Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

sự thu hút khách tham quan tại ngôi nhà dao họ - bảo tàng dân tộc học việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "sự thu hút khách tham quan tại ngôi nhà dao họ - bảo tàng dân tộc học việt nam": http://123doc.vn/document/1055103-su-thu-hut-khach-tham-quan-tai-ngoi-nha-dao-ho-bao-tang-dan-toc-hoc-viet-nam.htm


Bảo tàng ngoài trời là một phần không thể thiếu được của BTDTHVN
một trong những thế mạnh của loại hình của Bảo tàng này là tạo cho công
chúng những không gian văn hoá tiệm cận với thực tế qua đó làm cho hiện vật
trưng bày có sức hấp dẫn hơn và công chúng cảm thụ sâu sắc hơn về nền văn
hoá mà họ đang được tận mắt xem và tìm hiểu…
Phần bảo tàng ngoài trời thực sự bắt đầu năm 1998 với công trình đầu
tiên là ngôi nhà mồ người Gia Lai, trưng bày ngoài trời có thể có những mục
đích khác nhau với mục đích du lịch người ta thường mô phỏng các kiến trúc
truyền thống. Với mục tiêu bảo tồn di sản văn hoá, các công trình trưng bày
được giữ nguyên mẫu Bảo tàng DTHVN đã chọn cách trưng bày này trong
phạm vi không gian khá chật hẹp (3,30 ha), khoảng 2ha được dành cho phần
trưng bày ngoài trời để phản ánh sự đa dạng văn hoá của 3 vùng môi trường
sinh thái khác nhau: vùng đồng bằng và ven biển; vùng núi thấp và cao
nguyên,vùng cao. Do hạn chế về không gian và diện tích, Bảo tàng chỉ có thể
lựa chọn và giới thiệu một chục công trình kiến trúc của những dân tộc khác
nhau ở Việt Nam. Đó là nhà sàn (Tày), nhà nửa sàn nửa trệt (Dao), nhà sàn
thấp (Chăm), nhà trệt (Việt H'Mông), nhà trình trường (Hà Nhì), nhà dài của
đại gia đình mẫu hệ (Êđê), nhà công cộng của làng nhà Rông (Bana), nhà mồ
(Giarai, Cơtu), các ngôi nhà làm bằng chất liệu khác nhau, như gỗ, tre, nứa,
hay đất nện. Mái được làm bằng vật liệu khác như lá cọ, cỏ gianh nhưng mỗi tộ
người lại có cách lợp riêng gắn với mỗi ngôi nhà có các hiện vật trưng bày,
thông tin về ngôi nhà và chủ nhân của nó cũng như về văn hoá mà nó đại diện,
tạo cho du khách sự hiểu biết về kiến thức văn hoá tiềm ẩn trong ngôi nhà và
qua từng hiện vật.
Bên cạnh những công trình kiến trúc kể trên bảo tàng đã từng bước bổ
sung một số công trình khác như: xưởng sản xuất (lò rèn - đúc của người
H'Mông, lò rèn của người Nùng, người Việt, xưởng gốm của người Việt, các
loại thuyền đại diện cho phương tiện giao thông vận chuyển. Công cụ sử dụng
sức nước (cối giã gạo), Bên cạnh đó quần thể thực vật và cây bóng mát được
phát triển ưu tiên giới thiệu những loại cây bản địa gắn liền với môi trường
5
xung quanh ngôi nhà của từng dân tộc, đặc biệt Bảo tàng đang cố gắng xây
dựng một vườn cây thuốc nam để truyền bá tri thức bản địa đối với việc sử
dụng nguồn dược liệu thực vật.
Ngoài ra còn có thuỷ đình được dựng từ năm 2002 nơi dành cho trên
một chục phường rối nước ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ đến biểu diễn.
Khu trưng bày ngoài trời ở BTDTHVN được triển khai dần từng bước trong 8
năm qua mỗi năm lại có thêm những công trình mới và những hoạt động mới,
khu trưng bày này trở thành một điểm hấp dẫn đặc biệt của bảo tàng DTHVN.
1.2. Vài nét khái quát về ngôi nhà người Dao họ tại khu trưng bày
ngoài trời - BTDTHVN
* Vài nét về người Dao
Tộc người Dao thuộc hệ ngôn ngữ Hmong – Dao, theo điều tra dân số
năm 1999 thì tộc người Dao ở Việt Nam có 620538 nnhân khẩu. Họ sống rải
rác ở 3 vùng khác nhau (vùng cao, vùng giữa, vùng núi thấp) nhưng tập trung
đông nhất ở vùng giữa: người Dao họ có mặt ở nhiều tỉnh miền núi (Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Yên
Bái, Lào Cai, Hoà Bình đến một số tỉnh trung du (Phú Thọ, Vĩnh Phúc và cả ở
miền biển (Quảng Ninh).
Ở Việt Nam tộc người Dao bao gồm nhiều nhóm (Dao đỏ, Dao tiền, Dao
quần chẹt, Dao quần trắng, Dao thanh y v.v…). Mỗi nhóm Dao có một số sắc
thái văn hoá riêng nhất định bên cạnh những nét văn hoá truyền thống chung
của cộng đồng Dao.
Người Dao quan niệm cứ 3 nhà trở lên, cư trú trên cùng
một khu vực nhất định thì có thể gọi là một bản, dân bản thường gồm
các dòng họ khác nhau, mỗi bản có một người đứng đầu, đó là ông trưởng bản
do dân bản bầu chọn.
Người Dao có 3 loại hình nhà ở khác nhau: nhà sàn ở vùng thấp, nhà nửa
sàn nửa đất ở vùng giữa, nhà trệt ở vùng cao.
* Kết cấu và vật liệu để làm nhà
6
Đây là ngôi nhà nửa sàn nửa đất của ông Bàn Văn Sấm ngươi Dao họ
(thuộc nhóm Dao quần trắng, ở thôn Khe Mụ, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai. Người Dao họ ở vùng này vốn là cư dân có tập quán du canh du
cư và thường dựng nhà trên đất dốc. Kiểu nhà nửa sàn nửa đất là hình ảnh về
cách xử lý để tạo mặt bằng cư trú trên địa hình dốc.
Nhà người Dao họ đơn giản về cấu trúc cũng như hình thức, khi làm nhà
chỉ cần cái rìu, con dao, ngày nay nếu làm nhà có mộng thì họ dùng thêm đục,
cưa, bào. Người Dao không có thợ làm nhà chuyên nghiệp mà mọi người trong
bản đều biết làm.
Nhà của người Dao họ thường 3 gian, nhiều thì 5 đến 7 gian có 2 hoặc 4
mái và luôn có 2 chái, theo quan niệm của họ nhà có số gian lẻ là của người
sống có số gian chẵn là dùng để nuôi gia súc, gia cầm.
Bộ sườn nhà kết cầu đơn giản, thường thì mỗi vì kèo chỉ có hai hoặc ba
cột nhưng là cột ngoãm: cột, quá giang và kèo được buộc chặt vào nhau bằng
dây rừng. Vách nhà dựng bằng phên nứa đan theo kiểu lóng mốt hoặc lóng đôi,
do đó các mảng sáng tối được tạo ra bởi bề mặt những thanh nứa. Mái nhà
thường được lợp bằng những ống tre, nứa bổ đôi cứ 1 thanh sấp thì 1 thanh
ngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương. Mái lợp thế có thể dùng được
từ 5 đến 6 năm và theo nếp cũ thì cú 2 lần thay mái (khoảng 10 đến 12 năm) họ
lại chuyển đi nơi khác ở. Việc này phù hợp với khoảng thời gian du canh du cư
của họ.
Tre nứa dùng để làm nhà, nhất là dùng để lợp mái được chọn rất kỹ, tất
cả phải là tre, nứa già, mọc trên núi cao, không bị cụt ngọn, không bị sâu, gõ
vào nghe tiếng kêu đanh, nhưng lại phải chặt vào những dịp đầu hoặc cuối
tháng của những tháng mùa khô, tre gỗ dùng để làm nhà khi vận chuyển phải
vác chứ không được kéo.
Tập quán khi chuyển nhà đi nơi khác người Dao họ thường mang theo 8
cây cột nhà - đó là những cây lõi gỗ thọ có độ bền cao không bị mối mọt, để
dùng làm cột cái và cột dầm sàn cho ngôi nhà mới; nhà người Dao họ thường
7
dựa vào sườn núi, cửa mở ra 2 đầu hối, cửa chính nhìn lên hướng dòng chảy
của suối hoặc khe, cửa phụ hướng về phía đường mòn vào rừng.
* Mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà
Bên trong nhà chia làm 2 phần rõ rệt. Phần sàn (chiếm 2/5 diện tích,
phần trệt (phần nền đất, chiếm 3/5 diện tích của ngôi nhà). Tại gian đầu tiên
của ngôi nhà có đặt chiếc khung cửi và đó cũng là nơi để gia đình tiếp đón
khách. Người Dao họ vẫn giữ được nghề dệt vải cổ truyền những khi không
dùng đến họ tháo khung cửi, và cất gọn vào góc nhà. Khu vực sàn ở gian đầu
nhà dành cho vợ chồng, chủ nhà cũng ở gian này họ thường để chiếc nôi của
em bé và để xa quay sợi cạnh đó họ thường cất chiếc chài sau khi dùng đánh
bắt cá trở về.
Người Dao họ coi trọng thờ cúng tổ tiên. Ma tổ trên được thờ riêng ở
từng gia đình tại nhà tộc trưởng, Bàn thờ đặt ở nền đất bao giờ cũng sát vách
của gian giữa đó là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà.
Bếp là nơi đun nấu và để sưởi hàng ngày, người ta dựng 3 hòn đá để kê
nồi xoong. Trên bếp là sàn (gác) bếp, dùng làm chỗ để lương thực thực phẩm
có tác dụng hong sấy và giữ khô vừa tránh sâu mọt. Trên sàn giáp với vách
thường để những chiếc hòm đựng quần áo, tư trang của từng thành viên trong
gia đình. Sàn còn là nơi để mời cơm khách quý trong dịp tổ chức lễ cũng chay
lễ cấp sắc… phần sàn cũng là chỗ nghỉ của nhiều thành phần trong gia đình.
Còn ở góc gian cuối nhà có chạn bát dùng để cất bát đũa thực phẩm, và
có những con dao treo cạnh tường dùng để đi rừng. Những chiếc giỏ, chiếc vợt
là dụng cụ để đánh bắt cá, cũng ở gần đó có một chiếc chõ đồ xôi được làm từ
một thân cây gỗ khoét rỗng. Dưới chân chạn thường để vài chiếc ống tre lấy
nước ngoài suối, dùng người ta buộc dây để cầm sách cho rễ.
Phần sàn ở cuối thường quây lại thành buồng, đây là buồng cô dâu. Vợ
chồng mới cưới chỉ ngủ trong này 3 tối đầu trên sau đó chuyển ra ngoài như
mọi thành viên khác trong gia đình, nếu nhà đông người thì vợ chồng mới ngủ
hẳn trong buồng. Buồng này cũng là nơi thay quần áo của mọi người trong gia
đình. Và cũng chính ở cạnh buồng này có đặt một chiếc cối làm bằng một khúc
8
gỗ khoét hình lòng thuyền chày cũng làm từ một đoàn gỗ dùng để giã những
cụm lúa cối để ở đây tiện cho việc dậy sớm của con dâu, con gái chuẩn bị bữa
sáng cho cả nhà, cũng ở đây còn có một số dụng cụ như cuốc, thuổng dùng để
nồi nấu rượu, rượu của người Dao họ nhẹ, 30 đến 35
0
, hương thơm và đậm,
rượu dùng cho nhu cầu hàng ngày đồng thời dùng cho các ghi lễ cúng theo
phong tục. Ngoài ra người Dao họ có tục lệ làm kho lúa ở cạnh nhà ho làm
theo kiểu nhà sàn có 1 cửa nhỏ đủ cho 1 người chui vào, sàn, vách mái kho đều
làm từ nứa cây đập dập đan vào nhau.
* Tín ngưỡng liên quan đến nhà ở
- Người Dao họ quan niệm ngôi nhà không chỉ là nơi trú ngụ của người
sống mà còn là nơi đi về của những linh hồn người chết hay các vị thần linh
như thần đất, thần núi, các vị thánh trong tín ngưỡng mang màu sắc đạo giáo
như tam thanh, tam nguyên vì thế khi dùng nhà mới thường có các nghi lễ cầu
xin thần linh, việc quan trọng đầu tiên là chọn đất và mời thầy cúng xem bói tại
chỗ. Thấy đốt 3 nén nhang cắm, 1 cây nứa xuống đất và cũng thổ công, ông
tam đại của gia chủ,nếu đêm đó trong bản không có ai sinh đẻ, trong rừng
không có tiếng hoẵng kêu hoặc không ai nhìn thấy con dúi đào đất thì mảnh đất
đó ở được. Thêm nữa, ông thầy làm nhẵn một chỗ, cắm vào đó một cây cọ nhỏ,
rắc gạo thành vòng tròn xung quanh rồi lấy ống nứa chụp lại và lấy đất sét bịt
kín các khe hở, sáng hôm sau mở ống ra, nếu các hạt gạo vẫn còn nguyên vẹn
đó là nơi đất tốt, có thể làm nhà.
Người Dao họ không làm nhà vào tháng 3, tháng 9. Riêng tháng 9 kiêng
cả việc làm chuồng lợn, chuồng gà, cối nước. Trong 2 tháng này thậm chí nhà
đang ở bị tốc mái hoặc đổ người ta cũng chỉ che tạm để ở, không dám dựng
nhà mới. Họ tin rằng nếu bất chấp điều kiêng cữ đó, những người sống trong
nhà sẽ bị ốm đau bệnh tật còn gia súc gia cầm chậm lớn và hay bị chế dịch.
Dựng sàn xong đêm ấy nếu ông chủ trông nhà mơ thấy điều không lành
thì phải tìm chỗ khác để làm nhà "mơ thấy gặp hoẵng kêu hay gặp rắn trong
rừng thì người ta cho rằng chỗ đất định ở không lành, sau này ở đó sẽ không
yên (Bàn Văn Sang, 55 tuổi, Bản Khe Mụ).
9
Khi lợp mái nhà chủ nhà phải là người phủ nóc, đối với ngôi nhà ở Bảo
tàng vì dựng theo nguyên mẫu ngôi nhà Bàn Văn Sấm nên ông được chọn là
chủ nhà và chịu trách nhiệm phủ nóc. Ông Sấm làm phép bằng cách đập 3 nhá
dao lên mái nhà và hỏi những người đứng phía dưới "Đã tối chưa?" Người bên
dưới trả lời "Tối rồi" Nếu người bên dưới trả lời chưa tối thì chủ nhà phải làm
phép lần nữa xin thần linh chấp nhận.
Sau khi ngôi nhà dựng xong chủ nhà và những người thợ làm nhà tổ
chức nghi thức dọn lên nhà mới, họ bầy bàn thờ tam đại. Ông Sấm với cương
vị chủ nhà, bước vào và cầm thêm một bó đuốc một ống bương đựng nước,
một bó lúa, một quả đu đủ xanh, một quả bí đặt nơi chạn bát, rồi ông làm lễ
cúng tổ tiên báo việc chuyển lên nhà mới, xin thổ công, thổ địa phù hộ cho mọi
người được sống yên ổn, những lễ vật cúng theo ô Sấm "hai ý nước muối của
gia đình về cuộc sống "ấm" trong nôi nhà mới.
Theo tập tục người mẹ và đứa trẻ trong 45 ngày sau khi sinh không được
vào nhà người khác thời gian. Kiêng cữ là 15 ngày đối với chồng của sản phụ
với 1 tuần đối với người nhà của sản phụ.Người vi phạm sẽ phải bồi thường
cho chủ nhà 1 con gà cùng vàng hương dể cúng tạ lỗi tổ tiên của gia đình này.
* Cối giã gạo dùng sức nước
Trước đây các gia đình người Dao giã gạo bằng loại cối dùng sức nước,
hai chiếc cối đặt ở gần nhà người Dao họ dựng Năm 1999 và 2002 ông Trần
Văn Trấn ở thôn Khe Mụ chủ nhân chiếc cối dựng năm 1999 kể lại "chiếc cối
này gia đình tôi đã sử dụng từ năm 1989. Từ năm 1994 khi trong bản có máy
sát gạo mọi người hầu như không sử dụng loại cối này nữa, nhiều gia đình phá
bỏ hoàn toàn.
Cối làm bằng loại gỗ tốt không bị mối mọt hay dùng nhất là gỗ nghiến
nhưng nay do hiếm gõ nghiến nên người ta thay bằng gỗ thọ cũng như cối giã
gạo bằng nước ở người Thái, tày, cối của người Dao đặt ở nơi có nước chảy
hoặc phải dẫn nước từ chỗ khác về thường người ta tìm đoạn suối gần nhà
người ta cho thóc vào cối rồi sau đó chỉ việc đến xúc gạo về.
10
Chương II
HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH QUAN TẠI NGÔI NHÀ DAO
HỌ - BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
2.1. Tình hình hoạt động của ngôi nhà Dao họ trong những năm gần
đây.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của khoa học ngày càng cao,
vì thế mà đời sống của con người có phần được cải thiện ngoài nhu cầu thưởng
thức các giá trị vật chất ra, giá trị tính thần cũng góp phần không nhỏ làm
phong phú thêm nhu cầu của họ. Một trong những loại hình giải trí phổ biến và
thu hút được đông đảo công chúng tham gia đó là hoạt động thăm quan các
Bảo tàng nói chung và bảo tàng dân tộc học nói riêng. Bởi thông qua các hiện
vật trực quan và các hình ảnh sinh động và đặc biệt là trực tiếp được tham gia
các hoạt động trình diễn, các hoạt động đó không chỉ có ý nghĩa giải trí và tìm
hiểu bản sắc văn hoá của các dân tộc, mà nó còn có ý nghĩa giáo dục tuyên
truyền giới thiệu những tinh hoa văn hoá tốt đẹp tới đông đảo công chúng trong
và nước.
Nhận thức đầy đủ ý nghĩa và vai trò của hoạt động trên ban lãnh đạo của
BTDTHVN nói chung và đặc biệt các cán bộ và nhân viên của khu trưng bày
ngoài trời đã có rất nhiều cố gắng trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi và đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu nhằm thu hút khách tham quan tại các ngôi nhà được
dựng ở ngoài trời, đặc biệt là ngôi nhà của người Dao họ.
Một trong những hoạt động được khách tham quan chú ý và quan tâm
nghiên cứu tìm hiểu nhất đó là hoạt động trình diễn, thấy rõ được vai trò của
thực tế đặt ra ban giám đốc thường xuyên chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động
đó.
Năm 2004 thường xuyên có hoạt động trình diễn nấu rượu tại ngôi nhà
Dao họ, đó là 1 trong những hoạt động được du khách quan tâm và hưởng ứng.
Thông qua hoạt động này khách tham quan không chỉ có cơ hội hiểu biết kỹ
11
thuật nấu rượu và việc tìm kiếm làm ra men. Ngoài ra khách còn được trực tiếp
trao đổi giao lưu với bà con người Dao họ, được thưởng thức tại chỗ những
chén rượu đậm đà và nóng hổi. Nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của
hoạt động này do vậy hoạt động đó đã được kéo dài liên tục trong gần 2 năm
2003 và 2004, với thời gian tổ chức 2 lần trong một tháng vào chủ nhật của
tuần đầu và tuần thứ 3 hàng tháng.
Không chỉ dừng lại ở hoạt động trình diễn nấu rượu vào tháng 10/2004.
Cũng tại ngôi nhà của người Dao họ đã tổ chức trình diễn các thao tác trong kỹ
thuật Dệt vải của người Dao họ. Đây là một hoạt động có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng đối với công chúng bởi lẽ nghề Dệt vải của người Dao nói chung và
người Dao họ nói riêng đang ngày càng mai một, do đó đây là một hoạt động
không chỉ có ý nghĩa giáo dục mà còn có ý nghĩa gìn giữ và khôi phục lại nghề
thủ công truyền thống.
Do làm bằng nguồn vật liệu không được bền lâu việc bảo quản tu sửa đã
được BTDTHVN chú trọng trên đầu năm 2005 ngôi nhà Dao họ được tu sửa lại
công việc này do một nhóm người Dao họ tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
thực hiện, đồng thời cũng vào dịp này nhóm thợ đã trình diễn cách chọn
nguyên vật liệu và kỹ thuật lợi mái nhà thông qua hoạt động này khách thăm
quan trong và ngoài nước được hiểu biết về cách dựng ngôi nhà truyền thống
của người Dao họ đặc biệt là kỹ thuật lợp mái nhà hết sức độc đáo và hấp dẫn
đối với khách thăm quan bởi lẽ mãi nhà được lợp bằng tre bổ đôi như một
thanh sấp một thanh ngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương đẩy là một
trong những kỹ thuật độc đáo của người Dao họ hiếm thấy có ở một dân tộc
khác.
Hàng năm vào các ngày sau tết Nguyên đán ngôi nhà của người Dao họ
cùng với một số ngôi nhà khác tại khu Bảo tàng ngoài trời - BTDTHVN còn tổ
chức "lễ hội đầu xuân như: múa hát chơi trò chơi, ẩm thực… các hoạt động
trên đã tạo ra sức hút với đông đảo công chúng về dự và tham gia thông qua
hoạt động đó bảo tàng trở thành một điểm thăm quan du lịch độc đáo góp phần
quan trọng vào việc giới thiệu các nền văn hoá của các dân tộc tới mọi tầng lớp
12
nhân dân trong và ngoài nước. Du khách tới đây không chỉ được nghe các làn
điệu dân ca truyền thống được chứng kiến và tham gia các trò chơi dân gian mà
còn được giao lưu trực tiếp với các nghệ nhân, thông qua các hoạt động đó bảo
tàng đã giới thiệu một cách sâu sắc tới du khách nhất là học sinh sinh viên các
nhà nghiên cứu biết được ý nghĩa văn hoá truyền thống, từ đó họ có thể đưa ra
những nhận xét về việc lưu giữ phát huy gìn giữ các giá trị vật chất cũng như
tinh thần của các dân tộc.
Năm 2005 cùng với các nhà nghiên cứu ngôi nhà của người Dao họ cùng
với ngôi nhà của người H'mông đã tổ chức trình diễn kỹ thuật rèn đúc của
người H'mông đã thu hút nhiều khách tham quan tới dự và cổ vũ.
Qua các hoạt động trình diễn trên tuy không được nhiều nhưng đã đóng
một vai trò cực kỳ quan trọng không chỉ thu hút khách trong nước mà còn thu
hút cả khách nước ngoài sở dĩ thu hút đông đảo công chúng như vậy vì thông
qua các hoạt động trực quan và sinh động đó khách tham quan được tận mắt
chứng kiến được giao lưu với ba còn bản địa qua đó sẽ phần nào hiểu biết về
đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc.
2.2. Về khách thăm quan của ngôi nhà Dao họ
* Khách trong nước
So với các ngôi nhà được dựng tại Bảo tàng ngoài trời thì ngôi nhà nửa
sàn nửa trệt của người Dao họ có cấu trúc đơn giản, không phức tạp như nhà
Dài của người Êđê, nhà Chăm nhà rông… song nhà của người Dao họ vẫn có
sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước, sở dĩ có được như
vậy là do sự độc đáo về hình thức cũng như bố cục của ngôi nhà đó là loại hình
nhà nửa sàn nửa trệt và kỹ thuật tạo dựng ngôi nhà… Ngoài ra còn nhiều yếu tố
khác nữa gây sự chú ý cho khách tham quan…
Năm 2005 ngôi nhà người Dao họ đã đón được 21.455 lượt khách tới
tham quan so với năm 2004 tăng thêm 3842 khách (năm 2004 đón được 17.623
khách tham quan).
Trong đó có 10.545 khách trong nước tăng được 1715 khách so với năm
2004 (khách trong nước năm 2004 là 8830 khách).
13
Khách trong nước tới thăm ngôi nhà của người Dao họ, ngày càng tăng
về số lượng gồm đầy đủ các thành phần trình độ, học thức lứa tuổi khác nhau.
Số lượng khách tới thăm ngôi nhà Dao họ đông vào các tháng 1, 2, 3, 4,
5, 9, 10 và 12 các tháng 6, 7, 8 khách thường vắng vì trong thời gian này thời
tiết thường nóng bức tâm lý khách ngại ra ngoài trời hơn nữa vào thời điểm
này khách thường có những chuyến du lịch nghỉ mát tại các bãi biển và nơi có
khí hậu mát mẻ…, cùng vào thời điểm này học sinh sinh viên thường có những
kì nghỉ hè (học sinh sinh viên là số lượng khách đáng kể của bảo tàng) nên họ
tạm thời ngừng lại việc tìm hiểu nghiên cứu phục vụ cho học tập…
Đối với các tầng lớp khác vào thời điểm đó cũng là những tháng mùa vụ
nên họ không có nhiều thời gian đến bảo tàng vào thời điểm đó.
Tuy nhiên vào những tháng khác đặc biệt là các dịp đầu xuân bảo tàng
thường rất đông khách, do nhu cầu nghỉ ngơi và vui chơi vào thời điểm đó thời
tiết cũng hết sức thuận lợi.
Do đặc điểm của Bảo tàng nằm ở khu vực có rất nhiều cơ quan nhà nước
cũng như các trường đại học, cao đẳng và trung học, giao thông đi lại hết sức
thuận lợi nên thu hút rất lớn một lượng khách là các cơ quan đoàn thể, học sinh
sinh viên tới tham quan ngôi nhà phục vụ cho công tác học tập và nghiên
cứu…
Ngôi nhà nói riêng và bảo tàng nói chung thường đông khách vào các
ngày cuối tuần vì đó là ngày nghỉ sau một tuần làm việc và học tập căng thẳng
họ tìm đến sự yên tĩnh của bảo tàng để giải trí và thoả mãn nhu cầu tìm hiểu…
Hầu hết khách tham quan khi đến ngôi nhà người Dao họ đều muốn tìm
tòi để hiểu biết về cấu trúc ngôi nhà cũng như các hiện vật trưng bày gắn với
ngôi nhà họ luôn so sánh các loại hình nhà của các dân tộc được trưng bày tại
bảo tàng ngoài trời họ so sánh về nguyên vật liệu và kỹ thuật dựng nhà, bố cục
từng ngôi nhà và họ luôn đưa ra những câu hỏi như: tại sao có những ngôi nhà
to, dài, rộng kiến trúc cầu kỳ phức tạp như nhà của người Êđê, Việt có những
ngôi nhà rất đơn giản như nhà Dao, Mông? đối với ngôi nhà Dao họ thường có
những câu hỏi như: tại sao ngôi nhà lại làm nửa sàn nửa đất? Tại sao nhà lại có
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét