Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

đề xuất và lựa chọn chiến lược thị trường mới cho sản phẩm phần mếm


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đề xuất và lựa chọn chiến lược thị trường mới cho sản phẩm phần mếm": http://123doc.vn/document/1050658-de-xuat-va-lua-chon-chien-luoc-thi-truong-moi-cho-san-pham-phan-mem.htm


khoa học, dẫn đến rủi ro cao trong quá trình triển khai và thường
kéo dài tiến độ.
• Chưa có sự phối hợp với các đơn vị sản xuất phần cứng, dẫn đến đổ
thừa trách nhiệm cho nhau khi phần mềm xảy ra sự cố, gây khó
khăn cho khách hàng.
• Đội ngũ chuyên gia phần mềm bậc cao còn ít.
• Chưa có kinh nghiệm Marketing
• Chưa đủ năng lực tài chính để có thể tăng mức đầu tư cho các hoạt
động Marketing, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh.
Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh HCA cho thấy số
doanh nghiệp chi cho Marketing từ 10% đến 20% tính trên tổng chi phí chỉ
vào khoảng 27%. Thống kê này cũng cho thấy có đến 33% doanh nghiệp
có tổng chi phí cho cả đào tạo phát triển nguồn nhân lực lẫn chi cho nghiên
cứu phát triển chỉ dưới mức 5% so với tổng chi phí, và cũng chỉ có 27%
doanh nghiệp chi trên 10% cho các hoạt động này. Sự thiếu đầu tư nghiên
cứu thị trường, phát triển sản phẩm và nguồn nhân lực là nguyên nhân dẫn
đến năng lực cạnh tranh yếu của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam.
Hơn nữa, tâm lý “muốn làm tất cả từ A đến Z” với mong muốn kiếm siêu
lợi nhuận bán phần mềm đóng gói cho nhiều khách hàng đã khiến cho
không ít doanh nghiệp phần mềm Việt Nam không lượng đúng sức mình
khi tham gia thị trường phần mềm đóng gói rất cạnh tranh, mà bỏ qua thị
trường làm dịch vụ phần mềm còn khá rộng.
Về năng lực hoạt động của các doanh nghiệp phần mềm thì có khoảng
29% doanh nghiệp hoà vốn sau 2 năm thành lập. Đây là một tỉ lệ tương đối
tốt, nhưng cũng có tới 28% doanh nghiệp hoà vốn sau từ 3 đến 4 năm. Số
doanh nghiệp phần mềm có lãi hàng năm từ 10% đến 30% chiếm tỉ lệ 42%,
từ đó cho thấy đa số doanh nghiệp phần mềm có thể khẳng định sự thành
công ban đầu của mình. Tuy nhiên, chỉ có 13% doanh nghiệp phần mềm có
5
doanh thu cao hơn chi phí từ 30% đến 50%. Đây không phải là một tỉ lệ
khích lệ trong bối cảnh công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn
đầu phát triển. Thống kê cũng cho thấy các doanh nghiệp phần mềm quy
mô lớn thường đã có thời gian hoạt động trên 5 năm. Sự tăng tốc đều đến ở
giai đoạn sau năm hoạt động thứ 5 trở đi. Các doanh nghiệp này thường có
định hướng xây dựng thị trường, chuyên môn hoá cao, rất chuyên nghiệp
trong lĩnh vực gia công phần mềm và dịch vụ, từ đó qản bá được năng lực,
bước đầu xây dựng được thương hiệu riêng. Nhu cầu từ thị trường ngoài
nước hiện đang tăng trưởng mạnh, và doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn
càng có cơ hội kiếm được nhiều khách hàng. Với các cơ sở xây dựng được
5 năm qua, cộng thêm sự hỗ trợ của Nhà nước, chắc chắn giai đoạn tới sẽ
có sự bùng nổ phát triển của các doanh nghiệp phần mềm hàng đầu.
* Hoạt động phát triển nguồn nhân lực
Chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực công nghệ thông tin mấy năm qua đã bắt đầu phát huy tác dụng. Công
nghệ thông tin là một trong số các ngành được mở ở nhiều trường đại học
nhất hiện nay. Tất cả các trường đại học, cao đẳng dân lập và hầu hết các
trường đại học công lập về khoa học, kỹ thuật tại Việt Nam đều có đào tạo
cử nhân/ kỹ sư công nghệ thông tin. Hằng năm, lực lượng này có thể cung
ứng cho thị trường 7.000 – 10.000 chuyên viên công nghệ thông tin, gần
ngang với chỉ tiêu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đặt ra cho hệ thống
đào tạo chính quy tại các trường đại học.
Nhân lực phần mềm Việt Nam được đánh giá là năng động, thông
minh, có kiến thức cơ bản, có khả năng đào tạo nâng cao trình độ nhanh, dễ
thích nghi với điều kiện làm việc cường độ cao, và có giá nhân công thấp.
Tuy nhiên lao động Việt Nam phần lớn còn thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật
chuyên sâu và trình đột iếng Anh. Đặc biệt hiện nay công nghiệp phần
mềm Việt Nam rất thiếu các chuyên gia giỏi về quản trị dự án, thiết kế giải
pháp, quản trị Marketing, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, còn
6
bất cập, mất cân đối, chưa có nhiều giáo viên có kinh nghiệm thực tế làm
phần mềm; cơ sở phòng thí nghiệm, thiết bị cho đào tạo thực hành còn sơ
sài. Điều này khiến cho nhiều sinh viên tốt nghiệp còn thiếu hoặc yếu cả về
kiến thức chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường
công nghiệp.
Vì nhân lực được coi là chìa khoá cho sự phát triển của ngành công
nghiệp phần mềm vốn còn non trẻ của Việt Nam nên Nhà nước cần có
những chính sách ưu đãi cũng như nhiều biện pháp tích cực để nâng cao
chất lượng giáo dục nhân lực cho ngành phần mềm trong tương lai.
* Khái quát thị trường trong nước
Phần mềm là một bộ chương trình các chỉ thị điện tử ra lệnh cho máy
tính thực hiện một điều nào đó theo yêu cầu của người sử dụng. Chúng ta
không thể thấy hoặc sờ được phần mềm, mặc dầu ta có thể hiển thị được
chương trình trên màn hình hoặc máy in. Phần mềm có thể được ví như hồn
của máy tính mà phần cứng của nó được xem như phần xác.
Thị trường phần mềm Việt Nam có một khoảng trống rất lớn giữa
người tiêu thụ có nhu cầu về phần mềm tiếng Việt (cá nhân, các cơ quan, xí
nghiệp…) và những nhà lập trình sản xuất ra phần mềm phục vụ cho các
nhu cầu đó. Phần mềm máy tính là một sản phẩm đặc biệt không thể bày
bán và tiếp thị theo kiểu thông thường như các sản phẩm khác. Người mua
cần những thông tin chính xác và đầy đủ về các tính năng, đặc điểm, cách
sử dụng của chương trình hơn là dựa vào các giác quan của mình khi chọn
lựa. Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm đang kinh doanh phần mềm của
mình theo kiểu hàng hoá bình thường, chỉ chú trọng quảng cáo về cảm
quan hơn là cung cấp thông tin đầy đủ nên vẫn không thể làm cho nhiều
người biết về phần mềm của mình. Điều này dẫn đến tình trạng cung và cầu
không gặp nhau, phần mềm viết ra không bán được, còn người sử dụng thì
không biết mua phần mềm nào để dùng.
* Cung phần mềm
7
Thị trường phần mềm Việt Nam hienẹ nay được cung ứng bởi 2 lực
lượng chủ yếu là các doanh nghiệp phần mềm trong nước và các doanh
nghiệp phần mềm nước ngoài.
• Các doanh nghiệp phần mềm trong nước
Hiện này Việt Nam có khoảng hơn 2500 doanh nghiệp tham gia hoạt
động kinh doanh trong lĩnh vực phần mềm nhưng chỉ có khoảng hơn 700
doanh nghiệp là hoạt động thực sự. Phần lớn những doanh nghiệp phần
mềm này là những công ty có qy mô vừa và nhỏ, quy mô lớn chỉ chiếm rất
ít, khoảng 1% trong tổng số. Với năng lực quản lý và kinh doanh yếu kém,
trình độ nguồn nhân lực lại có hạn nên mặc dù chiếm ưu thế là số đông các
nhà cung ứng nhưng chỉ chiếm giữ được thị phần nhỏ so với các đối thủ
cạnh tranh nước ngoài của mình.
Khảo sát của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh HCA cho thấy có
69% số doanh nghiệp phần mềm chủ yếu định hướng thị trường trong nước
(thị trường trong nước chiếm từ 70% trở lên), và 28% số doanh nghiệp định
hướng thị trường ngoài nwocs (thị trường ngoài nước chiếm từ 70% trở
lên). Điều này phản ánh một thực tế phần nhiều doanh nghiệp phần mềm
Việt Nam chưa dám (hoặc chưa đủ sức) vươn ra thị trường nước ngoài, tuy
nhiên, nó cũng cho thấy hiện tại thị trường trong nước vẫn cần được xem là
thị trường quan trọng.
• Các doanh nghiệp phần mềm nước ngoài
Đây là những tập đoàn phần mềm lớn trên thế giới, có uy tín cũng như
kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh phần mềm nhiều năm. Sản phẩm phần
mềm của họ tiếp cận thị trường Việt Nam chủ yếu là phân phối gián tiếp,
thông qua các nhà nhập khẩu trung gian. Mặc dù số lượng các doanh
nghiệp phần mềm nước ngoài không nhiều nhưng họ lại chiếm được phần
lớn thị phần trong nước. Nguyên nhân là họ hơn các doanh nghiệp phần
mềm trong nước về mọi mặt, từ quy mô doanh nghiệp, khả năng tài
8
chính… cho đến các hoạt động nghiên cứu và triển khai Marketing. Có thể
kể đến một số nhà cung cấp phần mềm tên tuổi như Microsoft, Oracle…
* Cầu phần mềm
Hiện nay, phần lớn cầu thị trường phần mềm chủ yếu vẫn dựa vào sức
mua của các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước bao gồm các Tổng công ty
lớn, các cơ quan Chính phủ, các ngân hàng, trường học, bệnh viện hay
những tổ chức khác…
Khi quyết định sử dụng một phần mềm quản lý, doanh nghiệp thường
đứng trước nhiều sự lựa chọn. Bên cạnh những sự lựa chọn như sẽ sử dụng
phần mềm của nhà cung cấp giải pháp nào? Mức giá phần mềm như thế
nào thì phù hợp… Còn có một sự lựa chọn rất đáng quan tâm đó là nên
mua một phần mềm đóng gói hay là đặt hàng giải pháp theo yêu cầu của
mình và gửi đến một công ty nào đó. Phần mềm đóng gói cũng có những
cái hay, cái không hay mà phần mềm đặt hàng theo yêu cầu cũng thế. Vì sự
lựa chọn này sẽ có những tác động rất lớn trong quá trình khai thác và sử
dụng về sau nên doanh nghiệp cần thiết phải có những nguồn thông tin
tham khảo.
• Phần mềm đóng gói
Phần mềm đóng gói là một phần mềm được các nhà sản xuất đầu tư
nghiên cứu, tổng hợp từ những lần khảo sát nhu cầu thực tế các nghiệp vụ
hoặc một số lĩnh vực nào đó của doanh nghiệp. Từ những thông tin khảo
sát thu nhập các dữ liệu đồng thời kết hợp với những chuẩn mực, nghiệp vụ
đặc trưng của doanh nghiệp, nhà sản xuất sẽ tập hợp thành những điểm
chung và xây dựng nên một mô hình tổng thể, thống nhất khả dĩ thích ứng
với các doanh nghiệp ở một mức độ nào đó.
Phần mềm đóng gói có thể được phân ra thành hai nhóm chính: Nhóm
phần mềm thích ứng sử dụng được ở tất cả các ngành nghề và nhóm phần
mềm chuyên dụng cho những ngành nghề riêng. Đối với nhóm thứ nhất,
các phần mềm đóng gói thường chỉ đáp ứng một phần nhỏ trong toàn bộ
9
các hoạt động của doanh nghiệp ví dụ: các phần mềm đóng gói như phần
mềm bán hàng, quản lý nhân sự, quản lý công nợ…. Đối với nhóm thứ hai,
các phần mềm có phạm vi ứng dụng lớn hơn trong một doanh nghiệp hoạt
động trong nhóm ngành nghề đó. Ví dụ: các phần mềm đóng gói phục vụ
quản lý cho ngành may mặc, xây dựng… Phần mềm đóng gói cũng giống
như các sản phẩm tiêu dùng khác, nghĩa là khi doanh nghiệp mua về sẽ
mang vào sử dụng mà ít được quyền yêu cầu chỉnh sửa những gì đã có và
chỉ sử dụng những tiện ích đang có mà thôi.
• Phần mềm đặt hàng theo yêu cầu
Số lượng doanh nghiệp đặt hàng phần mềm theo những yêu cầu riêng,
xuất phát từ thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh rất lớn. Có một thực tế
là đa số phần mềm đóng gói chỉ giải quyết được một phần nào đó trong
hàng loạt yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc đặt hàng
phần mềm cho một nhà cung cấp giải pháp, doanh nghiệp sẽ nhận được
những hỗ trợ khá chu đáo trong quá trình triển khai ứng dụng vào công tác
bảo trì, nâng cấp phần mềm…
Phần mềm đặt hàng theo yêu cầu sẽ được các nhà cung cấp thiết kế,
xây dựng thích ứng những đặc điểm, quy trình hoạt động mà doanh nghiệp
đang áp dụng. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ tiếp cận với các tiện
ích của phần mềm. Quy trình sản xuất, kinh doanh không bị xáo trộn nhiều.
Vì những lợi ích mang tính thiết thực và gần gũi như thế nên các nhà cung
cấp giải pháp thường tính giá khá cao, thêm vào đó là các chi phí về triển
khai, nâng cao ứng dụng trong tương lai và thường thì, doanh nghiệp có thể
phải đặt mối liên hệ lâu dài với nhà cung cấp phần mềm…
Phần mềm đặt hàng cũng có nhiều hình thức. Có loại chỉ đáp ứng và
chuyên sâu cho một lĩnh vực hoạt động nào đó, có loại thì bao quát và hỗ
trợ tổng thể toàn bộ quy trình quản lý và các công đoạn sản xuất kinh
doanh cho doanh nghiệp.
STT Tiêu chí Phần mềm đóng gói Phần mềm đặt hàng
10
1 Đặc điểm
1. Hướng đến những nghiệp
vụ chức năng mang tính
tổng quát, chung của các
doanh nghiệp
2. Giải quyết những vấn đề
mang tính chung đó, khó đi
sâu và bao quát hết tất cả
những đặc điểm của đa số
doanh nghiệp.
3. Có thể áp dụng được
nhiều nơi, rộng khắp cho
nhiều ngành, nhiều công ty.
4. Thời gian triển khai ít, dễ
cài đặt, sử dụng, với một hệ
thống công cụ giúp đỡ và
không phức tạp lắm về mặt
chức năng.
1. Đa phần chỉ hướng đến
và đáp ứng những nhu
cầu đang có của khách
hàng.
2. Giải quyết triệt để
những yêu cầu đó.
3. Thường chỉ đáp ứng
riêng cho đơn vị đặt
hàng, còn rất khó đáp
ứng cho các doanh
nghiệp khác.
2
Mục đích
ứng dụng
Hướng đến nhiều doanh
nghiệp, các nghiệp vụ
chuẩn, mang tính chung.
Hướng đến nhu cầu cụ
thể, thực tế của một
doanh nghiệp.
3
Khả năng
ứng dụng
Giải quyết được một phần
nào đó trong số các nhu
cầu.
Giải quyết khá triệt để
các yêu cầu của doanh
nghiệp đặt hàng.
4
Phạm vi
ứng dụng
Rộng, nhiều ngành… Hẹp, thường chỉ một
doanh nghiệp.
5
Giá cả,
chi phí
Rẻ hơn, ít hơn. Đắt hơn, nhiều hơn
6 Sự hỗ trợ Ít hơn, kém hơn. Nhiều hơn, tốt hơn.
7
Khả năng
phát triển
Cập nhật theo phiên bản Có thể thực hiện ngay.
11
Bảng so sánh giữa phần mềm đóng gói và phần mềm đặt hàng
(Nguồn: Theo tạp chí Tin học và Đời sống)
Chọn phần mềm đóng gói hay sẽ đặt hàng giải pháp cho một nhà sản
xuất phần mềm nào đó? Đây là một trong những vướng mắc thường xuất
hiện khi doanh nghiệp đặt ra nhu cầu tin học hoá hay ứng dụng phần mềm
phục vụ công tác quản lý, điều hành. Cả hai đều có những điểm mạnh,
điểm yếu riêng vì thế sẽ có những tác động khác nhau đối với doanh
nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực nhỏ, hẹp với
quy mô không lớn với các nghiệp vụ, chức năng hoạt động ổn định, theo
chuẩn mực như: bán hàng, dịch vụ kho bãi, xuất nhập khẩu… vì mức đầu
tư cho các phần mềm quản lý có thể không nhiều, nên hướng đến các giải
pháp đóng gói. Điều đó sẽ giúp cần đối giữa vấn đề chi phí và hiệu quả
khai thác phần mềm. Đối với các doanh nghiệp có quá nhiều điểm riêng
biệt trong hoạt động và có thể thay đổi quy trình bất cứ lúc nào thì nên
hướng đến việc sử dụng phần mềm đặt hàng theo yêu cầu quản lý cho một
nhà cung cấp giải pháp nào đó đồng thời thiết lập một kênh quan hệ với
nhà cung cấp giải pháp này.
Tuy nhiên, để thích ứng với nhu cầu của thị trường các nhà cung cấp
giải pháp ngày nay bên cạnh phân ra các sản phẩm đóng gói và các phần
mềm sản xuất theo đơn đặt hàng thì họ đã tích cực kết hợp hai phân loại
này thành một thể thống nhất và linh động hơn. Nghĩa làm họ vừa là sản
phẩm đóng gói, đưng đồng thời cũng bỏ ra một khoản đầu tư thích ứng để
các sản phẩm đóng gói đó sau một số bước chỉnh sửa, cập nhật sẽ trở thành
một sản phẩm dưới dạng phần mềm theo đơn đặt hàng. Điều này vừa giúp
ích cho nhà sản xuất đồng thời cũng mang lại cho người dùng nhiều tiện
ích thuận lợi và dễ dàng hơn trong vấn đề lựa chọn phần mềm.
* Khái quát thị trường ngoài nước (xuất khẩu phần mềm)
12
Đối với thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
chủ yế cung cấp dịch vụ software outsourcing – gia công phần mềm. Một
số doanh nghiệp muốn tham gia thị trường gia công phần mềm cần phải
đầu tư nghiên cứu phát triển để có được một trình độ chuyên môn sâu, hiểu
rõ quy trình nghiệp vụ để phân tích và thực hiện đúng yêu cầu của bài toán
đặt ra, đồng thời phải có một quy trình đảm bảo chất lượng đáp ứng được
yêu cầu của đối tác. Doanh nghiệp phần mềm hoàn toàn có thể thông qua
các dự án làm gia công phần mềm cho đối tác nước ngoài để nâng cao năng
lực sản xuất, khả năng nghiên cứu phát triển và quy trình quản lý chất
lượng, từ đó có thể xây dựng được thương hiệu, khẳng định vị trí của mình
trên thị trường. Kinh nghiệm của Ấn Độ, Ailen, Trung Quốc cho thấy các
doanh nghiệp phần mềm lớn của các quốc gia này đều đi lên từ cung cấp
dịch vụ phần mềm (gia công phần mềm) chứ không phải là làm phầm mềm
đóng gói. Thực tế, ở Việt Nam các doanh nghiệp phần mềm lớn và thành
công hiện nay cũng đều là những doanh nghiệp định hướng làm gia công
phần mềm cho nước ngoài.
Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế xếp hạng thứ 20 trong số 25
các quốc gia hấp dẫn về gia công phần mềm. Nếu như các doanh nghiệp
định hướng thị trường nội địa gặp khó khăn về thông tin (thiếu việc làm),
thì khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp định hướng thị trường gia công
phần mềm lại không phải là thiếu việc làm mà thiếu người làm. Quan tâm
hàng đầu của doanh nghiệp phần mềm làm gia công phần mềm là phát triển
nguồn nhân lực và nâng cao quy trình quản lý chất lượng. Các thị trường
lớn của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam hiện nay là Bắc Mỹ và Nhật
Bản, trong đó Nhật Bản đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm do sự
quan tâ của Chính phủ và doanh nghiệp Nhật đốiv ới doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam, cũng như các thuận lợi về văn hoá, địa lý. Hiện nay quan
tâm chung lớn nhất của các doanh nghiệp phần mềm để phát triển thị
trường nước ngoài là hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng hình ảnh hương
13
hiệu chung cho công nghiệp phần mềm Việt Nam trên trường quốc tế, ưu
tiên thứ hai là tổ chức các hội trợ triển lãm quốc tế về phần mềm ở Việt
Nam thay vì tham gia các cơ hội triển lãm ở nước ngoài.
* Vấn đề sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm
Theo khảo sát đánh giá của Liên minh phần mềm thương mại (BSA),
hiện nay Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh
vực phần mềm cao nhất thế giới (95% năm 2002; 92% năm 2004). Sự vi
phạm sở hữu trí tuệ xảy ra trong hầu hết các môi trường, từ người dùng cá
nhân, doanh nghiệp và thậm chí cả trong các cơ quan Nhà nước. Vi phạm
sở hữu trí tuệ không chỉ xảy ra đối với các phần mềm nước ngoài có giá
bản quyền khá cao so với thu nhập bình quân của Việt Nam, mà cũng xảy
ra đối với các sản phẩm trong nước với mức giá khá hợp lý. Sự vi phạm sở
hữu trí tuệ về phần mềm gây ra nhiều tác động xấu về mặt kinh tế cũng như
xã hội, tuy nhiên cho đến nay tình trạng này vẫn chưa được cải thiện.
* Một số Công ước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Tính cho đến nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của 3 tổ chức
lớn trên thế giới về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Bao gồm:
• Công ước Stockholm
Đây là Công ước về việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, ký
tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967, tên viết tắt là WIPO. WIPO có
trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế
giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp
ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp luật và quản lý sở hữu trí
tuệ. Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02 tháng 7 năm 1976.
• Công ước Paris
Công ước này được ký tại Paris năm 1883, tính đến ngày 22 tháng 06
năm 1999 đã có tới 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành thành viên
của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08 tháng 03
năm 1949.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét