Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Đánh giá môi trường kinh doanh và các hoạt động marketing bảo hiểm tỉnh Bình Dương

Ngày nay, bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lónh vực đời sống kinh tế - xã
hội. Ngành bảo hiểm thương mại đang giữ một vò trí quan trọng trong nền kinh tế
nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển.
Ở nước ta, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo hiểm Việt Nam trước
đây) gọi tắt là Bảo Việt ra đời từ ngày 15/01/1965 là doanh nghiệp bảo hiểm
Đầu tiên của nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghóa. Đến nay, năm 2006, cả nước
đã có 16 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 8 công ty bảo hiểm nhân thọ, một công
ty tái bảo hiểm, 7 công ty môi giới và 3 văn phòng đại diện tái bảo hiểm. Tổng
doanh thu phí bảo hiểm hàng năm hiện nay trên 15 nghìn tỷ đồng… Dự báo trong
tương lai ngành Bảo hiểm Việt Nam sẽ còn trên đà phát triển, thò trường bảo
hiểm Việt Nam còn đầy tiềm năng.
1.2. Đặc điểm của thò trường bảo hiểm
1.2.1.Thò trường và các chức năng của thò trường
Theo nghóa rộng, thò trường là lónh vực của sự trao đổi và lưu thông hàng
hóa. Trên thò trường diễn ra các hoạt động mua - bán và trao đổi các sản phẩm
hàng hóa, dòch vu.
Đối với một doanh nghiệp, họat động của họ thường gắn liền với một thò
trường sản phẩm hàng hóa, dòch vụ cụ thể. Đó là nơi đảm bảo các yếu tố đầu
vào giải quyết các vấn đề đầu ra cho sản phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp
thường không quan tâm đến thò trường nói chung mà chỉ quan tâm đến thò trường
sản phẩm của doanh nghiệp. Nói một cách khác, vấn đề cơ bản mà các nhà kinh
doanh quan tâm đến thò trường chính là những người mua hàng và nhu cầu của
họ về những hàng hóa của doanh nghiệp.
Cũng cần phải nói thêm rằng, một doanh nghiệp xuất hiện trên thò trường
khi với tư cách của người mua, lúc với tư cách của người bán. Chính vì lẽ đó, quá
trình nghiên cứu thò trường đối với các doanh nghiệp chính là nghiên cứu khách
hàng.
Thò trường là môi trường chủ yếu cho các hoạt động kinh doanh, gắn liền
với hoạt đông mua - bán, trao đổi hàng hóa. Thò trường hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và thực hiện những chức năng
cơ bản sau đây:
- Chức năng thừa nhận và thực hiện:
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của thò trường. Khi hoạt động
mua - bán và trao đổi diễn ra, điều đó đồng nghóa với việc thò trường thực hiện
chức năng này.
- Chức năng điều tiết:
Thông qua các qui luật kinh tế, thò trường thực hiện chức năng điều tiết
của mình. Quá trình điều tiết này diễn ra cả ở hai thái cực: Điều tiết sản xuất và
điều tiết tiêu dùng xã hội. Thò trường có thể làm thay đổi mặt hàng tiêu dùng
cũng như cơ cấu tiêu dùng của dân cư. Với sự tác động của thò trường, người tiêu
dùng sẽ cân nhắc, tính toán để gia tăng lợi ích của mình, cũng như sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả các nguồn lực xã hội.
- Chức năng thông tin:
Thò trường được coi là nơi chứa đựng các thông tin cần thiết cho cả nhà
kinh doanh và giới tiêu dùng xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, quá trình nghiên cứu thò trường giúp họ nắm
bắt những thông tin cần thiết.
Đối với người tiêu dùng, thò trường là nơi đáp ứng các lợi ích nhằm thỏa
mãn nhu cầu của họ.


1.2.2. Các đặc điểm chủ yếu của thò trường bảo hiểm
Thò trường bảo hiểm là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi và mua - bán
các sản phẩm bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu đảm sự bảo an toàn trong cuộc sống
của mọi tầng lớp dân cư. Thò trường của một công ty bảo hiểm chính là những
khách hàng thực tế và khách hàng tiềm năng của công ty đó. Thò trường bảo
hiểm có những đặc điểm hoạt động và chòu sự tác động của các qui luật thò
trường giống như thò trường các sản phẩm khác. Tuy nhiên, do đặc tính của sản
phẩm và môi trường kinh doanh hiện tại, thò trường bảo hiểm ở nước ta có những
đặc điểm riêng biệt, cần chú ý khi nghiên cứu:
¾ Về chủ thể tham gia thò trường, người bán là các công ty bảo hiểm,
người mua có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức. Nhu cầu của người mua rất
phong phú và đa dạng, khả năng thanh toán cũng có sự khác biệt.
¾ Nhu cầu trên thò trường bảo hiểm tăng trưởng cùng với sự phát triển
kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cư. Trong các nhân tố ảnh hưởng mạnh
mẽ đến thò trường bảo hiểm trước hết phải kể đến nhân tố kinh tế. Sự phát triển
kinh tế và mức sống dân cư kéo theo sự phát triển nhu cầu các sản phẩm bảo
hiểm.
¾ Cạnh tranh trên thò trường bảo hiểm Việt Nam diễn ra ngày một quyết
liệt: Từ khi đổi mới kinh tế với sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và mở
cửa, hội nhập kinh tế thế giới, thò trường bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện nhiều
công ty kinh doanh bảo hiểm. Do đó, việc cạnh tranh thò trường bảo hiểm là một
điều tất yếu.
¾ Trên thò trường bảo hiểm, các doanh nghiệp vừa cạnh tranh nhau, lại
vừa tìm cách liên minh nhau và phân chia thò trường. Đây là đặc điểm của kinh
doanh khi sự cạnh tranh thò trường đã trở nên quyết liệt và mỗi công ty đều
chiếm giữ những ưu thế nhất đònh. Tuy nhiên, sự liên minh này gây tổn hại đến
lợi ích người tiêu dùng và chỉ có thể thực hiện được khi có sự can thiệp của
Chính phủ vào thò trường, cũng như phong trào bảo hộ quyền lợi khách hàng.
¾ Thò trường bảo hiểm trong nước có quan hệ mật thiết với thò trường bảo
hiểm quốc tế thông qua họat động tái bảo hiểm. Tái bảo hiểm là một loại hình
nghiệp vụ mà người bảo hiểm này nhượng lại cho những người bảo hiểm khác
một phần phí bảo hiểm qua hợp đồng tái bảo hiểm. Chính nhờ hoạt động tái bảo
hiểm mà hình thành các mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm của các quốc
gia. Sự thông thương thò trường trong nước và thò trường thế giới, đòi hỏi các hoạt
động kinh doanh và hoạt động Markerting nói riêng của các công ty bảo hiểm
phải đảm bảo tính chuẩn mực, thống nhất mang tính quốc tế hóa cao.
¾ Thò trường bảo hiểm chòu sự quản lý và chi phối chặt chẽ của Nhà nước
thông qua Luật Bảo hiểm và các qui đònh khác. Luật kinh doanh bảo hiểm là
công cụ quan trọng nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình với
thò trường bảo hiểm. Ngoài ra, Bộ Tài Chính, các Bộ và cơ quan ngang Bộ khác,
Ủy ban nhân dân các cấp, bằng các Thông tư, Chỉ thò của mình thực hiện việc
quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo quyền hạn được phân cấp.
1.3. Vai trò của bảo hiểm và môi trường kinh doanh bảo hiểm
1.3.1. Vai trò của ngành kinh doanh BH trong đời sống kinh tế xã hội
Bảo hiểm là một hoạt động kinh tế quan trọng trên cơ sở xây dựng quỹ
bảo hiểm để bồi thường những tổn thất về người và tài sản. Bảo hiểm có nhiều
chức năng như: Đề phòng, hạn chế tổn thất, bồi thường thiệt hại, hỗ trợ cho sản
xuất, ổn đònh đời sống nhân dân, tập trung vốn để xây dựng kinh tế. Bảo hiểm là
một sản phẩm dòch vụ của sự phát triển kinh tế, đồng thời là thước đo cho sự
phát triển của nền kinh tế. Quỹ dự trữ bảo hiểm là một nguồn vốn lớn để đầu tư
phát triển kinh tế. Do đó, bảo hiểm là một khâu không thể thiếu được trong nền
kinh tế quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế ở nước ta.
Tác dụng của bảo hiểm ở nước ta thể hiện trong những mặt dưới đây:
- Bảo hiểm có tác dụng đảm bảo cho sự ổn đònh đời sống kinh tế. Nước ta
hàng năm xảy ra nhiều vụ thiên tai, nhờ có bảo hiểm mà các nhà doanh nghiệp,
các tổ chức, dân cư… được bồi thường kòp thời, không làm gián đoạn sản xuất.
- Bảo hiểm có lợi cho việc thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế. Chỉ có tham
gia bảo hiểm các doanh nghiệp mới có thể chuyển rủi ro cho nhà bảo hiểm
nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi.
- Bảo hiểm có lợi cho việc thực hiện bảo toàn vốn vay của các ngân hàng
thương mại một cách thuận lợi khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng bò tai nạn
rủi ro. Nếu doanh nghiệp nào có tham gia bảo hiểm thì doanh nghiệp đó dễ dàng
khôi phục lại sản xuất và có thể hoàn trả vốn vay ngân hàng.
- Bảo hiểm có lợi cho sự phát triển và củng cố nền kinh tế hàng hóa ở
nông thôn. Trong sản xuất và trao đổi mua bán các mặt hàng nông nghiệp nếu bò
thiên tai và tai nạn bất ngờ, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đắc lực của các loại hình
bảo hiểm nông nghiệp, như bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng…
- Bảo hiểm tạo điều kiện tăng thêm phúc lợi, ổn đònh đời sống nhân dân.
Bảo hiểm sẽ giảm cho mọi người gánh nặng tài chính khi xãy ra tai nạn, rủi ro.
- Hoạt động bảo hiểm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh
tế, kỹ thuật thương mại với nước ngoài và đầu tư nước ngoài.
- Bảo hiểm có lợi cho việc đề phòng, hạn chế rủi ro, giảm bớt tổn thất của
cải của xã hội.
1.3.2. Các yếu tố môi trường kinh doanh bảo hiểm
1.3.2.1. Môi trường vó mô
• Môi trường kinh tế
Các nhân tố kinh tế bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng trong sự vận
động và phát triển của thò trường bảo hiểm. Trong đó cần chú ý các nhân tố sau:
+ Số lượng, chất lượng và sự phân bố của các nguồn lực xã hội.
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Sự phát triển và ứng dụng của khoa học kỹ thuật
+ Cơ chế quản lý kinh tế, tình hình cạnh tranh thò trường.
+ Thu nhập quốc dân và chi tiêu của Chính phủ.
+ Quan hệ kinh tế đối ngoại và xu hướng phát triển kinh tế trong khu vực.
+ Chính sách đầu tư, thuế, bảo hộ sản xuất…
• Môi trường dân cư
+ Dân số và mật độ dân số.
+ Sự phân bố dân cư, tỷ trọng và chất lượng của nguồn lao động.
+ Cơ cấu dân cư, đặc điểm về giai tầng xã hội.
+ Thu thập, khả năng thanh toán của dân cư, đặc điểm và tâm lý tiêu
dùng xã hội.
• Môi trường văn hóa - xã hội
Các nhân tố văn hóa - xã hội có ảnh hưởng tác động rất lớn đến sự hình
thành và phát triển của nhu cầu bảo hiểm.
+ Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện qua: phong tục, tập quán, tín ngưỡng…
+ Trình độ văn hóa, ý thức của dân cư.
+ Các chính sách, kết quả đầu tư cho việc phát triển văn hóa -xã hội.
+ Các sự kiện văn hóa - xã hội.
• Môi trường chính trò, pháp luật
+ Hệ thống pháp luật, thể chế.
+ Các chính sách từng thời kỳ đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
+ Tình hình chính trò, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
+ Các biến động xã hội: Chiến tranh, sự kiện chính trò.

• Môi trường tự nhiên và các môi trường khác
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xảy ra rủi ro
cho con người. Đó là thời tiết, khí hậu, môi trường sinh thái, dòch bệnh con người
và gia súc… Ngoài ra, kinh doanh bảo hiểm còn chòu sự ảnh hưởng tác động của
các nhân tố khác như: Biến động về tâm lý, tiêu dùng, xu hướng đầu tư…
1.3.2.2. Môi trường vi mô
Môi trường vi mô là môi trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, bao gồm:
• Các công ty kinh doanh bảo hiểm
Ngày nay, bảo hiểm là một trong những lónh vực kinh doanh rất hấp dẫn
các nhà đầu tư. Ngay ở thò trường Việt Nam, đến nay đã có thêm hành loạt công
ty bảo hiểm mới ra đời kể cả công ty trong nước lẫn công ty nước ngoài. Để
chiến thắng trong cạnh tranh thò trường, mỗi công ty bảo hiểm phải hoạch đònh
cho mình một chiến lược và chiến thuật cạnh tranh hiệu quả nhất.
• Quan hệ công chúng của công ty bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm phải xử lý hàng loạt các mối quan hệ phức tạp và
rất nhạy cảm. Những mối quan hệ này có ảnh hưởng, tác động đến hoạt động
kinh doanh của công ty theo những chiều và mức độ khác nhau. Các công ty bảo
hiểm cần phải phân tích được các tiềm lực, điểm mạnh, điểm yếu cũng như khả
năng cạnh tranh được tạo ra bởi những mối quan hệ trên. Đồng thời, đưa ra các
giải pháp khai thác và xử lý tốt nhất từng mối quan hệ công chúng của mình.
• Nội bộ của các công ty bảo hiểm
Nhà bảo hiểm trước hết phải bảo hiểm cho chính mình. Chính vì vậy, các
công ty bảo hiểm cần chú ý coi trọng việc tạo ra sức mạnh từ bên trong. Sức
mạnh này được xây dựng và phát triển trên cơ sở của truyền thống đoàn kết nhất
trí; Năng lực và hiệu quả công tác của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận; Sức mạnh về
tài chính; Hiệu quả các họat động tổ chức và quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật;
Việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân…
1.4. Những kinh nghiệm và bài học về kinh doanh bảo hiểm

1.4.1. Những kinh nghiệm trong kinh doanh bảo hiểm của các nước
Kinh nghiệm triển khai bảo hiểm nông nghiệp các nước
Bảo hiểm nông nghiệp là một loại hình bảo hiểm rất mới mẽ đối với thò
trường bảo hiểm cũng như ngành bảo hiểm Việt Nam. Trong tương lai, chúng ta
có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước để áp dụng cho Việt Nam. Vì ở nước ta
còn nhiều rủi ro trong nông nghiệp, thò trường bảo hiểm trong lónh vực nông
nghiệp còn rộng lớn và đầy tiềm năng. Sau đây là kinh nghiệm một số nước:
+ Tại Tây Ban Nha
Hiện nay, tất cả các rủi ro có thể được bảo hiểm trong sản xuất nông
nghiệp tại Tây Ban Nha đều được bảo hiểm bởi các công ty bảo hiểm tư nhân,
đồng thời tất cả các dạng hợp đồng bảo hiểm đều được nhà nước tài trợ một
phần phí. Hiện tại, có 3 dạng hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp sau:
- Hợp đồng bảo hiểm cho một loại rủi ro duy nhất.
- Hợp đồng bảo hiểm đa rủi ro.
- Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro.
Trong số đó, hợp đồng bảo hiểm đa rủi ro là phổ biến hơn cả.
Người tham gia bảo hiểm có thể là cá nhân từng nông dân hoặc một nhóm
nông dân (dưới dạng hợp tác xã hoặc các tổ chức nghề nghiệp) và việc tham gia
bảo hiểm là hoàn toàn tự nguyện. Nông dân ở nước này có thể lựa chọn tới 58
loại sản phẩm khác nhau. Trong số đó, tất cả các cây trồng đều được bảo hiểm,
ngoài ra còn có 3 sản phẩm bảo hiểm vật nuôi và 5 sản phẩm bảo hiểm nuôi
trồng thủy sản.
+ Tại Mỹ
Bảo hiểm mùa màng đa rủi ro (Multi-Peril Crop Insurance): Năm 1994,
Mỹ đã ban hành Luật sửa đổi Bảo hiểm mùa màng. Theo đó, bảo hiểm mùa
màng đã được kết hợp cùng với chương trình trợ cấp thiên tai để hình thành nên
chương trình bảo hiểm mùa màng đa rủi ro (MPCI).
Phạm vi bảo hiểm của MPCI chủ yếu là các rủi ro có nguồn gốc tự nhiên,
bao gồm lũ, lụt, mưa đá, gió lớn, độ ẩm cao và các thảm họa khác. Chương trình
này đối tượng bảo hiểm là tất cả loại cây trồng chính. Tổng số có trên 70 loại.
MPCI được xây dựng trên cơ sở thống kê sản lượng thu hoạch thực tế của
từng hộ nông dân, từng trang trại riêng biệt. Sản lượng làm cơ sở tính phí bảo
hiểm là sản lượng thực tế bình quân quá khứ trên mảnh đất của người được bảo
hiểm trong khoảng từ 4 -10 năm. Nếu hộ nông dân nào không có những số liệu
này thì việc tính phí sẽ được xây dựng trên cơ sở thống kê sản lượng bình quân
của hạt (đơn vò hành chính dưới bang) nơi họ đang sinh sống trong vòng 4 năm.
Hiện tại, có 3 loại chương trình bảo hiểm mùa màng đa rủi ro dưới đây:
* Bảo hiểm rủi ro thảm họa (Catastrophic Risk Protection: CAT)
Một ưu đãi rất lớn trong chương trình CAT là phí bảo hiểm được chính
phủ Mỹ tài trợ toàn bộ. Nông dân chỉ phải trả 50 USD chi phí quản lý cho mỗi
mùa vụ và mỗi hạt nơi họ canh tác.
* Bảo hiểm toàn phần: Mức sản lượng và mức giá có thể được bảo hiểm
cao hơn chương trình CAT: Mức sản lượng bảo hiểm có thể dao động từ 5% -
85% sản lượng thực tế bình quân quá khứ và mức giá được bảo hiểm có thể lên
tới 100% giá thu hoạch dự kiến. Để tham gia bảo hiểm, nông dân phải đóng phí
bảo hiểm và chi phí quản lý, đồng thời, nhà nước thực hiện tài trợ một phần phí
bảo hiểm.

* Bảo hiểm rủi ro nhóm (Group Risk Plan: GRP)
Chương trình bảo hiểm này dựa trên cơ sở sản lượng thu hoạch bình quân
chung của cả hạt mà không dựa vào sản lượng thu hoạch thực tế của từng hộ
nông dân. Nếu sản lượng thu hoạch của hạt trong năm thấp hơn mức được bảo
hiểm, người được bảo hiểm sẽ nhận được tiền bồi thường, bất kể sản lượng thu
hoạch của họ có bò giảm suất hay không…
+ Tại Nhật Bản
Hệ thống bảo hiểm ở Nhật Bản thực hiện bảo hiểm cho hầu hết các loại
cây trồng và vật nuôi, trừ rau, hoa và gia cầm. Không những thế, các tổ chức bảo
hiểm ở nước này còn nhận bảo hiểm cho cả nhà cửa và tài sản của nông dân.
Chính phủ Nhật Bản quy đònh bảo hiểm bắt buộc trên tòan quốc đối với
lúa gạo, lúa mì và lúa mạch vì đây là những cây trồng quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp Nhật Bản. Quy đònh bắt buộc có tác dụng ngăn ngừa sự lựa
chọn bất lợi và giúp nông dân ổn đònh sản xuất, khi rủi ro xảy ra trên diện rộng.
+ Tại ẤN Độ
* Bảo hiểm mùa màng toàn diện
Chương trình bảo hiểm mùa màng toàn diện được giới thiệu lần đầu tiên
vào năm 1985 do Chính phủ Trung ương và Chính quyền một số bang cùng phối
hợp tổ chức. Chương trình bảo hiểm này được kết hợp với tín dụng mùa màng
ngắn hạn. Căn cứ tính phí bảo hiểm được xây dựng trên cơ sở diện tích canh tác
có điều kiện tương tự (nghóa là trong trường hợp người được bảo hiểm thiếu
những số liệu thống kê tin cậy về thửa ruộng của mình, hoặc có nhiều khả năng
dẫn tới nguy cơ đạo đức thì nhà bảo hiểm sẽ không tính phí trên cơ sở thửa ruộng
đó mà sẽ căn cứ vào các diện tích canh tác có điều kiện tương tự).


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét