LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh quang trung": http://123doc.vn/document/1047757-phat-trien-hoat-dong-thanh-toan-quoc-te-theo-phuong-thuc-tin-dung-chung-tu-tai-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-chi-nhanh-quang-trung.htm
tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước,
khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá.
Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.
Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng.
Nó không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không
thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
- Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm
được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát
triển thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ
chế thị trường.
- Thứ hai, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể đẩy
mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động
tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan
hệ Thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
- Thứ ba, giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó Ngân
hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ
Ngân hàng quốc tế khác.
- Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng tăng tính thanh
khoản thông qua lượng tiền ký quỹ. Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an
toàn của từng khách hàng cụ thể (thường là 100 %) Vì vậy trong thời gian chờ
đợi thanh toán, ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
khi cần thiết, thậm chí có thể sử dụng để kinh doanh,đầu tư ngắn hạn để kiếm
lời.
- Hơn thế nữa, hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp Ngân hàng đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.
Có thể nói, trong xu thế ngày nay hoạt động Thanh toán quốc tế có vai trò
hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh tế đối
ngoại nói chung. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế
để có biện pháp thực hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn
cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2 Các phương thức trong thanh toán quốc tế
Quan hệ thanh toán quốc tế tiến hành thông qua các phương thức thanh
toán. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và
thanh toán quốc tế người ta đã đưa ra các phương thức thanh toán khác nhau
như: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng
chứng từ. Tùy theo những điều kiện cụ thể cũng như khác nhau mà người ta sẽ
lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp.
1.1.2.1 Phương thức chuyển tiền
Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán mà một khách
hàng (người trả tiền)yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất
định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
Các bên tham gia thanh toán bao gồm: người yêu cầu chuyển tiền: thường là
người nhập khẩu, người mắc nợ hoặc người có nhu cầu chuyển vốn. Người
hưởng lợi là người được người chuyển tiền chỉ định, và thường là nhà xuất khẩu
hoặc là các chủ nợ. Ngoài ra còn có ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền là
ngân hàng phục vụ người chuyển tiền và ngân hàng đại lý cho ngân hàng chuyển
tiền là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người hưởng lợi.
Sau khi người xuất khẩu chuyển giao hàng hóa và bộ chứng từ hàng hóa cho
nhà nhập khẩu, người nhập khẩu sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa( hoặc chứng từ
hàng hóa) nếu thấy phù hợp yêu cầu của hai bên, lập tức chuyển tiền gửi tới ngân
hàng phục vụ mình. Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền tiến hành thủ tục
chuyển tiền qua ngân hàng đại lý để ngân hàng này chuyển tiền trả cho người
hưởng lợi và báo nợ cho người chuyển tiền.
Phương thức chuyển tiền được tiến hành bằng hình thức chuyển tiền thư
(mail transfer – M/T) và chuyển tiền điện (telegraphic transfer – T/T). Chuyển
tiền điện ngày nay thực hiện thông qua hệ thống SWIFT giúp thông tin được
chuyển nhanh chóng, an toàn. Đối với M/T, chi phí thấp nhưng chậm hơn, còn
đối với T/T thì ngược lại. Vì vậy tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà khách hàng
có thể chọn cho mình hình thức chuyển tiền phù hợp.
Đây là một phương thức thanh toán đơn giản về thủ tục và thanh toán tương
đối nhanh. Nhưng trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò trung gian đơn
thuần vì vậy việc bên bán có nhận được tiền hay không hoàn toàn phụ thuộc vào
bên mua. Vì vậy quyền lợi bên bán không được đảm bảo.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.2 Phương thức nhờ thu (collection of payment)
Phương thức nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi chuyển hàng
hóa hay cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình
thu hộ tiền của người mua trên cơ sở hối phiếu mà người bán lập ra.
Các bên tham gia bao gồm: người ủy thác thu (người hưởng lợi): là bên bán;
người trả tiền là bên mua; ngân hàng nhận ủy thác thu: ngân hàng phục vụ bên
bán; ngân hàng đại lý (ngân hàng thu tiền): ngân hàng phục vụ bên mua.
Có hai loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu có chứng từ. Nhờ thu
phiếu trơn là phương thức thanh toán trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng
thu hộ tiền người mua dựa vào hối phiếu do mình lập ra, còn các chứng tù hoàng
hóa thì gửi thẳng vào cho người mua, không qua ngân hàng.
Phương thức nhờ thu phiếu trơn cũng không đảm bảo quyền lợi thực sự cho
bên bán vì việc nhận hàng và thanh toán tiền hàng của bên mua không có sự ràng
buộc nhau. Mặt khác bên mua cũng gặp bất lợi, khi hối phiếu trả tiền đến trước,
người mua phải trả mà chưa biết hàng hóa chuyển đến có đạt yêu cầu hay không.
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó bên bán ủy
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ
vào hối phiếu, mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm, với yêu cầu là
ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ hàng hóa cho người mua sau khi họ đã thanh
toán tiền hoặc ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.3 Phương thức tín dụng chứng từ
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Thư tín dụng có những tên gọi khác nhau: Letter of credit:
LOC, LC, L/C; Documentary credit: DC, D/C; Documentary letter of
credit.Credit (được định nghĩa trong UCP 600). Thư tín dụng là một văn bản
pháp lý được phát hành bởi một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng),
nhằm cung cấp một sự bảo đảm trả tiền cho một người thụ hưởng trên cơ sở
người thụ hưởng phải đáp ứng các điều khoản trong tín dụng thư. Điều này có
nghĩa là: Khi một người thụ hưởng hoặc một ngân hàng xuất trình (đại diện của
người thụ hưởng) thỏa mãn ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận trong
khoảng thời gian có hiệu lực của LC (nếu có).
1.2 Thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1 Khái niệm chung về phương thức tín dụng chứng từ
Để tìm hiểu rõ hơn về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng
từ, đầu tiên sẽ xem xét đến những vấn đề chung nhất của phương thức tín dụng
chứng từ như khái niệm, các bên tham gia, cũng như quy trình tiến hành.
1.2.1.1 Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ
Theo định nghĩa trong bản “qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ” (Uniform customs and practive for documentary credit – 1993 – UCP
– N
0
500) thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là “một sự thỏa thuận
trong đó một ngân hàng ( ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của một
khách hàng (người xin mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người thứ ba hoặc trả cho
bất cứ người nào theo lệnh của người thứ ba đó hoặc sẽ trả, chấp nhận mua hối
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc cho phép một ngân hàng khác trả tiền,
chấp nhận hay mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đã qui định và
mọi điều kiện đặt ra đều thực hiện đầy đủ”.
1.2.1.2 Các bên tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ.
Có 4 bên tham gia chính thức vào quá trình thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ là: người yêu cầu mở thư tín dụng; người hưởng lợi; ngân hàng
mở thư tín dụng; ngân hàng thông báo.
Bên thứ nhất là người yêu cầu mở thư tín dụng ( applicant): là người nhập
khẩu hay người mua hàng hóa, dịch vụ.
Bên thứ hai là người hưởng lợi ( beneficiary): là người xuất khẩu, người
bán hay là người được hưởng lợi chỉ định.
Bên thứ ba là ngân hàng mở thư tín dụng (issuing bank): là ngân hàng đại
diện cho người nhập khẩu.
Bên thứ tư là ngân hàng thông báo (advising bank): là ngân hàng ở bên
nước xuất khẩu, người hưởng lợi.
1.2.1.3 Qui trình nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Ngân hàng mở thư
tín dụng
Issving bank
Người xuất
khẩu
Người nhập
khẩu
Ngân hàng thông
báo
Advising Bank
(3)
(7)
(6)
2 8 4 5 7
(5)
(1)
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Sơ đồ trình tự nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ
(1) Trong quá trình thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu,
người xuất khẩu và người nhập khẩu phải tiến hành ký hợp đồng
thương mại với nhau.
(2) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, làm đơn xin mở
Thư tín dụng (L/C) cho người xuất khẩu hưởng tại ngân hàng phục vụ mình.
(3) Căn cứ vào nội dung đơn xin mở thư tín dụng, nếu đáp ứng yêu cầu,
ngân hàng mở sẽ lập thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở
nước người xuất khẩu, thông báo về việc mở thư tín dụng và chuyển 1 bản chính
của thư tín dụng đến người xuất khẩu.
(4) Khi nhận được thông báo về việc mở thư tín dụng và bức thư thu tín
dụng, ngân hàng thông báo sẽ thông báo vầ chuyển ngay thư tín dụng cho người
xuất khẩu.
(5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì giao
hàng, nếu không thì đề nghị ngân hàng mở sửa đổi và bổ sung lại thư cho phù
hợp nội dung hợp đồng rồi giao hàng hóa.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
(6) Sau khi giao hàng hóa người xuất khẩu lấy bộ chứng từ thanh toán theo
qui định của thư tín dụng qua ngân hàng thông báo, xuất trình cho ngân hàng mở
để yêu cầu được thanh toán tiền.
(7) Ngân hàng mở kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp thì
tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu không phù hợp với qui định trong thư
tín dụng thi từ chối thanh toán và gửi lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(8) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ
chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu.
(9) Người nhập khẩu kiểm tra toàn bộ chứng từ nếu thấy phù hợp sẽ tiến
hành trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu không thấy phù hợp cũng có
quyền từ chối trả tiền.
Thư tín dụng là một phương tiện quan trọng của phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ. Vì nếu không mở được thư tín dụng thì phương thức này cũng
không thể được xác lập và người xuất khẩu sẽ không thể giao hàng cho người
nhập khẩu. Vì thế để tìm hiểm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ta
cần tìm hiểm về thư tín dụng: nội dung cơ bản của thư tín dụng; các loại thư tín
dụng,
1.2.2 Nội dung cơ bản của thư tín dụng
1.2.2.1 Khái niệm về thư tín dụng
Thư tín dụng cũng là một văn bản pháp lý, do Ngân hàng lập ra trên cơ sở
yêu cầu của khách hàng, trong đó Ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
lợi nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín
dụng.
1.2.2.2 Vai trò của thư tín dụng
Thư tín dụng là một văn bản mang tính pháp lý nó là căn cứ pháp lý để
Ngân hàng quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở
để người mua có trả tiền cho Ngân hàng hay không. Ngoài ra thư tín dụng là một
công cụ hiệu quả trong việc cụ thể, chi tiết, hoàn thiện hoá những nội dung mà
hợp đồng chưa bàn tới, khắc phục những sai sót, những điều khoản không có lợi
trong hợp đồng nếu xét thấy việc huỷ hợp đồng là có lợi.
Thư tín dụng có vai trò rất quan trọng như vậy vì tuy được thành lập trên cơ
sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng
mua bán.Điều này có nghĩa là khi thanh toán, các ngân hàng chỉ căn cứ vào các
bộ chứng từ phù hợp mà thôi. Tính chất độc lập tương đối của thư tín dụng đã
chi phối toàn bộ các khâu của quá trình thanh toán, quy định toàn bộ nghĩa vụ
của các bên tham gia.
Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những
phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro
cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng.
1.2.2.3 Những nội dung chủ yếu của thư tín dụng (L/C):
+ Số hiệu của L/C : dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ
chứng từ thanh toán( hối phiếu…); nhằm tạo điều kiện thuận tiện trong việc trao
đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình thực hiện.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Địa điểm phát hành: là nơi ngân hàng phát hành L/C viết cam kết cho
người thụ hưởng, là địa điểm có liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng
giải quyết xung đột, bất đồng xảy ra ( nếu có).
+ Ngày mở thư tín dụng: là ngày bắt đầu phát sinh và tính hiệu lực của L/C,
là ngày có hiệu lực về cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng đối với người thụ
hưởng, ngày ngân hàng chính thức chấp nhận dơn xin mở thư tín dụng của người
nhập khẩu, là ngày phát sinh trách nhiệm không hủy ngang của người nhập khẩu
đối với thanh toán. Đây cũng là mốc để nhà xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập
khẩu có mở L/C đúng thời gian cam kết hay không?
+ Tên và địa chỉ của các bên liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ
như: người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C; ngân hàng mở L/C; ngân
hàng thông báo L/C; ngân hàng trả tiền (nếu có); ngân hàng xác nhận (nếu có).
+ Số tiền của thư tín dụng ghi bằng chữ, số phải thống nhất với nhau. Nếu
có sự khác nhau thì người thụ hưởng phải làm thủ tục sửa đổi cùng với tiêu
chuẩn quốc tế. Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối, vì như vậy sẽ
có thể khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán, tốt nhất là ghi
một số giới hạn mà người bán có thể đạt được.
+ Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở thư tín dụng cam
kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người này xuất trình được bộ chứng từ
trong thời hạn đó và phù hợp với qui định trong thư tín dụng. Thời hạn hiệu lực
của thư tín dụng tính từ ngày mở đến hết hiệu lực của thư tín dụng.
SV: Phạm Thị Tâm Trang Lớp: TCDN 46A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét