chính quyền cấp xã, đến đời sống kinh tế xã
hội của nông thôn.
Với những đặc điểm nói trên đã ảnh hởng không nhỏ đến công tác kiểm
tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã, phờng, thị
trấn ở Thái Bình, đòi hỏi phải tăng cờng công tác kiểm tra, kiểm soát để góp
phần làm lành mạnh hoá công tác quản lý tài chính ngân sách xã ở địa phơng.
2. Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát quy trình lập, chấp hành và quyết
toán ngân sách xã, phờng, thị trấn ở Thái Bình.
2.1. Kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã, phờng, thị trấn
Thực hiện luật ngân sách nhà nớc với những nguồn thu và nhiệm vụ chi
đợc phân cấp trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại của Thái Bình, về cơ bản,
ngân sách xã đã đảm bảo cho chính quyền cấp xã thực hiện đợc những chức
năng của mình, nhng cũng mới chỉ dừng lại ở mức đảm bảo cho chính quyển
các xã duy trì đợc những hoạt động thờng xuyên tối thiểu, cần thiết giúp cho
chính quyền các xã tổ chức chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
xã hội ở địa phơng mình. Việc đầu t cho tơng lai - đầu t xây dựng mới, duy trì
hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đầu t nuôi dỡng phát triển nguồn thu,
đầu t cho việc nâng cao đời sống vật chất, cải thiện đời sống tinh thần của
nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chính của những
khó khăn đó là với kết quả số thu hiện tại của các xã mà theo nguồn thu đợc
phân cấp thì hầu hết các xã trong tỉnh không thể cân đối ngân sách đợc nếu
nh không có sự trợ giúp của ngân sách cấp trên. Nhất là trong điều kiện hiện
nay, ngân sách cấp xã ở Thái Bình lại xuất hiện thêm một số nhu cầu chi mới,
điều này đã ảnh hởng không nhỏ tới quá trình lập dự toán ngân sách xã.
Mặt khác, Luật ngân sách nhà nớc yêu cầu việc thu, chi ngân sách nhà
nớc phải đợc thực hiện trên cơ sở dự toán ngân sách đã đợc phê duyệt, chi
đúng mục đích và chính sách, chế độ. Chính vì vậy công tác lập dự toán ngân
sách ở xã và việc kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách có vai
trò hết sức quan trọng giúp cho việc điều hành ngân sách đợc thuận lợi.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng đó, hàng năm ngay từ cuối năm trớc
Uỷ ban nhân dân Tỉnh đã đánh giá khả năng thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội trong năm, xác định nhiệm vụ chính trị, các mục tiêu kinh tế xã hội cho
năm kế hoạch để hớng dẫn các huyện chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các xã lập dự
toán thu, chi ngân sách xã năm sau, trình hội đồng nhân dân xã quyết định.
Để việc lập, phân bổ dự toán thu chi ngân sách xã sát với thực tế, bám
sát các căn cứ, yêu cầu mà luật quy định đó là:
- Tính đầy đủ, chính xác các khoản thu theo quy định của nhà nớc
- Bố trí hợp lý các nhu cầu chi đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền cấp xã
- Dự toán phải lập theo mục lục ngân sách nhà nớc
Thì cần có sự chuyển biến về nhận thức của đội ngũ cán bộ xã, là những
ngời trực tiếp liên quan đến việc lập dự toán, quản lý và điều hành ngân sách
xã và việc kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã là biện pháp
quan trọng và có hiệu quả, là trách nhiệm của mọi cấp, ngành có liên quan.
Đó là các chủ thể kiểm soát sau:
- Uỷ ban nhân dân xã:
Sau khi nhận đợc hớng dẫn của Uỷ ban nhân dân huyện về việc lập dự
toán ngân sách xã, Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo cho ban Tài chính xã tiến hành
lập dự toán ngân sách trên cơ sở nguồn thu, nhiệm vụ chi đợc phân cấp cho
ngân sách cấp xã. Cụ thể:
+ Đối với các khoản thu xã hởng 100% bao gồm:
1. Thu từ hoa lợi công sản và quỹ đất công ích 5 %
2. Tiền đền bù thiệt hại đất nộ cho ngân sách cấp xã
3. Các khoản phí, lệ phí và thu từ hoạt động sự nghiệp có thu của xã
4. Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nớc ngoài trực
tiếp cho ngân sách cấp xã
5. Huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc cho
ngân sách cấp xã
6. Các khoản huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu t xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ (riêng ngân sách phờng
không có khoản thu này)
7. Thu kết d ngân sách cấp xã
8. Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
9. Thu phạt xử lý vi phạm hành chính, phạt tịch thu của cấp xã trong các
lĩnh vực theo quy định của pháp luật
10. Các khoản thu khác nộp vào ngân sách xã theo quy định của pháp luật
Đối với các khoản thu này, ngoài việc kiểm tra, kiểm soát, chỉ đạo Ban
tài chính xã tính đúng, tính đủ các khoản thu, Uỷ ban nhân dân xã còn phải có
các biện pháp nuôi dỡng, phát triển nguồn thu nhất là các nguồn thu từ hoa lợi
công sản và quỹ đất công ích 5% vì đây là nguồn thu chủ yếu, chiếm phần lớn
thu ngân sách xã nhằm tạo ra nguồn thu ổn định và tăng thu cho ngân sách xã
để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chi đợc phân cấp.
+ Đối với các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp
ngân sách, bao gồm:
1. Thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế
giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ
số kiến thiết, thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn
ngành) đối với hộ kinh doanh t nhân trên địa bàn huyện, thành phố
2. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
3. Thuế chuyển quyền sử dụng đất (ngân sách phờng không có khoản
thu này)
3. Thuế nhà đất (ngân sách phờng không có khoản thu này)
4. Lệ phí trớc bạ (ngân sách phờng không có khoản thu này)
5. Thu tiền sử dụng đất (ngân sách phờng không có khoản thu này)
6. Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh
Đối với các khoản thu này một mặt Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo, giám
sát Ban tài chính xã tính đầy đủ, chính xác các khoản thu và tỷ lệ phân chia
giữa các cấp ngân sách, đồng thời Uỷ ban nhân dân xã còn phải xây dựng biện
pháp huy động các khoản thu này sao cho có hiệu quả cao nhất nhằm đáp ứng
nhiệm vụ chi của ngân sách xã.
+ Đối với các khoản chi thờng xuyên bao gồm:
1. Chi cho hoạt động của cơ quan nhà nớc
2. Kinh phí hoạt động của các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam
3. Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội: Mặt trận tổ
quốc, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ
nữ, hội nông dân sau khi trừ đi các khoản thu (nếu có)
4. Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ và các đối tợng
khác theo chế độ quy định
5. Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội
6. Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, nhà trẻ, lớp
mẫu giáo, kể cả trợ cấp chi sinh hoạt phí giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ
7. Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thờng xuyên và mua sắm các khoản
trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế và các hoạt động y tế
cộng đồng do xã quản lý
8. Chi công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao
do xã quản lý
9. Chi duy tu, bảo dỡng, sửa chữa thờng xuyên cơ sở vật chất các công
trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng do xã, thị trấn quản lý nh: trờng
học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trụ sở cơ quan quản lý hành chính cấp
xã, nhà văn hoá, th viện, đài tởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu đờng giao
thông, công trình cấp và thoát nớc công cộng, hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè,
cây xanh Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế nh sự nghiệp
nông, ng nghiệp theo chế độ quy định. Riêng ngân sách phờng không phải
đảm nhiệm nhiệm vụ chi này
10. Các khoản chi thờng xuyên khác theo quy định của pháp luật
Đối với các khoản chi thờng xuyên Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra việc
lập dự toán phải đảm bảo đúng chế độ, chính sách, định mức theo quy định và
phải sắp xếp thứ tự u tiên các khoản chi theo nguyên tắc u tiên trả lơng và phụ
cấp cho cán bộ xã, các khoản chi thờng xuyên cân đối với nguồn thu đợc phân
cấp (không kể các nguồn thu để chi cho một số mục tiêu cụ thể nh: thu nhân
dân đóng góp, thu lao động công ích, thu kết d). Nếu thiếu đợc ngân sách cấp
trên cấp bổ sung.
+ Đối với chi đầu t phát triển (ngân sách phờng không có nhiệm vụ chi
này) bao gồm:
1. Đầu t xây dựng (bao gồm đầu t xây dựng mới và cải tạo, sửa chữa
lớn) các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi
vốn theo phân cấp của Tỉnh
2. Chi đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của
xã, thị trấn từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự
án theo quy định của pháp luật do Hội đồng nhân dân xã, thị trấn quyết định
đa vào ngân sách xã, thị trấn quản lý. Bao gồm: Trờng mầm non, trờng tiểu
học, trung tâm học tập cộng đồng, bổ túc văn hoá, trụ sở cơ quan quản lý hành
chính xã, thị trấn, nhà văn hoá và các công trình phục vụ công cộng khác do
xã, thị trấn quản lý. Riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi đầu t xây dựng,
cải tạo vỉa hè, đờng phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên
3. Các khoản chi đầu t phát triển khác theo quy định của pháp luật
Đối với các khoản chi này Uỷ ban nhân dân xã phải căn cứ vào sự phân
cấp của tỉnh, đợc cân đối chủ yếu từ nguồn thu nhân dân đóng góp, thu lao
động công ích, thu kết d sau khi đã cân đối đủ chi thờng xuyên.
Sau khi dự toán do Ban Tài chính xã lập xong phải trình Uỷ ban nhân
dân xã xem xét, kiểm tra, rà soát lại nguồn thu và nhiệm vụ chi đợc lập trong
dự toán có đúng với luật ngân sách nhà nớc, đúng theo sự phân cấp đồng thời
phải sát với thực tế của xã trớc khi gửi Uỷ ban nhân dân huyện, phòng Tài
chính kế hoạch huyện và trình Hội đồng nhân dân xã quyết định.
Tần suất kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã :
Quá trình kiểm tra, kiểm soát diễn ra trong suốt quá trình lập dự toán,
thể hiện ở việc Uỷ ban nhân dân xã thờng xuyên chỉ đạo Ban Tài chính xã rà
soát nguồn thu, nhiệm vụ chi đợc phân cấp để lập dự toán và thuyết minh dự
toán ngân sách xã. Nếu cần thiết, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có thể yêu cầu
Ban Tài chính xã sửa đổi bổ sung cho hợp lý. Ban Tài chính xã có trách nhiệm
điều chỉnh dự toán theo chỉ đạo của chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã để đảm bảo
dự toán ngân sách xã đợc lập sát với thực tế, đúng luật quy định, không bỏ sót
nguồn thu, cơ cấu chi hợp lý và cân đối đợc thu, chi ngân sách xã.
- Hội đồng nhân dân xã:
Theo luật ngân sách nhà nớc thì Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan
có thẩm quyền quyết định ngân sách cấp mình và giám sát thực hiện dự toán
đã đợc quyết định. Để thực hiện đợc nhiệm vụ này việc quyết định, kiểm tra,
kiểm soát quá trình lập dự toán phải đợc Hội đồng nhân dân xã đa ra bàn bạc,
thảo luận trong kỳ họp của Hội đồng nhân dân và dự toán chỉ đợc quyết định
khi dự toán đợc lập theo đúng quy định, sát với thực tế địa phơng, bảo đảm
nguồn thu, nhiệm vụ chi đợc phân cấp và đợc các đại biểu Hội đồng nhân dân
xã thông qua. Nếu nh Hội đồng nhân dân xã không chấp nhận phần nào đó
trong dự toán dự toán, Hội đồng nhân dân sẽ yêu cầu Ban tài chính xã sửa lại
theo đúng quy định và Hội đồng nhân dân xã xem xét, thảo luận và quyết định
trong kỳ họp gần nhất. Dự toán sau khi hoàn chỉnh trình Hội đồng nhân dân
xã thảo luận, quyết định sẽ gửi cho phòng Tài chính huyện để tổng hợp, gửi
Uỷ ban nhân dân huyện để báo cáo, gửi kho bạc Nhà nớc và đợc công khai
cho các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân biết.
Tần suất kiểm tra, kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách xã :
Quá trình kiểm tra, kiểm soát diễn ra khi Hội đồng nhân dân xem xét quyết
định dự toán ngân sách xã và quá trình này sẽ kết thúc khi dự toán ngân sách xã đ-
ợc Hội đồng nhân dân xã và phòng tài chính kế hoạch huyện thông qua.
- Phòng tài chính kế hoạch huyện:
Theo luật ngân sách nhà nớc việc quyết định dự toán ngân sách xã là do
Hội đồng nhân dân xã song trên thực tế những năm qua thực hiện luật ngân
sách nhà nớc, nếu việc quyết định dự toán ngân sách xã chỉ do Hội đồng nhân
dân xã tự quyết định thì việc điều hành, quản lý ngân sách xã sẽ gặp nhiều
khó khăn và không đạt đợc kết quả nh mong muốn. Chính vì thế mà cần phải
có sự kiểm tra, kiểm soát, thẩm định của phòng tài chính huyện trong quá
trình lập dự toán ngân sách xã. Cụ thể là thông qua việc thẩm định dự toán
thu, chi ngân sách xã và các quỹ tài chính khác của xã, cơ quan tài chính cấp
trên đã giúp chính quyền xã xây dựng dự toán đảm bảo thu đúng, thu đủ,
không bỏ sót nguồn thu, đồng thời định hớng cho các xã bố trí cơ cấu chi một
cách hợp lý, đảm bảo đúng định mức, đúng chế độ, tiết kiệm và từng bớc nâng
cao hiệu quả. Nếu dự toán ngân sách xã không đảm bảo yêu cầu phòng Tài
chính kế hoạch huyện sẽ yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã sửa lại theo quy định để
sau đó trình Uỷ ban nhân dân huyện giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách xã
chính thức cho Uỷ ban nhân dân xã.
Việc kiểm tra của phòng Tài chính thể hiện ở các nội dung trên trong
quá trình lập dự toán của các xã trong tỉnh, đã rà soát nguồn thu, nhiệm vụ
chi, đảm bảo tính định hớng trong xây dựng dự toán, đảm bảo đúng chính
sách, chế độ đồng thời giúp cho việc điều hành ngân sách không phải điều
chỉnh, bổ sung và tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, theo dõi trong việc thực hiện
dự toán ngân sách xã của cơ quan tài chính, kho bạc nhà nớc cấp huyện.
Nhờ vậy mà chất lợng dự toán ngân sách xã đã đợc nâng cao, cụ thể
hơn, chi tiết hơn và sát với thực tế cơ sở hơn. Điều này thể hiện trong việc lập
dự toán thu chi ngân sách xã phờng, thị trấn ở Thái Bình từ năm 2001 - 2003
nh sau:
Dự toán thu chi ngân sách xã, phờng, thị trấn
Năm 2001 - 2003
(Đơn vị tính: 1.000 đồng)
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Phần I: Thu ngân sách xã
100.910.000,
0
91.960.000,
0
124.680.797,0
I. Các khoản thu 100%
52.830.271,7 25.275.000,0 40.159.217,9
1. Thuế môn bài bậc 4-6
1.239.423,1 1.315.000,0 1.999.611,7
2. Phí và lệ phí
5.798.181,9 5.590.000,0 5.833.387,8
3. Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản
13.666.666,7 16.867.000,0 16.176.494,4
4.Thu hoạt động kinh tế và sự nghiệp
0 0 0
5. Đóng góp theo quy định
0 0 0
6. Đóng góp tự nguyện
0 0 0
7. Viện trợ trực tiếp từ nớc ngoài
0 0 0
8. Thu kết d ngân sách năm trớc
0 0 0
9. Thu khác
32.126.000,0 1.503.000,0 16.149.724,0
II. Các khoản thu phân chia theo tỷ
lệ %
6.406.393,3 6.825.000,0 3.709.166,3
1. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
3.248.571,5 3.615.000,0 361.067,7
2. Thuế nhà đất
3.017.821,8 3.100.000,0 2.999.510,8
3. Thuế chuyển quyền sử dụng đất
140.000,0 110.000,0 348.587,8
III. Thu bổ sung từ ngân sách cấp
trên.
41.673.335,0 59.860.000,0 80.812.412,8
1. Trợ cấp bổ sung thiếu chi thờng
xuyên
40.006.401,0 57.375.000,0 77.579.916,3
2. Bổ sung có mục tiêu từ ngân sách
cấp trên
1.666.934,0 2.485.000,0 3.232.496,5
Phần II: Chi ngân sách xã
I. Chi thờng xuyên
100.910.000,
0
91.960.000,
0
124.680.797,0
1. Chi sự nghiệp xã hội
12.395.714,3 12.370.058,0 16.964.145,78
Trong đó:
- Hu xã thôi việc và trợ cấp khác
11.002.000,0 10.810.996,0 15.423.927,0
- Già cô đơn, trẻ mồ côi, cứu tế
1.393.714,3 1.066.448,8 1.309.709,85
2. Sự nghiệp giáo dục
6.676.428,6 7.849.002.1 10.489.202,0
3. Sự nghiệp y tế
2.193.571,4 2.383.427,9 3.258.487,7
4. Sự nghiệp văn hoá thông tin
1.357.142,9 1.770.945,4 3.451.403,85
5. Sự nghiệp thể dục thể thao
273.571,4 292.123,6 451.815,62
6. Sự nghiệp kinh tế
5.132.857,1 7.648.173,2 16.917.141,73
- Sự nghiệp giao thông
604.257,1 2.093.621,2 2.729.878,70
- Sự nghiệp nông - lâm - thuỷ lợi - hải
sản
766.428,6 1.356.967,8 10.363.777,60
- Sự nghiệp thị chính
803.571,4 863.278,1 318.812,30
- Thơng mại dịch vụ và các sự nghiệp
khác
2.948.600,0 3.334.306,1 3.504.673,13
7. Chi quản lý nhà nớc, Đảng, đoàn
thể
45.914.285,7 47.090.357,3 60.313.612,0
- Đảng
5.162.857,1 5.514.781,5 41.719.291,4
- Quản lý nhà nớc
32.042.857,1 33.402.912,0 7.148.331,1
- Mặt trận tổ quốc
1.605.177,9 1.785.664,7 3.049.419,1
- Đoàn Thanh niên CSHCM
2.004.285,7 1.795.052,2 2.297.415,7
- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
1.743.571,4 1.586.313,3 2.102.828,8
- Hội Cựu chiến binh Việt Nam
1.752.857,1 1.537.191,8 2.003.684,4
- Hội nông dân Việt Nam
1.602.679,4 1.512.677,5 1.992.641,5
8. Chi dân quân tự vệ, trật tự an toàn
xã hội
3.475.000,0 3.822.707,9 5.291.576,5
9. Chi khác
23.492.143,0 8.913.423,3 7.543.138,9
III. Chi đầu t phát triển
52.547.000,0 54.403.251,4 68.653.328,923

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét