LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MÁY TÍNH pdf": http://123doc.vn/document/1048589-tai-lieu-lich-su-phat-trien-may-tinh-pdf.htm
vì chúng giống nhau.
Trên đây là các chi tiết bắt buộc phải có cho 1 máy tính đơn giản nhất, nếu bạn có thêm Card bổ sung như:
Âm thanh, mạng, modem thì mỗi card nầy đều có thêm các ổ nối dính liền với Card.
2- Bàn Phím:
Bàn phím có rất nhiều loại, tốt xấu tùy theo giá tiền. Có 1 cách để xác định chất lượng nhanh và tương đối
chính xác là: Cầm bàn phím lên càng nặng tay càng tốt và ngược lại.
Bàn phím thường có 101 phím, bàn phím mới hổ trợ cho Windows 95 có 104 phím
3- Màn hình:
Có rất nhiều nhản hiệu và giá cả khác nhau. Người mua lần đầu khó có thể xác định chất lượng vì có bao
giờ "xài" qua cái nào đâu mà so sánh. Tốt nhất là dựa vào uy tín của nơi bán để an tâm về chất lượng. Theo
chúng tơi việc mua kính che là khơng cần thiết vì chưa có tài liệu chính thức nào cơng nhận bức xạ của màn
hình có hại cho con người và các màn hình đời mới đều có bức xạ rất thấp. Ngồi ra do gắn thêm kính lọc, bạn
phải điều chỉnh màn hình sáng hơn , tăng độ tương phản của màn hình để bù lại độ xám của kính lọc, tức là
bạn bắt màn hình chạy mạnh hơn và dỉ nhiên là mau giảm thọ hơn khơng xài kính lọc.
Màn hình loại cũ, điều chỉnh bằng nút vặn (analog). Màn hình mới, điều chỉnh bằng nút bấm (digital).
4- Mouse:
Hỗ trợ cho bàn phím khi chạy với Dos hay còn gọi là chế độ TEXT. Khơng thể thiếu được nếu chạy các
chương trình có giao diện đồ hoạ như Windows. Kèm theo Mouse có đĩa mềm chứa chương trình điều khiển và
sách hướng dẫn.
B.Phân biệt các thành phần trong thùng máy
1- Bộ nguồn:
Có hình khối chữ nhật nằm trên cùng, trong hộp đi ra các đầu đây nối gồm có:
- 2 đầu cung cấp điện cho mainboard. Lưu ý khi cắm 2 đầu nối nầu phải tn theo ngun tắc: 4 dây đen của
cả 2 đầu (mỗi đầu 2 dây) phải nằm liên tiếp sát nhau và nằm giữa.
- 4 đầu cung cấp điện cho các thành phần khác. Như: ổ đĩa cứng, ổ đĩa mềm, CD- Rom Nếu thiếu các bạn
có thể mua loại đầu nối chia 2 để bổ sung. Các đầu nối có 2 loại: Nhỏ riêng dùng cho ổ 1.4Mb, loại nầy dể cắm
lộn làm hư nguồn nên khi cắm cần quan sát kỹ chớ đừng cắm mò (2 cạng gờ của đầu nối dây phải ơm miếng đế
nhựa của ổ nối). Lớn dùng cho các thiết bị khác, loại nầy có 2 cạnh bị vát nên khơng thể cắm ngược được.
- 1 dây cấp điện cho bảng hiện số trước mặt thùng máy. Tuỳ theo thùng máy, có thùng khơng cần dây cấp
điện nầy.
2- Mainboard:
Là bản mạch lớn nhất trong thùng máy, trên bản mạch nầy có các đầu nối để cắm CPU, RAM, CARD bổ
sung.v v Thường bản mạch chiếm trọn 1 bên hơng cũa thùng máy dạng đứng. Bản mạch nầy cần được bắt kỹ
vào vách đở của thùng máy, tối thiểu phải bắt 2 ốc để tránh xê dịch theo chiều ngang và có đầy đủ các chốt đệm
bằng nhựa để tránh nhún theo chiều đứng. Nếu khơng kỹ, khi ráp hay tháo card bổ sung dể làm bản mạch bị
xộc xệch gây ra chạm mạch hay nứt mạch in do oằn.
5
Nên chọn loại mainboard theo chuẩn PCI chứ đừng chọn VESA Local Bus để sau nầy khi nâng cấp máy,
bạn vẫn sử dụng được các card bổ sung cũ.
3- CPU:
Ðược cắm trên 1 đế cắm vng bằng nhựa, nếu là 486 trở lên thì ln ln có kèm theo quạt để giải nhiệt
cho CPU. Cũng có vài loại CPU khơng có quạt mà chỉ dùng bản giải nhiệt dán cứng vào lưng CPU. Cần cẩn
thận tách các dây nhợ xa khỏi quạt vì chỉ cần quạt ngưng chạy do cánh quạt chạm vào một dây dẫn nào đó là
kể như quạt và CPU cùng "tiêu" một lượt.
Các mainboard 486 hay Pentium cho phép bạn thay đổi đủ loại CPU có tốc độ khác nhau, miễn là cùng họ
486 hay Pentium. Cho nên bạn có thể nâng cấp riêng con CPU theo túi tiền của bạn, nhưng khi thay đổi họ
CPU, bạn phải thay ln mainboard. Khi mua máy hay mainboard, bạn phải đòi cho được sách hướng dẫn kèm
theo mainboard, nếu thiếu cuốn nầy kể như bạn khơng thể nào thay đổi gì trên mainboard, thậm chí khơng thể
sửa chữa máy của bạn khi có trục trặc. Ðối với mainboard PCI còn có thêm đĩa mềm chứa chương trình dành
cho thành phần I/O on board.
Khi tháo ráp CPU bạn cần lưu ý cạnh có dấu chấm trên CPU phải trùng với cạnh có chấm của đế cắm.
Thường cạnh nầy cũng vát xiên để dể phân biệt với 3 cạnh còn lại. Do CPU có nhiều điện thế hoạt động khác
nhau nên khi thay đổi CPU cần quan tâm tới việc Set lại điện thế cung cấp cho CPU, nếu q cao, CPU sẽ "nổ".
4- Ram:
Là những miếng dài cắm vào các đầu nối đặc biệt dành riêng cho nó, thường có vị trí trên cùng, sát bộ
nguồn của máy. Tuỳ theo thiết kế của mainboard, có 3 loại Ram là:
- 30 chân: Hay có trong các mainboard đời cũ. Gồm 2 Band, mỗi Band bắt buộc phải cắm cùng lúc 4 cây Ram
giống nhau mới sử dụng được. Do bất tiện nầy nên hiện nay khơng còn sản xuất nữa.
- 72 chân: Các mainboard mới chỉ sử dụng loại nầy. Gồm 4 Band, mỗi Band chỉ cần 1 cây Ram là sử dụng
được nên dể thay đổi hơn loại cũ. Tuy nhiên tùy theo mainboard mà vị trí Band khi cắm 1 cây có thể khác nhau,
cũng có loại mainboard cho phép bạn cắm 1 cây vào bất cứ Band nào. Trong trường hợp sử dụng từ 2 cây ram
trở lên, bạn bắt buộc phải có sách hướng dẫn cũa mainboard để biết phải cắm theo thứ tự nào, và tuỳ theo
dung lượng cây Ram mà chúng có vị trí Band quy định khác nhau.
- 168 chân: Là loại mới nhất và nhanh nhất, mỗi cây có dung lượng 16Mb trở lên. Thường trên main board
đời mới có 4 slot 72 chân và 2 slot 168 chân.
Chú ý: Trên thị trường cũng có xuất hiện 2 loại bản mạch gọi là ConvertRam, dùng để chuyển đổi 4 cây ram 30
chân thành 1 cây 72 chân hay 2 cây ram 72 chân thành 1 cây 72 chân. Nó rất đơn giản, dể sử dụng và rất có
ích trong tình hình hiện nay, giá khoảng 20US trở lại.
5- Card màn hình và Card I/O:
Khi quan sát Card nầy hay Card I/O, ngồi việc phân biệt tên con Chip trên card, bạn cần chú ý thêm loại
giao tiếp của card.
- Card 8Bit: Có 1 đoạn chân để cắm vào ổ nối.
- Card 16Bit: Có 2 đoạn chân để cắm vào ổ nối, 1 đoạn chân dài và 1 đoạn ngắn hơn.
- Card 32 Bit VESA: Có 3 đoạn chân, trong đó ngồi 2 đoạn giống card 16 Bit còn có thêm đoạn thứ 3 có xẻ 1
rảnh nhỏ.
- Card 32Bit PCI: Chỉ có 1 đoạn chân ngắn, có xẻ 1 rảnh nhỏ.
6
Phải dùng Card 32Bit cho máy 486 trở lên. Trong trường hợp bạn mua mainboard PCI thì khơng có Card
I/O vì thành phần nầy nằm ln trên mainboard (I/O on board).
Chú ý: Card 16 Bit có thể sử dụng được trên cả mainboard PCI và VESA, nhưng Card 32 Bit VESA chỉ sử dụng
được trên mainboard theo chuẩn VESA và tương tự vậy cho Card PCI.
Ði kèm với Card màn hình Và Card I/O là đĩa mềm chứa các chương trình điều khiển dành riêng cho Card
của hãng sản xuất và tài liệu hướng dẫn sử dụng cũng như tháo ráp card. Khi mua các bạn nhớ đòi cho được
mấy thứ nầy.
6- ổ đĩa mềm:
Thường hiện nay bạn chỉ cần ráp loại 1.4Mb, vì loại 1.2Mb khơng còn thơng dụng và giá mắc hơn. Cách
kiểm tra ổ đĩa mềm hay nhất là bạn thử cho format 1 đĩa mềm, chép chương trình lên đĩa rồi đem qua máy khác
đọc và cho ổ đĩa đọc 1 đĩa mềm được format, ghi bằng máy khác. Nếu ổ đĩa khơng format được hay chỉ đọc
được đĩa do chính nó ghi thì bạn phải đổi ổ đĩa khác.
7- ổ đĩa cứng:
Nên mua loai IDE vì dể sử dụng và giá rẻ. Ln ln đòi hỏi người bán ghi chính xác dung lượng và nhản
hiệu ổ đĩa cứng vào hố đơn vì đây là thiết bị quan trọng, mắc tiền và nếu hư thì quả là 1 tai họa lớn cho người
sử dụng. Kèm theo ổ đĩa dung lượng trên 528 Mb phải có đĩa mềm chứa chương trình điều khiển ổ đĩa của
hãng sản xuất, khơng có chương trình nầy bạn khơng thể dùng ổ đĩa trên các máy 386 hay 486 đời cũ do Bios
các máy nầy khơng chấp nhận ổ đĩa lớn hơn 528 Mb.
Trong trường hợp bạn mua mainboard đời mới, bạn có thể vào Bios Setup khai báo loại ổ đĩa dung lượng
cao nầy và sử dụng bình thường như các ổ đĩa loại nhỏ, khơng cần dùng chương trình quản lý đặc biệt chi cho
rắc rối.
C.Các thiết bị bổ sung cần thiết
1/ ổ CD-Rom:
Tổng qt: ổ đĩa CD-Rom có thể nghe được tất cả các đĩa nhạc dân dụng một cách độc lập qua lổ cắm
Headphone hay qua Card âm thanh bằng đầu nối âm thanh 3 chấu riêng. Khi đọc đĩa dành riêng cho máy tính, 2
đường âm thanh âm thanh nầy bị vơ hiệu hố vì dữ liệu và âm thanh nếu có đều được truyền bằng cáp dẹp,
đường cáp nầy bắt buộc phải nối và đâu là do thiết kế của ổ đĩa như phần trình bày dưới đây.
Hiện nay ổ CD Rom là thiết bị khơng thể thiếu của máy tính, vì tính kinh tế và đa dụng của nó.
ổ CD-Rom có 3 loại giao tiếp:
- Loại có Card riêng: Loại nầy khi sử dụng phải nối cáp tín hiệu vào Card riêng đi kèm theo ổ đĩa. Có Card cho
phép bạn nối với 4 loại ổ đĩa CD-Rom khác nhau (nhưng chỉ sử dụng mỗi lần 1 ổ). Trên Card sẽ có 2 chấu cắm
(L,R) giống chấu cắm của Radio Cassette để dùng cho việc nghe đĩa nhạc.
- Loại nối vào Card âm thanh: Ða số ổ đĩa CD-Rom thuộc loại nầy. Ðường cáp tín hiệu phải nối vào Card âm
thanh khi sử dụng. Nếu máy tính khơng điều khiển được Card âm thanh thì kể như khơng điều khiển được ổ đĩa
ln (nghĩa là nếu bạn khơng có đúng Driver của Card Sound thi bạn sẽ khơng sử dụng được o đĩa CDRom).
- Loại IDE: Các ổ đĩa đời mới thuộc loại nầy, đường cáp tín hiệu dùng chung với cáp ổ đĩa cứng. Trên ổ đĩa CD-
Rom cũng có các Jump để xác lập là ổ đĩa chính (master) hay ổ đĩa phụ (slave). Tuy nhiên bạn khơng cần khai
báo trong Bios Setup, vì ta phải dùng phần mềm để điều khiển nó giống như khi bạn sử dụng ổ đĩa cứng theo
chuẩn giao tiếp SCSI.
7
Tốc độ của CD-Rom cho ổ dưới 12 được tính như sau: 150Kb cho tốc độ x1, như vậy nếu x2 là 300Kb, x4 là
600Kb, x6 là 900Kb. ổ trên 12 do thiết kế đặc biệt nên đọc ở tâm đĩa chậm hơn ngồi rià đĩa và chỉ ở ngồi rìa
mới đạt được tốc độ tối đa như quảng cáo.
Khi mua ổ đĩa CD-Rom, bạn nên chú ý các phẩm chất sau:
* Buffer: dung lượng Ram cache gắn trên ổ đĩa, dung lượng nầy càng cao càng tốt và ổ đĩa càng mắc tiền.
Dung lượng Buffer thường là 32Kb, 64Kb, 128Kb, 256Kb.
* Chuẩn tương thích: Càng tương thích với nhiều chuẩn càng tốt, tối thiểu phải tương thích với những chuẩn
sau: CD-CA, CD-ROM (mode 1, mode 2, Mixer mode, Multi session Photo CD, MPC2 ). Tương lai chúng ta sẽ
sử dụng nhiều loại đĩa CD ghi được nên chuẩn Multi session phải có để đọc chúng.
* Cách lấy đĩa ra khi máy khơng có điện: Có nhiều cách lấy đĩa khi khơng có điện, thường là có một lổ nhỏ ở
mặt trước máy, phiá dưới hộc chứa đĩa. Khi muốn lấy đĩa ra, bạn chọt một que nhỏ vào lổ nầy (ổ đĩa Sony) hay
dùng một cây vặn vít nhỏ chọt vào lổ và vừa vặn vít vừa dùng tay kéo học ra (các ổ đĩa khác). Có loại ổ đĩa rẻ
tiền khơng cho bạn lấy đĩa ra khi khơng có điện.
Ði kèm theo ổ đĩa CD-ROM phải có sách hướng dẫn và đĩa mềm chứa chương trình điều khiển.
2- Card âm thanh:
Card âm thanh có rất nhiều chủng loại giá chênh lệch rất khũng khiếp. Mắc nhất và chất lượng cao nhất là
của hãng Creative, rẻ nhất và chất lượng thấp nhất là của Trung Quốc. Rất khó đành giá chất lượng Card âm
thanh bằng cách nghe vì khơng có cơ sở để so sánh nên nhiều người chọn mua loại rẻ tiền mà qn rằng vấn
đề chuẩn rất quan trọng, các Card âm thanh của các hãng khác thường quảng cáo là tương thích hồn tồn với
Sound Blaster của Creative nhưng thực chất lại khơng phải như vậy. Tất cả các phần mềm Multi Media muốn
phát hành rộng rải đều phải nhận diện và sử dụng được Card Sound Blaster vì đây là chuẩn về Card âm thanh,
còn các loại vơ danh khác nó khơng cần quan tâm. Do đó sử dụng Card Sound Blaster là bạn hồn tồn an tâm
cài đặt bất cứ chương trình nào, còn nếu sử dụng Card vơ danh thì bạn coi chừng phần mềm khơng điều khiển
được và cả bộ vừa Card âm thanh, vừa CD-Rom đều vơ giá trị.
Các bạn chú ý cho vấn đề sau: Card 8Bit, 16Bit, 32Bit là nói về việc xữ lý âm thanh chớ khơng có liên quan
gì đến tốc độ vận chuyển dữ liệu. Trong việc xữ lý âm thanh, Card càng nhiều Bit cho chất lượng ghi phát âm
thanh càng cao. Ðối với người sử dụng bình thường chỉ cần Card 16Bit là q tốt (khơng thua gì dàn máy HIFI).
Card 32Bit chỉ cấn thiết cho dân chun nghiệp soạn nhạc có sử dụng Organ điện tử kết nối vào cổng MIDI của
Card âm thanh. Card 8Bit khi xữ lý các file âm thanh thì tốt nhưng khi nghe đĩa CD nhạc thì thật dở gần như trở
thành MONO, do đó khi nghe CD nhạc bạn nên nghe bằng lổ Headphone có chất lượng cao hơn khi nghe qua
card sound vì khơng bị card nầy xữ lý bậy bạ.
Thơng thường khi mua Card âm thanh, ngồi sách hướng dẫn còn có thêm vài đĩa mềm hay có khi là đĩa
CD chức các chương trình điều khiển và các chương trình tiện ích về âm thanh kèm theo.
Chú ý: Hiện nay ổ đĩa CD-ROM x2 và Card âm thanh 16Bit chỉ còn khoảng 200US cho cả bộ. Ðây là tình
trạng đáng mừng, nhưng chúng tơi đang tìm hiểu ngun nhân tuột giá nhanh như vậy vì chúng tơi sợ tình trạng
"remark" cho ổ đĩa CD-ROM (tốc độ 1 sửa thành tốc độ 2) hay là làm giả nhản hiệu các hãng danh tiếng.
Do ổ đĩa CD-Rom đã bắt đầu thơng dụng nên trên thị trường xuất hiện nhiều loại đĩa CD dùng lau chùi đầu
đọc Laser của ổ đĩa, các bạn cũng nên kiếm mua đĩa nầy về để dành, giá chỉ khoảng 8US.
3/ Ðĩa mềm:
Thơng dụng là đĩa 1.4Mb, đĩa 1.2Mb hầu như vắng bóng. Khi mua đĩa mềm nên chú ý: Hiện nay xuất hiện
đĩa giã rất nhiều, hiệu nào cũng có giã, đừng thèm chọn loại nổi tiếng mua chi cho tốn tiền vơ ích, chất lượng
khơng hơn gì loại vơ danh (bởi nó là giã), cứ việc chọn mua loại rẻ nhất mà xài là kinh tế nhất.
8
Khi sử dụng đĩa mềm nhớ đừng để đĩa gần vật có từ tính như: nam châm, màn hình, các bộ nguồn điện
nhà Nó sẽ bị xố.
4/ Ðĩa CD-ROM:
Ðại đa số đĩa CD-ROM ta sử dụng hiện nay là của Trung Quốc sản xuất lậu, chất lượng khơng cao nhưng
tính ra vẫn rất có ích vì giá rẻ. Ngồi ra còn có loại đĩa ghi được sản xuất tại thành phố.
Khi sử dụng đĩa CD-ROM, bạn chú ý các vấn đề sau:
Cùng 1 đĩa nhưng có ổ đọc được, có ổ khơng đọc được. Cùng 1 ổ nhưng có đĩa đọc được, có đĩa khơng, tuỳ
theo hiệu.
Nhiều khi trong một loạt đĩa, tất cả đều hư giống nhau, đó là lỗi sản xuất khơng khắc phục được.
Nếu đĩa bị trầy nhiều, khơng đọc được, bạn có thể đem đánh bóng (HTK) cho mất các vết trầy, đòi hỏi người
đánh phải có tay nghề cao để khi đánh, mặt đĩa khơng bị dợn sóng do mòn khơng đều. Hiện nay cũng đã có bán
các dụng cụ đánh bóng đĩa CD bằng tay giá khoảng vài chục ngàn VN.
Ðĩa CD loại ghi được, có thể ghi nhiều lần đến khi nào hết dung lượng đĩa thì thơi nhưng để đọc được đĩa
nầy, ổ đĩa CD phải tương thích với chuẩn Multi Session. Hiện nay các chổ ghi đĩa khơng nhận ghi nhiều lần cho
bạn vì sợ hư đĩa.
CHƯƠNG II: CẤU TRÚC CÁC THÀNH PHẦN CỦA MÁY TÍNH
9
1.Bộ nguồn ATX
Các máy tính sản xuất gần đây, nhất là từ Pentium II trở đi đều sử dụng mainboard và bộ nguồn theo chuẩn
ATX.
Bộ nguồn ATX hoạt động tiết kiệm, an tồn và linh động hơn bộ nguồn AT vì ta có thể điều khiển một số hoạt
động của bộ nguồn thơng qua Bios trên mainboard. Thí dụ: Có thể bật/tắt máy từ xa thơng qua card mạng,
modem, cổng Tắt máy bằng lịnh Shutdown của Windows 95. Theo dỏi tình trạng hoạt động của máy, kiểm tra
nhiệt độ CPU, Mainboard, tự động tắt máy để tiết kiệm nguồn hay để bảo vệ.
Ðiểm khác biệt lớn nhất khi ráp bộ nguồn ATX là đầu cắm cung cấp điện cho mainboard và cơng tắc Power.
-Ðầu cắm
Ðầu cắm ATX có 20 chân
Chân Tín hiệu Chân Tín hiệu
1 +3.3v 11 +3.3v
2 +3.3v 12 -12v
3 Ðất (Ground) 13 Ðất (Ground)
4 +5v 14 PW_ON (mở nguồn)
5 Ðất (Ground) 15 Ðất (Ground)
6 +5v 16 Ðất (Ground)
7 Ðất (Ground) 17 Ðất (Ground)
8 PWRGOOD (nguồn tốt) 18 -5v
9 +5vSB 19 +5v
10 +12v 20 +5v
-Cơng tắc Power
Do có 1 số tính năng điều khiển từ xa nên về ngun tắc bộ nguồn phải ln ln được cấp điện. Bạn sẽ
khơng thấy cơng tắc Power tự giử theo kiểu AT nữa (Sau khi bấm, cơng tắc sẽ tự giử trạng thái đó cho đến khi
bấm lần nửa để thay đổi trạng thái), thay vào đó là 1 nút bấm kích (tự động trở về vị trí ban đầu sau khi ngưng
bấm) tương tự như nút Reset.
Khi bạn bấm nút nầy, đường tín hiệu thứ 14 của đầu cắm nguồn (PW_ON) sẽ được nối đất để tạo ra tín hiệu
mở máy nếu máy đang trong tình trạng tắt (hay tắt máy nếu máy đang trong tình trạng mở).
Chú ý: Khi mở máy bạn chỉ cần kích nút Power (bấm rồi nhả liền) nhưng đặc biệt khi tắt, tùy theo mainboard có
thể bạn phải bấm rồi giử sau 4 giây mới được nhả (do xác lập trong Bios).
Khi máy trong tình trạng tắt, thực sự bộ nguồn vẫn tiêu thụ 1 lượng điện rất nhỏ để duy trì sự hoạt động cho
mạch điều khiển tự động mở máy (theo xác lập trong Bios hay chương trình điều khiển). Chỉ khi nào bạn rút dây
cắm nguồn hay tắt điện bằng cơng tắt phía sau bộ nguồn thì máy bạn mới bị ngắt điện hồn tồn.
10
-Kiểm tra bộ nguồn rời
Ðể kiểm tra nhanh bộ nguồn có hoạt động hay khơng, bạn có thể kích nối tắt đường tín hiệu 14 và 15 (chập
rồi nhả liền) hay chắc ăn nhất là cắm đầu nối nguồn vào Mainboard rồi kích nối tắt 2 chấu của Jumper PowerSw
trên mainboard (khi thử chỉ cần có bộ nguồn và mainboard ATX là đủ, khơng cần thêm gì nữa).
2.Bus (Băng thông)
Hai loại bus tốc độ cao đang ganh đua chiếm ưu thế trên trường máy tính để bàn. Cái nào thích hợp hơn
cả với bạn để thực hiện các ứng dụng đồ họa đầy màu sắc hay gói dữ liệu
Lý do chính có thể được diễn giải bằng ba từ: Peripheral Component Interconnect (liên kết thành phần
ngoại vi) (PCI).
-Ngơn ngữ của Local Bus
Vấn đề trên đã được nhắc tới khi Windows đưa các hình ảnh đồ họa màu trung thực vào PC. Bên trong
CPU, bộ vi xử lý 486 chuyển dữ liệu với tốc độ 33MHz, sử dụng local bus 32-bit nội. Nhưng luồng dữ liệu đồ
hoạ lại đụng phải một đường dẫn hẹp một khi đi qua bus ISA. Được thiết kế cách đây 10 năm, ISA hoạt động
với 8MHz và là bus 16-bit. Khi các ứng dụng u cầu khả năng đồ họa màu thực, video chuyển động và hình
ảnh 3 chiều, lúc đó ISA trở nên bị q tải.
Để loại trừ sự tắc nghẽn, các nhà sản xuất hệ thống và thiết bị ngoại vi đã phải tạo ra đường dữ liệu tắt cho
các thành phần có nhu cầu tốc độ nhiều nhất. Bằng cách nối trực tiếp mạch điều khiển đồ họa (graphic adapter)
và có thể các thiết bị khác vào bộ xử lý, các nhà sản xuất có thể tạo ra tuyến dữ liệu rộng nhanh cho các thành
phần cần tốc độ. Và đó là điểm chung cho sự ra đời của các chuẩn local bus giống với VL. Bằng cách tạo ra
một đường chung gắn vào bus tốc độ cao của bộ xử lý, local bus chuẩn đã loại bỏ hiện tượng tắc nghẽn dữ liệu
trong các máy PC.
Các bus VL và PCI đều thực hiện một cơng việc như nhau. Cả hai đóng vai trò là tuyến dữ liệu 32-bit giữa
CPU và thiết bị ngoại vi, hoạt động với tốc độ cao (PCI: 33MHz và VL: 40MHz), tốc độ truyền dữ liệu gần tương
đương (PCI 120MB/sec và VL: 132MB/sec). Hơn nữa, cả PCI lẫn VL đều có các đặc tính nhằm tương thích với
các thiết bị ISA sẵn có.
VL và PCI cung cấp hiệu năng tương đương, ít nhất cũng trên các hệ thống hiện có. Khi chạy các ứng
dụng Windows trên các hệ thống có cấu hình Pentium tương đương được trang bị bus VL hoặc PCI, khơng thấy
sự khác biệt hiệu năng rõ ràng. Trong khi hệ thống PCI cho thấy các hệ số tốt trong cuộc thử nghiệm, hệ thống
VL cũng cho thấy chỉ kém 2% điểm. Đối với nhiều người dùng, đó khơng phải là khía cạnh hiệu năng bắt buộc.
Nhưng hai chuẩn đã sinh ra từ đó - và sự khác biệt có thể xác định cái nào tồn tại lâu hơn. Bus VL được
xem như khơng đắt lắm, là giải pháp tiếp cận nhanh thị trường. Được xây dựng trên local bus sẵn có trên tất cả
CPU 486 Intel, VL hoạt động với tốc độ của bộ xử lý, hoặc đối với các CPU DX2 gấp đơi xung, nó hoạt động
bằng nửa tốc độ của bộ xử lý. Bus VL điều khiển tối đa 2 hoặc 3 thành phần, tăng cường hiệu suất các bo mạch
đồ họa và cả đĩa cứng. Điều quan trọng tuơng tự là các hệ thống bus VL và thiết bị ngoại vi giá rẻ, chỉ hơn chút
ít các phần hợp thành ISA của chúng.
Giá trị của cơng nghệ này sẽ bao nhiêu? Các nhà sản xuất nghĩ rằng sẽ đắt thêm hàng trăm dollar trên các
hệ thống PCI, nhưng giá có thể thay đổi khi Intel, cơng ty duy nhất sản xuất chip PCI, cố gắng thu hút bớt thị
trường của chuẩn bus VL.
-Chuyển dữ liệu trên bus
Tốc độ chuyển dữ liệu 16-bit của ISA - 8MHz q chậm so với các CPU nhanh ngày nay, các tập tin lớn và
các ứng dụng đồ họa. Các bus PCI và local bus VESA (VL) tăng tốc độ chuyển dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu liên
tục, chế độ làm việc của đĩa cứng và các bo mạch đồ họa. Tuy vậy mỗi loại sử dụng phương thức khác nhau để
chuyển dữ liệu giữa bộ nhớ hệ thống và thiết bị.
11
-VL Bus: giải pháp trực tiếp
Bus VL là phần mở rộng của local bus của CPU 486. Dữ liệu đi trực tiếp thơng qua bus CPU đến bus VL.
Một vài loại bo mạch giao tiếp VL có trang bị vùng đệm nhằm giữ cho dữ liệu khơng bị mất trước khi thiết bị có
thể nhận được. Bởi vì bus VL chuyển dữ liệu với tốc độ từ 25 đến 40 MHz, các bo mạch VL phải điều khiển
được các tốc độ xung khác nhau. Mỗi bo mạch VL thêm vào một đường tải cho bus CPU, làm giảm số tín hiệu
của bus và hạn chế VL dùng chỉ cho hai hoặc ba thiết bị.á
-PCI Bus: hơn cả local bus
PCI thêm vào bộ điều khiển và mạch tăng tốc nhằm tạo ra bus tách biệt với bus của CPU, và các thiết bị
phụ nhằm tăng cường đường dữ liệu. Một phương pháp PCI dùng để tăng tốc độ chuyển là tăng tốc dữ liệu liên
tục. Đối với dữ liệu khơng liên tục, CPU phải mất thời gian xác định địa chỉ của đoạn dữ liệu cần đọc, sau đó tốn
thêm thời gian để đọc đoạn dữ liệu đó. Đối với dữ liệu liên tục, như vùng nhớ hình ảnh, tăng cường xác định địa
chỉ kế tiếp trong lúc đang đọc dữ liệu ở địa chỉ hiện hành. Một cách khác để chuyển dữ liệu liên tục, gọi là
multiplexing, là gấp đơi đường truyền bằng cách gửi dữ liệu xuống các đường địa chỉ. Sau cùng, mạch tăng tốc
PCI có thể lưu dữ liệu trong vùng đệm của nó, cho phép bộ tăng tốc đọc dữ liệu từ bộ nhớ đồng thời chuyển dữ
liệu cho thiết bị. Và bởi vì bus PCI tách biệt với CPU, tín hiệu của nó có thể cung cấp cho nhiều thiết bị hơn so
với bus VL.
PCI là một giải pháp mềm dẻo và tinh vi trên thị trường bus máy tính. PCI cho phép các nhà sản xuất
nhanh chóng thiết kế các loại PC khác nhau một cách đảm bảo.
3.Bo Mạch Chủ (Motherboard)
Trong số các thành phần cấu thành máy tính, nếu CPU là yếu tố quyết định khả năng và tốc độ xử lý
của hệ thống thì bo mạch chủ đóng vai trò tạo ra một mơi trường hoạt động ổn định cho tất cả các thiết bị khác,
kể cả CPU. Bản thân tên gọi motherboard cũng chứng tỏ điều này.
Bo mạch chủ, hay còn gọi là bo mẹ (motherboard) có ý nghĩa rất lớn trong cả hệ thống PC của bạn. Bạn
có thể là chủ nhân của ổ đĩa cứng SCSI nhanh nhất, đầu DVD/CD-ROM tân kỳ, 64 MB SDRAM DIMM, BXL
Pentium II 400MHz, card âm thanh Creative Sound Blaster Live, đồ họa Voodoo II và modem V.90 56kbps
nghĩa là những gì tốt nhất có thể.
Nhưng tất cả những thứ trên sẽ đều khơng có nghĩa lý nếu máy tính của bạn thường xun bị treo, chạy
chập chờn. Đây là cơn ác mộng của nhiều người dùng máy tính mà có lẽ ngun nhân chính là bạn đang có
một bo mạch chủ chất lượng kém.
Thật khơng có gì tồi tệ hơn khi bạn vừa hồn tất bản luận án 80 trang được trình bày tỷ mỉ với nhiều
hình ảnh minh họa, và ghi thực hiện động tác lưu cuối cùng, máy tính đột ngột đưa ra thơng báo lỗi "chết
người", đại loại như "khơng thể lưu lên đĩa cứng bởi ", và sau đó hồn tồn bất động trước mọi thao tác của
bạn. Chỉ còn cách cuối cùng là tắt máy rồi bật lại. Kết quả thật thảm hại: tập tin Word của bạn giờ đây chỉ là rỗng
tuếch với kích thước 0 byte. Tất cả những nỗ lực của bạn nhằm hồi phục lại tập tin đều vơ nghĩa. Cũng từ đây,
bạn mới hiểu được tác hại của một bo mạch chủ tồi.
-Bài học về tốc độ
Đối với người tự lắp ráp máy tính, điều quan trọng là phải chọn đúng bo mạch chủ. Bởi nếu có trục trặc
sau này, bạn phải tự mình xoay sở lấy mà khơng có sự hỗ trợ kỹ thuật nào. Bạn có thể đẩy tốc độ bus PCI lên
đến 133MHz, nhưng khi đó đừng đòi hỏi nhà cung cấp đổi cho bạn bo khác trong trường hợp sự cố. Tốc độ
quan trọng, nhưng tính ổn định có ý nghĩa lớn hơn. Có gì hay ho khi bạn lái xe với tốc độ 200km/h để chỉ đi
được nửa quảng đường vì xe chết máy. Tốc độ của bo mạch chủ phải nhanh. Tuy nhiên sự ổn định và những
đặc tính khác như khả năng hỗ loại CPU, chế độ tiết kiệm năng lượng, các đầu kết nối I/O và kiểm sốt nhiệt
độ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo dưỡng hệ thống và đáng giá với chi phí bỏ ra.
Để minh họa, bạn hãy thử xem thử một máy server dùng cho LAN. Server và các phần mềm đi kèm
khơng chỉ mạnh về cấu hình, tính năng mà nó còn báo trước được những sự cố sắp xảy ra, cho dù đó là đĩa
cứng hay các vấn đề liên quan đến mạng, và thường là tự khắc phục chúng. Điều này cho thấy tầm quan trọng
12
của sự ổn định và độ tin cậy của một hệ thống. Bạn dể dàng nhận thấy là các máy PC xồng xĩnh thường có
nhiều thiết bị, tính năng phụ trợ bổ sung nhằm hấp dẫn người mua.
-Thử nghiệm thực tế
Chúng ta cùng xem xét một số bo mạch sử dụng chip "Klamath", Pentium II của Intel. Đây khơng phải là
những CPU mạnh nhất, và chúng sử dụng loại SDRAM DIMM 66MHz và thậm chí còn EDO DRAM
SIMM/DIMM. Các bo mạnh dựa trên bộ chip 82440LX này khơng hỗ trợ AGP và có giá thấp trong số các bo
mạch Slot 1. Các bo mạch mới loại Super Socket 7 (bus 100MHz) vừa được đưa ra có giá cao hơn. Loại bo
mạch tân tiến và nhanh nhất sử dụng bộ chip Intel 82440BX AGP có thể chạy ổn dịnh ở tốc độ 100MHz và hỗ
trợ AGP, SDRAM DIMM 100MHz và tính năng tự kiểm sốt. Nhưng đối với các bạn, người tự lắp ráp máy tính,
thì hay nhất có lẽ là đặc tính tự phát hiện và tự cấu hình được cài sẵn vào nhiều bo mạch loại BX, giúp bạn khỏi
phải khó nhọc với các jumper và switch DIP (dual in-line package).
Ngồi ra, các thiết bị ngoại vi được sử dụng cùng với bo mạch bao gồm: đĩa cứng Quantum Fireball
SE2 2,1 GB, 64MB SDRAM DIMM cho các bo mạch LX và 64MB SDRAM DIMM 100MHz theo chuẩn PC-100
cho bo mạch BX; Card AGP và 2D/3D; 24x CD-ROM
Vấn đề tồn tại chung cho tất cả các bo mạch, và khơng chỉ đối với các loại đang xem xét mà còn tất cả
bo mạch trước đây là sự khơng cẩn thận, lẫn lộn, đơi khi sai trong tài liệu và sơ đồ hướng dẫn. Thật khó để xác
định vị trí cắm đèn LED của đĩa cứng, và thậm chí cả cơng tắc nguồn. Điều này có thể do phần lớn các bo mạch
chủ đều được sản xuất tại Đài Loan, nơi mà tiếng Anh chưa phải thơng dụng.
Với người dùng PC, khơng có gì hạnh phúc hơn khi máy tính khởi động chuẩn xác. Nếu tất cả được cấu
hình đúng, trò chơi 3D sẽ chạy nhanh và trơn tru, các ứng dụng văn phòng được thực hiện nhịp nhàng, khơng
có sự trì trệ khó chịu. Hơn nữa, bạn có thể tin chắc rằng bo mạch của bạn đang kiểm sốt nhiệt độ và mọi hoạt
động của nó với sự chính xác và cẩn thận.
Bo mạch sử dụng bộ chip Intel 822440BX
Aristo AM-608BX
Được giới thiệu như một bo mạch tích hợp cao, gọn và có
giá hấp dẫn, Aristo AM-608BX hỗ trợ SDRAM và Registered
SDRAM, có đặc tính Super I/O, Ultra-DMA/33, PCI Bus
Master IDE, AGP version 1.0, tn thủ PCI version 2.1, USB,
theo chuẩn VRM 8.2, kiểm sốt hệ thống LM79/75 và
Creative sound (tùy chọn). Khe cắm Slot 1 có thể tiếp nhận
bất kỳ loại Pentium II nào từ 233 - 450MHz với tốc độ bus
66MHz hoặc 100MHz. Voltage Regulator Module (VRM)
được cài sẵn trên bo cho phép dễ dàng nâng cấp lên các bộ
xử lý OverDriver của Intel trong tương lai.
Bo mạch hỗ trợ đến 412MB SDRAM hay 1GB
Registered SDRAM với các khe DIMM 168 chân. SDRAM chỉ được hỗ trợ cho bus 66MHz. Có 4 khe DIMM (đủ
để nâng cấp bộ nhớ), 3 khe cắm ISA (1 dùng chung với PCI), một khe cắm AGP1 (hỗ trợ version 1.0, 1x/2x), và
4 khe cắm PCI Bus-Master. Bo mạch thuộc loại ATX (ATX form factor). BIOS hệ thống là loại flash có thể nâng
và có jumper để thay đổi điện áp 5V hay 12V. BIOS có thể nhận biết đĩa cứng loại LBA với dung lượng trên
8,4GB. Về khả năng quản lý năng lượng, Aristo hỗ trợ SMM, APM và ACPI.
Ngồi ra, còn có cơng tắc chuyển đổi dùng để tạm ngưng thao tác hệ thống (suspend/resume), Wake-
On-LAN (WOL), Wake-On-Ring (WOR) dùng cho modem và tn theo tiêu chuẩn Energy Star "green PC". Bo
Aristo AM608BX là loại PC97/98 và bao gồm cả tính năng kiểm sốt hệ thống.
AZZA PT-6IB
13
Đây là bo mạch nhanh thứ hai trong số các bo BX được xem xét (điểm PC WorldBench 98 là 172), và
thuộc loại tốt đối với tùy chọn giá thấp. Tuy nhiên, có vài vấn đề về setup và phải khởi động lại vài lần. Nhưng
sau khi thiết lập, bo mạch hoạt động bình thường.
Điều gây nhầm lẫn là hàng chân nối đèn tín hiệu của LED/power/HDD khơng có ký hiệu cho cực
dương/âm (+/-), buộc người dùng phải tự mò mẫm để thử.
Với một PCI Local Bus, PT-6IB là bo mạch loại ATX dựa trên
cơ sở bộ chip hệ thống 82440BX AGPset và Winbond I/O. Nó
bao gồm hai kênh PIO (Programmed Input/Output) và cổng
Ultra-DMA/33 Bus Master mode PCI IDE cài trên bo, một cổng
điều khiển đĩa mềm, hai cổng serial tốc độ cao (UART) và một
cổng parallel nhiều chế độ, hỗ trợ mouse PS/2, cổng hồng
ngoại IrDA và USB. AZZA có thể chạy với các chip Pentium II
từ 233 đến 450MHz với cấu trúc SEC.
Ngồi ra, PT-6IB còn có các đặc tính như mạch chỉnh điện áp,
hỗ trợ +1,8V DC đến +3,5V DC của CPU, kích thước từ có thể
là 8-, 16-, 32- và 64-bit, đường địa chỉ 32-bit. Trên bo có 3 khe
cắm DIMM 168 chân, cho phép tối đa 384MB bộ nhớ loại parity
và ECC (error correcting code). AZZA PT-6IB hỗ trợ tính năng
Wake-On-LAN và các chức năng Green (tiêu chuẩn mơi
trường).
DFI P2XBL
Bo mạch P2XBL được trang bị đế cắm CPU Slot 1 cho Pentium II các loại từ 266MHz đến 450MHz. PCI
Bus có thể thiết lập 66MHz hay 100MHz. Với 3 khe cắm dành cho bộ nhớ loại DIMM 168 chân, kích thước bộ
nhớ có thể đạt 384MB. Khe cắm mở rộng bao gồm: một dành riêng cho AGP, ba PCI, hai ISA và một chung cho
PCI/ISA. Tất cả khe cắm PCI và ISA có Bus Mastering. P2XBL hỗ trợ bộ nhớ EC và ECC.
Hệ thống kèm theo Desktop Management Interface (DMI) 2.0 được cài vào Award BIOS có thể nâng cấp.
Tiện ích này tự động ghi lại các thơng tin về cấu hình hệ thống và lưu
chúng vào "vùng DMI" (một phần trong BIOS Plug-and-Play của hệ
thống. DMI được thiết kế nhằm giúp việc bảo dưởng, sửa chữa, khắc
phục sự cố trở nên dễ dàng hơn. Kết nối I/O có sẵn trên bo mạch bao
gồm: hai cổng serial ND16C550 tương thích DB-9, một cổng parallel
SPP/ECP/EPP DB-25, một giao tiếp cho đĩa mềm hỗ trợ đến hai ổ đĩa
mềm loại 2,88MB, một cổng mouse PS/2 mini-DIN-6, một cổng bàn
phím PS/2 mini-DIN và một đầu nối Wake-On-LAN. Ngồi ra, bo mạch
còn có một cổng IrDA và hai USB.
Bộ điều khiển PCI Bus Master IDE cho phép hai giao tiếp PCI IDE hỗ trợ 4 thiết bị IDE. Bo mạch cũng
hỗ trợ Ultra-DMA/33 (chế độ Synchronous Ultra DMA/33), Enhanced IDE PIO Mode 3 và Mode 4 với tốc độ
truyền 16,6MB/s, ATAPI CD-ROM và LS-120 và Iomega ZIP. DFI P2XBL còn có đầu cắm cho Creative SB-Link
để kết nối giữa bo hệ thống và card Creative SB PCI. Bo mạch này có khả năng theo dõi và điều khiển nhiệt độ
làm việc và hoạt động của quạt thơng gió.
P2XBL đạt 172 điểm trong thử nghiệm. Setup bo mạch dễ dàng và nó làm việc ổn định.
Elitergroup P6BX-A+
Đây là bo mạch nhanh nhất và cũng là một trong số những bo mạch nhiều tính năng nhất (điểm trắc
nghiệm 176). P6BX-A+ khơng chỉ chạy ổn định mà còn rất dễ setup, cả điện áp cho BIOS và xung nhịp đều
được tự động thiết lập. Tuy nhiên, tài liệu hướng dẫn còn chưa hồn hảo.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét