Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

ứng dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền trong định giá công ty cổ phần bibica


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "ứng dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền trong định giá công ty cổ phần bibica": http://123doc.vn/document/1053383-ung-dung-phuong-phap-chiet-khau-dong-tien-trong-dinh-gia-cong-ty-co-phan-bibica.htm


- Đánh giá giá trị các tài sản và giá trị của yếu tố tổ chức – các mối quan
hệ
- Lượng hóa các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu
tư.
1.2.2. Sự cần thiết của định giá doanh nghiệp
Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu định giá doanh nghiệp càng nảy sinh
một cách tự nhiên từ nhiều đối tượng trong nền kinh tế.
Trên thế giới, xuất phát ban đầu của nhu cầu định giá doanh nghiệp là từ
quá trình mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp. Giống như
mua bán một mặt hàng bình thường, người ta phải xác định giá trị của nó để có
được giá cả phù hợp. Đây là giao dịch diễn ra có tính chất thường xuyên và phổ
biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về đầu tư trực tiếp vào sản xuất
kinh doanh, cũng như yêu cầu để tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong
môi trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau, sáp nhập
hoặc chia tách để tận dụng lợi thế của nhau về thị trường, nhân lực, vốn… để
vững chắc và lớn mạnh trên thị trường. Giá trị của doanh nghiệp được đánh giá
trên một phạm vi lớn có tính đến tất cả các yếu tố tác động tới doanh nghiệp. Vụ
mua bán, sáp nhập, chia tách diễn ra dựa trên cơ sở giá trị doanh nghiệp đã
thương thuyết giữa các bên.
Đặc biệt, trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định giá
trị doanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành chuyển
đổi loại hình sở hữu như cổ phần hóa, sáp nhập, hợp nhất, giao bán khoán và cho
thuê.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
5
Xét các đối tượng trong nền kinh tế có liên quan đến nhu cầu định giá
doanh nghiệp, đó là những nhà đầu tư, người cung cấp, bản thân nhà quản trị
doanh nghiệp và các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô.
- Đối với nhà đầu tư, người cung cấp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
cho sự đánh giá tổng quát về khả năng tài chính, uy tín kinh doanh, rủi ro và vị
thế tín dụng. Từ đó, nhà đầu tư có quyết định có tiếp tục đầu tư, nhà cung cấp có
tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào, cấp tín dụng cho doanh nghiệp nữa hay
không. Giá trị doanh nghiệp quyết định giá cả cổ phiếu trên thị trường. Nếu nhà
đầu tư định giá được đúng giá trị của doanh nghiệp thì sẽ thu được lợi suất đầu
tư mong muốn.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
giúp các nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi đưa ra các quyết định về kinh
doanh và tài chính có liên quan đến doanh nghiệp. Từ giá trị doanh nghiệp của
mình, họ sẽ có cơ sở để so sánh giá trị đó với doanh nghiệp khác, từ đó thấy
được vị trí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Quyết định
kinh doanh đúng đắn của các nhà quản trị phải dựa trên nhận thức sâu sắc về vị
trí và những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp mình.
- Đối với các nhà quản lý, hoạch định kinh tế vĩ mô: Trên phương diện
quản lý vĩ mô, thông tin về giá trị doanh nghiệp là một căn cứ quan trọng để các
nhà hoạch định chính sách, các tổ chức đánh giá tính ổn định của nền kinh tế,
của thị trường, nhận dạng hiện tượng đầu cơ, thao túng thị trường… Theo dõi sự
biến đổi giá trị doanh nghiệp sẽ rất hữu ích trong việc dự báo sự thay đổi của thị
trường.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
6
Như vậy, định giá doanh nghiệp đang ngày càng trở nên không thể thiếu
trước sự tăng trưởng kinh tế, khi mà số lượng các doanh nghiệp mua bán, sáp
nhập, cổ phần hóa đang nhiều dần lên, cùng với nhu cầu thông tin từ nhiều đối
tượng trong nền kinh tế.
1.3. Định giá doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu dòng tiền
1.3.1. Định nghĩa phương pháp chiết khấu dòng tiền
Nguyên lý của phương pháp chiết khấu dòng tiền là giá trị của một doanh
nghiệp bằng tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp không chỉ có ở thời điểm hiện
tại mà còn tính đến tài sản có thể sinh ra trong tương lai.
Cơ sở của nguyên lý trên dựa trên lý luận cho rằng nhà đầu tư bỏ tiền vào
doanh nghiệp là để hưởng lợi nhuận mà doanh nghiệp làm ra. Do đó họ phải
tính đến những khoản lợi nhuận có thể thu được trong tương lai.
Quá trình sản xuất kinh doanh là một quá trình phát sinh các dòng tiền vào và
dòng tiền ra. Trong đó, dòng tiền của doanh nghiệp được hiểu là các khoản chi
và thu được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong thời gian
tồn tại của doanh nghiệp. Bản chất của hoạt động đầu tư là bỏ vốn trong một
khoảng thời gian dài, nhiều rủi ro. Theo nguyên lý giá trị thời gian của tiền, một
đồng vốn bỏ ra đều có chi phí cơ hội nhất định, các dòng tiền bằng nhau trong
các thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau. Do vậy, giá trị hiện tại của các
dòng tiền hiện tại và tương lai được coi là tiêu chuẩn thích hợp để định giá doanh
nghiệp.
Từ đó, phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể định nghĩa như sau:
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
7
Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp bằng cách chiết khấu các dòng tiền doanh nghiệp sẽ thu được trong
tương lai về thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
Phương pháp chiết khấu dòng tiền đã xem xét doanh nghiệp trong trạng thái
động, xem xét các tài sản trong doanh nghiệp trong một thể thống nhất, cùng
nhau tạo nên giá trị của doanh nghiệp.
1.3.2. Các bước thực hiện định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền
1.3.2.1. Bước 1: Đánh giá môi trường và năng lực nội tại của doanh nghiệp
 Mục tiêu đánh giá:
Việc đánh giá các yếu tố môi trường và năng lực nội tại của doanh nghiệp
nhằm cung cấp thông tin để xây dựng các giả thuyết về dòng tiền trong tương lai
và đánh giá độ rủi ro khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
 Yêu cầu của đánh giá:
Khi đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài có tác động tới doanh nghiệp và
các yếu tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp phải đạt được các yêu cầu sau:
- Chỉ ra được những cơ hội thuận lợi, những nguy cơ đe dọa từ phía môi
trường kinh doanh
- Xác định được các điểm mạnh, điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh và
khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước sự tác động của các yếu tố môi
trường.
 Phương pháp đánh giá:
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
8
- Thu thập thông tin: Thông tin được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau:
chính sách của Nhà nước, văn bản luật, tạp chí chuyên ngành, các tổ chức
chuyên nghiệp, ngân hàng, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán của doanh
nghiệp…
- Phương pháp đánh giá thường được sử dụng là phương pháp xếp hạng cho
điểm hay còn gọi là phương pháp chuyên gia.
 Nội dung đánh giá
Bước 1 gồm hai phần chính:
- Phần 1: Đánh giá môi trường bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: Môi
trường kinh tế vĩ mô và môi trường ngành mà doanh nghiệp có hoạt động
sản xuất kinh doanh.
- Phần 2: Đánh giá môi trường nội bộ của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố
về tài sản, uy tín của doanh nghiệp, trình độ quản lý và trình độ của nhân
viên, chất lượng của sản phẩm, mạng lưới phân phối…
Phần 1: Đánh giá môi trường bên ngoài của doanh nghiệp.
i) Môi trường vĩ mô
• Môi trường kinh tế
Doanh nghiệp là một phần trong nền kinh tế do đó bối cảnh kinh tế luôn có
tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thường được sử
dụng để đánh giá kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu
dùng, lãi suất, các chỉ số trên thị trường chứng khoán… Sự thay đổi của các yếu
tố này sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
9
• Môi trường chính trị
Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động sản xuất và kinh doanh ổn định trong một
môi trường chính trị ổn định. Môi trường chính trị ổn định liên quan mật thiết
đến luật pháp, đến các quan điểm của nhà nước và ý thức của người dân. Môi
trường kinh tế - chính trị là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp có thể hoạt động.
• Môi trường văn hóa – xã hội
Môi trường văn hóa đặc trưng bởi những quan niệm, lối sống, đạo đức… ảnh
hưởng đến thói quen tiêu dùng của dân cư, và sự đón nhận của họ đối với doanh
nghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Môi trường xã hội thể hiện về mặt dân số, trình độ dân trí, cơ cấu dân số, mật
độ, thu nhập bình quân… tác động đến nhu cầu, chiến lược marketing… của
doanh nghiệp.
• Môi trường khoa học công nghệ
Tác động của khoa học – công nghệ lên quy trình sản xuất, phương thức tổ chức
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày nay, yêu cầu của cuộc sống đòi hỏi
các sản phẩm phải đa dạng, đảm bảo chất lượng, hình thức. Đây là một thách
thức của doanh nghiệp để cạnh tranh, tồn tại phải thích ứng trước những bước
phát triển mới của khoa học và công nghệ.
ii) Môi trường ngành
+ Đánh giá cung cầu thị trường
Cung cầu của thị trường cho biết độ lớn của thị trường hiện tại và tiềm
năng phát triển của thị trường trong tương lai.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
10
Cung được xác định dựa trên số lượng các doanh nghiệp trong ngành, số
lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đang có trên thị trường.
Cầu chủ yếu dựa trên nhu cầu của khách hàng đối với loại sản phẩm dịch
vụ, khả năng thu nhập và sự sẵn sàng mua dành cho sản phẩm dịch vụ đó.
+ Phân tích mức độ cạnh tranh trong ngành
• Mức độ cạnh tranh hiện tại
Thị trường không phải là độc quyền, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với
những doanh nghiệp khác trong việc chiếm lĩnh thị phần. Đánh giá đối thủ cạnh
tranh trên nhiều khía cạnh: số lượng, chất lượng, giá cả của sản phẩm dịch vụ, sự
đa dạng sản phẩm, khả năng phát triển của các đối thủ… Từ đó, xác định vị thế
của doanh nghiệp trên thị trường.
• Ảnh hưởng của sự tham gia mới
Thêm một tham gia mới, doanh nghiệp sẽ có thêm một đối thủ cạnh tranh. Dựa
trên quy mô, xu hướng, tỷ suất lợi nhuận của ngành cho biết mức độ hấp dẫn gia
nhập của ngành. Ngành nào có tỷ suất lợi nhuận càng cao, càng có nhiều doanh
nghiệp muốn tham gia và sự gia nhập chỉ dừng lại khi thị trường đã bão hòa.
Đánh giá sự tham gia mới còn phải tính đến các rào cản gia nhập ngành như: yêu
cầu của người tiêu dùng, yêu cầu về công nghệ, vốn…
• Sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Nếu có nhiều sản phẩm thay thế và sản phẩm thay thế đang có lợi thế về giá hoặc
chất lượng, cầu của sản phẩm dịch vụ sẽ giảm.
• Sức mạnh của người mua
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
11
Sức mạnh của người mua được đánh giá dựa trên sở thích của khách hàng và
lượng mua sản phẩm, dịch vụ trên một khách hàng. Nếu khách hàng mua một
lượng lớn hoặc có ít người mua, doanh nghiệp sẽ bị khách hàng chi phối nhiều
hơn. Đôi khi khách hàng tự liên kết với nhau để bảo vệ quyền lợi và chi phối
doanh nghiệp.
• Ảnh hưởng của nhà cung ứng
Tính ổn định của nguồn cung và sự chi phối của người cung cấp ảnh hưởng tới
mức giá các nguyên liệu đầu vào, tới tính ổn định của hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp hiện tại và trong dài hạn. Sức mạnh của nhà cung cấp
thể hiện ở sự khan hiếm của nguồn cung, số lượng và đặc quyền của các nhà
cung cấp.
Phần 2: Đánh giá môi trường nội bộ của doanh nghiệp
Các yếu tố được đánh giá bao gồm 5 nhóm sau:
+ Cơ sở hạ tầng: là các tài sản của doanh nghiệp gồm có:
- Quy trình sản xuất
- Chế độ duy tu bảo dưỡng máy móc, thiết bị
- Mua và lưu trữ hàng tồn kho
- Địa điểm sản xuất kinh doanh
- Hệ thống cung cấp điện, nước
- Môi trường làm việc dành cho quản lý và người lao động.
+ Cơ cấu quản lý
- Hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
12
- Chính sách kinh doanh
- Bộ máy tài chính kế toán
- Chuyên gia kỹ thuật
+ Các nguồn lực nội bộ:
- Nhân sự
- Quan hệ với nhà cung cấp
+ Sản phẩm và dịch vụ
- Cơ cấu sản phẩm
- Đa dạng hóa sản phẩm
- Nghiên cứu phát triển
+ Người tiêu dùng/ Khách hàng
- Thị trường tiêu thụ
- Nhãn hiệu, hình ảnh của công ty
- Chiến lược thị trường và thị phần.
1.3.2.2. Bước 2: Tính dòng tiền và Phân tích tài chính
a) Phương pháp tính dòng tiền
Giá trị của doanh nghiệp luôn bằng giá trị của nợ cộng với giá trị của vốn
chủ sở hữu. Hay nói cách khác, dòng tiền nhận được từ các tài sản của doanh
nghiệp phải bằng dòng tiền của các chủ nợ cộng với dòng tiền của các chủ sở
hữu.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
13
Dưới đây là ví dụ minh họa dòng tiền của doanh nghiệp và dòng tiền của
chủ nợ, chủ sở hữu.
Dòng tiền của doanh nghiệp
Dòng tiền hoạt động 238
Dòng tiền đầu tư vào TSCĐ -173
Chênh lệch TSLĐ ròng -23
Tổng 42
Dòng tiền của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Chủ nợ (Trả lãi + Trả gốc - Huy động nợ mới) 36
Chủ sở hữu (Trả cổ tức + Mua lại cổ phiếu - Phát hành cổ phiếu
mới) 6
Tổng 42
Cách tính dòng tiền của doanh nghiệp:
Dòng tiền của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Dòng tiền hoạt động và Dòng
tiền đầu tư.
i) Dòng tiền hoạt động
Dòng tiền hoạt động: là dòng tiền được tạo ra từ các hoạt động kinh
doanh, bao gồm bán hàng hóa và dịch vụ.
Dòng tiền hoạt động bằng Lợi nhuận sau thuế cộng với Khấu hao TSCĐ vì
khấu hao là chi phí nhưng không phải là thực chi, do vậy chi phí khấu hao được
cộng trở lại dòng tiền của doanh nghiệp.
Dòng tiền hoạt động = NOPLAT + Khấu hao
NOPLAT là Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh sau thuế. NOPLAT
được tính bằng hai cách:
Cách 1: Từ trên xuống (Top down)
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét