LỜI NÓI ĐẦU
Triết học ra đời từ đời sống xã hội, những vấn đề được triết học đặt ra và tìm
lời giải đáp là những vấn đề về thế giới quan và phương pháp luận, triết học
nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người,
mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế
giới xung quanh.
Trong quá trình ra đời và phát triển, triết học đã đạt đến đỉnh cao bằng sự ra
đời của triết học Mác – Lênin. Đó chính là bước phát triển tạo nên sự biến đổi có
ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại.
Triết học Mác – Lênin là một môn học hết sức quan trọng được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm chỉ đạo, không ngừng nâng cao chất lượng từ khâu biên soạn
giáo trình, giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong hệ thống giáo dục của cả nước.
Nó đã và đang được tuổi trẻ học đường, cán bộ đảng viên và toàn dân ta tiếp đón
nhiệt tìnhvà say mê học tập nghiên cứu nghiêm túc. Chính vì thế nghị quyết Đại
hội VIII của Đảng nêu rõ: “ Đảng làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không
ngừng nâng cao trình độ lí luận, nắm vững và vận dụng sáng tạo những luận
điểm cơ bản và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, đồng thời phải không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn sinh
động từ phong trào cách mạng quần chúng”.
Nhận thức và vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin đã góp phần mang lại
những thành tựu to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ta đặc
biệt trong là giai đoạn hiện nay. Những quy luật, những phạm trù triết học Mác
– Lênin nghiên cứu hầu hết đều được Đảng và Nhà nước ta vận dụng linh hoạt
trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh
.v…v…của đất nước.
1
Đặc biệt phải kể đến quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất – một ảnh hưởng không nhỏ trong xu hướng
phát triển kinh tế – chính trị nước ta hiện nay.
A.KHÁI QUÁT
1. Lý do chọn đề tài
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử
nhân loại. Sự thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người từ chế độ
cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản
chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các
quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
Ở Việt Nam, quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản
chủ nghĩa là một minh chứng cho sự đúng đắn của quy luật này. Chúng ta đã có
những kết quả không như mong đợi từ sự vận dụng không triệt để quy luật trên.
Khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế Việt Nam với lực lượng
sản xuất còn lạc hậu, kém phát triển trong khi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
là đỉnh cao của quan hệ xã hội. Sự không phù hợp của lực lượng sản xuất so với
quan hệ sản xuất như vậy không những không thúc đẩy được nền kinh tế Việt
Nam phát triển mà còn kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại
nói chung và của Việt Nam nói riêng nên tôi chọn đề tài này làm đề tài nghiên
cứu của mình.
2. Ý nghĩa của đề tài.
2
Việc nghiên cứu đề tài “Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự nhận thức vận dụng quy luật này
ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa hết sức quan trọng đặc biệt là trong tình hình
thực tế của nước ta hiện nay. Hiện nay nước ta đang từng bước đẩy nhanh sự
phát triển lực lượng sản xuất thông qua công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, cải thiện chất lượng lao động trong nước để từng bước phù hợp với
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, hạn chế tối đa những tác dụng ngược lại của
sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất như đã nói ở
trên. Làm cho mỗi chúng ta hiểu rõ nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự ảnh hưởng trực tiếp và
đặc biệt quan trọng của nó đối với nền kinh tế nước ta là một điều có ý nghĩa hết
sức to lớn.
3. Khái quát nội dung cầm giải quyết trong đề tài
Đề tài sẽ tập trung vào giải quyết những nội dung chủ yếu sau:
- Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
- Nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
- Sự nhận thức vận dụng quy luật này ở Việt Nam hiện nay
4. Khái quát kết cấu đề cương
Đề cương bao gồm ba phần chính:
- Phần A: Phần khái quát – tập trung giải quyết những vấn đề lý luậncơ bản
trước khi đi vào nghiên cứu nội dung chính của đề tài.
- Phần B: Phần nội dung – tập trung giải quyết những nội dung chủ yếu mà đề
tài đã nêu ra.
- Phần C: Phần kết luận – tóm tắt nội dung và ý nghĩa, vận dụng của đề tài
3
A.NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT, LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT,
QUAN HỆ SẢN XUẤT.
1. Phương thức sản xuất.
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản
xuất biểu thị cách thức con người thực hiện thông quá trình sản xuất vật chất ở
những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Với một cách thức nhất
định của sự sản xuất xã hội, trong đời sồn xã hội sẽ xuất hiện những tính chất,
kết cấu và đặc điểm tương ứng về mặt xã hội.
Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi
xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi
mang tính chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội …
được chuyển sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người
ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau.
Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng mỗi của mỗi thời đại lịch sử người
ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào.
C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất
bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”. (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn
tập, NXB Chính trị quỗsc gia, Hà Nội, 1993, Tr.23, Tr.269).
Phương thức sản xuất, cách thức mà con người ta tiến hành sản xuất chính là
sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản
xuất tương ứng.
2. Lực lượng sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lức lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất là những khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C.Mác gọi
4
là “quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ của con người
với tự nhiên và quan hệ của con người với nhau.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Nghĩa là trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội, con người chinh phục giới
tự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được
chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Lực
lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất
tạo ra của cải xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng
lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá
trình sản xuất, lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ
lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất, trong đó, “ lực lượng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công dân, là người lao động”.
Do đặc trưng sinh học - xã hội riêng có của mình, con người, trong nền sản
xuất xã hội có sức mạnh và kĩ năng lao động thần kinh – cơ bắp. Trong lao
động, sức mạnh và kĩ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần. Hơn nữa, lao
động của con người ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ.
Trí tuệ của con người không phải là cái gì siêu tự nhiên, mà là phẩm của tự
nhiên và của lao động. Nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài của xã hội loài
người,trí tuệ hình thành phát triển cùng với lao động làm cho lao động ngày
càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn. Hàm lượng trí tuệ trong lao động, đặc biệt là
trong điều kiện cảu khoa học công nghệ hiện nay, đã làm cho con người trở
thành nguồn lực đặc biệt cảu sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận.
Cùng với con người – người lao động, công cụ lao động cũng là một thành
tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Công cụ lao động, theo Ph.Ăngghen là: “Khí
quan của bộ óc con người “là” sức mạnh của tri thức đã được “ vật thể hoá” có
tác dụng “ nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ cảu con người”. Bởi
vậy, khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá, được tự động hoá …
thì vai trò “khí quan vật chất” cảu nó trở nên hết sức kì diệu.Trong mọi thời đại,
công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, biểu hiện năng
5
lực thực tiễn của con người ngày một tăng thêm. Chính sự chuyển đổi, cải tiến
và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn
bộ tư liệu sản xuất. Xét cho cùng chính đó là nguyên nhân sâu xa của mọ biến
cải xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao độnglà thước đo trình độ chinh
phục tự nhiên của con người. Trong tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”,
C.Mác đã nêu một tư tưởng quan trọng về vai trò của lực lượng sản xuất đối với
viêc thay đổi các quan hệ xã hội. C.Mác viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn
liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản
xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất mới của mình, và do thay
đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả
những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh
chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”.
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học, cùng với sự tiến triển của sản xuất,
khoa học ngày nay càng có vai trò quan trọng trong sản xuất. Khoa học đã phát
triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong
sản xuất và trong đời sống. Ngày nay, cách thức mà nhà khoa học xâm nhập và
thể hiện trong hiện thức khác nhiều so với vài thập kỉ trước đây. C.Mác dự kiến
rằng khoa học trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, trở thành “lực lượng sản
xuất độc lập”. Tư tưởng ấy của Mác có ý nghĩa định hướng tích cực đối với cả
hoạt động sản xuất lẫn hoạt động khoa học.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là thời điểm hiện tại của sản xuất và
do vậy, nó hoàn toàn có thể được coi là cái đặc trưng cho lực lượng sản xuất
hiện đại.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta đã vạch ra mục tiêu đối với sự phát triển của
lực lượng sản xuất nói chung, của nền khoa học nói riêng như sau: “Từ nay đến
năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp”.
Lực lượng sản xuất đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn
lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá
6
cơ bản được thực hiên trong cả nước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay.
Khoa hoc tự nhiên và công nghệ có khả năng nắm bắt và vận dụng được
nhiều thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Khoa học xẫ
hội và nhân văn có khả năng làm cơ sở cho việc xây dựng hình thái ý nghĩa xã
hội mới. Sự phát triển của khoa học công nghệ đủ sức cung cấp luận cứ cho viêc
hoạch định những chính sách chiến lược và quy hoạch phát triển.
7
3. Quan hệ sản xuất
Trong hệ thống những khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm
lực lượng sản xuấtbiểu hiện mặt thứ nhất của mối “quan hệ song trùng” của bản
thân sự sản xuất xã hội – quan hệ của con người với tự nhiên; còn khái niệm
quan hệ sản xuất biểu thị mặt thứ hai của mối quan hệ đó – quan hệ của con
người với con người trong sản xuất. Sở dĩ quá trình sản xuất xã hội có thể diễn
ra một cách bình thường chính là vì trong sự sản xuất đó, mối quan hệ giữa con
người với con người tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con người với giới
tự nhiên. Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thể hiện
thành những trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, mối quan hệ
đó được xây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa người và
người, tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm “Lao động làm thuê và tư
bản”, C.Mác viết: “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự
nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một
cách nào đó để hoạt đông chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản
xuất được, người ta phải có mối liên hệ vàquan hệ nhất định với nhau; và quan
hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”.
Như vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người ta, dù
muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định
với nhau. Những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào mong
muốn của ai cả. Đó chính là những quan hệ sản xuất. Cố nhiên, quan hệ sản xuất
là do con người tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan của
sự vận động đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
(sản xuất và tái sản xuất xã hội), bao gồm:
- Các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
- Các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất
- Các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
8
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn của con người, quan hệ sản xuất là quan hệ mang tính vật chất thuộc vào
đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và
là cơ sở sâu xa cảu đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong quá trình
sản xuất luôn gắn bó với nhau tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương
đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất. Các quan hệ sản
xuất của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ
phong phú và đa dạngbiểu hiện dưới nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ
thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động
đến nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung.
Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu
đối với tư liệu sản xuất – biểu hiện thành chế độ sở hữu – là đặc trưng cơ bản
của phương thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuấtcủa mỗi nền kinh
tế – xã hội nhất định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuấtluôn có vai trò quyết
định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác. Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất
phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất. Chính quan
hệ sở hữu – quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu
sản xuất đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội.
Đến lượt mình, địa vị của từng tập đoàn người trong hệ thống sản xuất lại quy
định cách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách
thứcmà các tập đoàn tổ chức quản lý qua trình sản xuất. Cuối cùng, chính quan
hệ sở hữu là cái quyết định phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn
người theo địa vị của họ đối với sản xuất xã hội. “Định nghĩa quyền sở hữu tư
sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản
xuất tư sản”.
Trong các hình thái kinh tế – xã hội mà loài người đã phải trải qua, lịch sử đã
được chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu tư liệu sản xuất: sở hữu
tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liêu
sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng. Nhờ cơ sở đó nên về mặt
9
nguyên tắc, các thành viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức
lao động và trong phân phối sản phẩm. Do tư liệu sản xuất là tư liệu chung của
cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống
xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Ngược
lại, trong các chế độ tư hữu, do tự liệu chỉ nằm trong tay một số ít người nên của
cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít người đó. Các quan hệ xã
hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị. Đối khác xã hội
trong các xã hội tồn tại chế độ tồn tại tư hữu tiềm tàng khả năng trở thành đối
kháng gay gắt. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ trong các
chế độ sở hữu tư nhâncủa các xã hội điển hình trong lịch sử (sở hữu tư nhân của
xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân trong xã hội phong kiến và sở hữu tư
nhân trong chủ nghĩa tư bản) thì chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh
cao của loại sở hữu này.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng chế độ tư bản chủ nghĩa không
phải là hình thức cuối cùng trong lịch sử lại người. Chủ nghĩa xã hội dựa trên
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng đóng vai trò phủ định
đối với chế độ tư hữu.
Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản ký
sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc
độ, hiệu quả và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể. Bằng cách nắm bắt các
nhân tố xác định của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy việc sử dụng hợp lý các
quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản
xuất có khả năng vươn tới tối ưu. Trong trường hợp ngược lại, các quan hệ quản
lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực tới sự
phát triển của kinh tế – xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng được những thành tựu to lớn của khoa học quản lý
hiên đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt
là đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên thức tế đã tăng lên gấp bội
10
so với vài thập kỉ trước đây. Đây là điều rất đáng lưu ý trong việc phân tích và
đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại.
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức – quản lý, trong hệ thống quan hệ sản
xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng như là những nhân
tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế – xã hội.
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý
sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người, nên
các quan hệ phân phối là “chất xúc tác” của các quá trình kinh tế – xã hội. Quan
hệ phân phối co thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động
toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả
năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội
II. NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN
XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.
1. Khái niệm chung về quy luật.
Từ hàng ngàn năm về trước, con người đã phần nào đoán nhân được tính
trật tự và tính lặp lại của các hiện tượng. Cái đó đã in vào tư duy con người về
sự tồn tại có tính quy luật nào đó của thế giới khách quan. Khái niệm quy luật là
sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ của các sự vật, về tính chỉnh
thể của chúng.
Với tư cách là cái tồn tại ngay trọng hiện thực, quy luật là mối liên hệ bản
chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các sự vật, hiên tượng, giữa các đối
tượng, giữa các nhân tố tạo thành đối tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật
cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật, hiên tượng.
2. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
11
Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất biểu hiện
mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Quan hệ này biểu hiện thành quy luật
cơ bản nhất của sự vận động của đời sống xã hội – quy luật về sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Khuynh hướng của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều tiến
bộ. Sự biến đổi đó, xét cho cùng bao giờ cũng là sự biến đổi và phát triển của
lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Do vậy, lực lượng sản xuất là
yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự biến đổi của phương thức sản xuất
trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên
của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Khái niệm trình độ của lực lượng sản
xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động
thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát
triển của mình. Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở:
- Trình độ của công cụ lao động
- Trình độ tổ chức lao động xã hội
- Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất
- Kinh nghiệm và kĩ năng lao độn của con người
- Trình độ phân công lao động
Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất, còn có khái niệm tính
chất của lực lượng sản xuất. Chính Ph.Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để
phân tích lực lượng sản xuất trong các phương thức sản xuất khác nhau. Khi nền
sản xuất được thực hiện ở trình độ thủ công, lực lượng sản xuất mang tính cá
nhân. Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải
được vận động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính
chất tự cấp tự túc, cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính
chất xã hội hoá. Ph.Ăngghen nhận định giai cấp tư sản “Không thể biến những
tư liệu sản xuất có hạn ấy thành lực lượng sản xuất hùng mạnh mà lại không
biến chúng từ chỗ là những tư liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những tư
12
liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được sử dụng chung bởi một số đông người”.
Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt với
nhau.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” tất
yếu của lực lượng sản xuất. Nghĩa là trạng thái mà ở đó các yếu tố cấu thành
quan hệ sản xuất “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy, trong trạng thái phù hợp, cả ba mặt của quan hệ sản xuất đạt tới
thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tối ưu cho
việc sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất. Với trạng thái phù
hợp như vậy, lực lượng sản xuất sẽ có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
Trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ xuất
hiện, thay thế cho trạng thái phù hợp, khi tới một giai đoạn nào đó, lực lượng
sản xuất phát triển chuyển sang một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở mức
cao hơn, lúc đó tình trạng phù hợp sẽ bị phá vỡ. Mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt
và đến một lúc nào đó quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản
xuất”. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xẫ
hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó
bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Việc xoá bỏ
quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự
diệt vong của cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương
thức sản xuất mới. Mác đã nhận định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của
chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ
sản xuất hiện có … trong đó từ trước đến nay lực lượng sản xuất vẫn phát triển.
Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy
trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại
một cuộc cách mạng xã hội”. Đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
13
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản
xuất đối với quan hệ sản xuất song cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ
cũng thể hiện tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở
lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội của sản xuất, tác động đến
khuynh hướng phát triển của công nghệ từ đó hình thành một hệ thống những
yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi
có một quan hệ sản xuất hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó. Quan hệ sản xuất lạc
hậu hơn hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
đã bộc lộ gay gắt, đòi hỏi phải giải quyết nhưng con người không phát hiện
được; cũng như khi mâu thuẫn đã được phát hiện mà không được giải quyết
hoặc giải quyết một cách sai lầm chủ quan, v…v… thì tác dụng kìm hãm của
quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử
nhân loại. Sự thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người từ chế độ
cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản
chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các
quy luật xã hội , trong đó quy luật quan hệ sản xuấtphù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
III. SỰ NHẬN THỨC VẬN DỤNG QUY LUẬT TRÊN CỦA ĐẢNG TA Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhận rõ được vai trò to lớn của quy luậtquan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, Đảng ta đã có những nhận thức đúng đắn,
và rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét