Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
o0o
Đề án kinh tế chính trị
Đề tài:
Quan hệ giữa sở hữu và
thành phần kinh tế
Thầy giáo hớng dẫn: TS Lê Thục
Ngời viết : Lê Thanh Hằng
Lớp : Kế hoạch 42B
Hà Nội -2002
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
ội 2002
Phần I: Mở đầu
Khái quát vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế
Đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
Trong thời kỳ đổi mới này, vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế chiếm một vị
trí quan trọng trên con đờng đi lên CNXH ở nớc ta. Sở hữu là một phạm trù kinh
tế xuất phát và cơ bản của kinh tế chính trị . Nó nh là một tổng thể các quan hệ
kinh tế và theo đó là tổng thể các quyền sử dụng, chi phối, quản lý,gắn với một
chế độ xã hội nhất định. Mối quan hệ giữa sở hữu và các thành phần kinh tế là
một trọng những trọng điểm mà Đảng và Nhà nớc nớc ta đặc biệt quan tâm trong
thời gian gần đây. Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
đất nớc.
Thời gian vừa qua, Đại hội Đảng lần thứ VI nớc ta đã chỉ rõ sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế. Đảng và Nhà nớc ta thực hiện chính sách phát triển một
nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên sự đa dạng của các hình thức sở hữu theo
định hớng XHCN, coi sở hữu vừa là mục tiêu, vừa là phơng tiện vì sở hữu nói
riêng và quan hệ sản xuất nói chung không chỉ là phơng tiện nh mọi phơng tiện
thông thờng có thể thay thế, mà là một bộ phận cấu thành của xã hội nhất định.
CNXN có những đặc trng riêng về sở hữu, những quan hệ sản xuất và phân phối
nảy sinh từ chế độ đó.
Vì vậy,nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu với các thành phần kinh tế có
ý nghĩa quan trọng và cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với quá trình
xây dựng CNXH nói chung và đặc biệt đối với thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta.
Nó đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức trớc sự đổi mới của một nền kinh tế còn
non trẻ đang phải đơng đầu với những khó khăn trớc mặt trong quá trình hội
nhập nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy vấn đề về mối quan hệ giữa sở hữu và các
thành phần kinh tế trở nên rất phức tạp và cần đợc nghiên cứu sâu sắc. Nó đòi hỏi
một kiến thức sâu rộng và tổng hợp cao, có thể nắm bắt tình hình hiện tại cộng
với khả năng t duy cao, sự phân tích cặn kẽ thì mới có thể làm sáng tỏ vấn đề. Với
kiến thức có hạn của em, khả năng tổng hợp còn cha cao và còn rất nhiều hạn chế
nên phạm vi bài viết của em chỉ phần nào đa ra đợc lý luận về hai phạm trù trên.
Là một sinh viên nên bài viết của em còn nhiều hạn chế. Em rất mong đợc
sự hớng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn để cho những lần viết sau
của em đợc tốt hơn.
2
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Thục đã hớng dẫn em hoàn thành
đề tài trong suốt quá trình viết bài.
Phần II: NộI dung
I. Lý luận về phạm trù ở hữu và thành phần kinh tế
1. Sở hữu.
a) Khái niệm về sở hữu.
Sở hữu là phơng thức chiếm hữu cụ thể mang tính lịch xử cụ thể của con
ngời, những đối tợng dùng vào mục đích sản xuất cũng nh phí sản xuất. Sở hữu
luôn luôn gắn với vật dụng (vật chất hoặc tinh thần ) - đối tợng của chiếm hữu.
Đồng thời sở hữu không chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa con
ngời với nhau. Vì vậy sở hữu là hình thức lịch sử xã hội nhất định của chiếm hữu
t liệu sản xuất. Là một phạm trù kinh tế, sở hữu biểu hiện tổng thể quan hệ kinh
tế xã hội và pháp lý gắn với một chế độ xã hội nhất định.
Cần xem xét phạm trù sở hữu dới hai góc độ có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. ở góc độ thứ nhất, nó đợc coi là phạm trù kinh tế khách quan. Với góc độ
này, sở hữu đợc địng nghĩa là quan hệ giữa ngời với ngời trong sự chiếm hữu về t
liệu sản xuất, ngời ta gắn sở hữu với quyền sở hữu và việc thực hiện quyền sở hữu
về mặt kinh tế trong quá trình sản xuất và tái sản xuất với t cánh là kết quả của
quyền sở hữu - cái mà các chủ sở hữu phải quan tâm.
Quan hệ sở hữu là sự tổng hoà các mối quan hệ sản xuất xã hội , tức là các
quan hệ của của các giai đoạn tái sản xuất xã hội. Những phơng tiện sống, bao
gồm quan hệ sản xuất trực tiếp, phân phối, trao đổi, lu thông và tiêu dùng đợc xét
trong tổng thể của chúng. Quan hệ sở hữu về kinh tế là hiện diện của bộ máy
pháp lý.
Phạm trù sở hữu khi đơc luận hoá thành quyền sở hữu đợc thực hiện qua
một cơ chế nhất định gọi là chế độ cở hữu. Chế độ cở hữu là sự thế chế hoá các
quan hệ sở hữu thành các quyền : sở hữu, sử dụng, kế thừa, thế chấp, chuyển nh-
ợng trong đó quyền sở hữu và quyền sử dụng là đáng chú ý nhất.
b) Đối tợng của sở hữu
Sở hữu là quan hệ kinh tế luôn ở trạng thái vận động, biến đổi. Trong quá
trình vận động, đối tợng của sở hữu cũng có sự biến động thích ứng. Trong xã hội
cộng sản nguyên thuỷ, đối tợng của sở hữu là những cái có sẵn trong tự nhiên
(hiện vật). Đến xã hội nộ lệ, cùng với sở hữu vật còn có sở hữu nộ lệ. Xã hội
Phong Kiến đối tợng của sở hữu là TLSX (đất đai, công cụ lao động ). Trong
xã hội T bản chủ nghĩa, đối tợng sở hữu không chỉ là hiện mà quan trọng hơn là
giá trị và tiền tệ. Ngày nay, bên cạnh việc sở hữu giá trị và tiền tệ, còn có sở hữu
trí tuệ, giáo dục
2. Thành phần kinh tế
a) Khái niệm thành phần kinh tế:
3
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
- Quan niệm 1: Thành phần kinh tế là một hệ thống các mối quan hệ sản xuất xác
định, đồng nhất, cùng tồn tại với hệ thống lịch sử khác trong khuôn khổ cùng một
c sở hạ tầng kinh tế. Mặt cơ bản tạo nên một TPKT, đó là: mặt hệ thống các mối
quan hệ sản xuất xác đinh, đồng nhất nhng cha chỉ ra đợc mối quan hệ hữu cơ
giữa hệ thống QHSX xác định với tính chất và trình độ của LLSX nhất định và do
đó cha thấy đợc sự vận động của nó
- Quan niệm 2: Thành phần kinh tế là một khu vực kinh tế đại diện cho một kiểu
kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về t liệu sản suất. Theo quan
niệm này nét đặc trng nhất của TPKT là dựa trên chế độ sở hữu nhất định về
TLSX. Đây là mặt bản chất nhất, do đó nó là căn cứ để phân biệt các thành phần
kinh tế với nhau.
- Quan niệm 3: Thành phần kinh tế là một loại hình tổ chức hoạt động kinh tế
hoặc là cha phát triển tới độ hoàn chỉnh để tự xác lập mình nh là một PTSX hoàn
chỉnh nữa.
b) Các thành phần kinh tế nớc ta hiện nay.
-Kinh tế nhà nớc.
Thành phần kinh tế nhà nớc là những đơn vị tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh
hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu nhà nớc,
hoặc phần của nhà nớc chiếm tỉ trọng khống chế.
Kinh tế nhà nớc bao gồm các Doanh nghiệp nhà nớc (kinh tế quốc doanh), các tài
sản thuộc về nhà nớc.
Kinh tế nhà nớc thuộc sở hữu nhà nớc, sản xuất kinh doanh theo nguyên tặc hạch
toán kinh tế, thực hiện phân phối theo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kinh tế nhà
nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc
để đảm bảo những mục tiêu kinh tế xã hội. Cần hoàn thiện chế độ chính sách,
luật pháp bảo đảm Doanh nghiệp nhà nớc thật sự là đơn vị sản xuất hàng hoá có t
cách pháp nhân. Phân định rõ quyền sở hữu nhà nớc với quyền đại diện chủ sở
hữu nhà nớc, quyền sở hữu nhà nớc với quyền sử dụng quyền quản lý. Tách bạch
chức năng quản lý kinh tế với quản lý tài sản của nhà nớc và quản lý kinh doanh
của Doanh nghiệp.
-Kinh tế hợp tác.
Kinh tế hợp tác là sự liên kết kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế với
các hình thức đa dạng phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các bên tham
gia.
Hình thức quan trọng của kinh tế hợp tác là hợp tác xã. Kinh tế hợp tác xã
là hình thức liên kết kinh tế có pháp nhân, tuân thủ theo những nguyên tắc, có tổ
chức chặt chẽ và điều lệ hoạt động rõ ràng, Kinh tế hợp tác xã đợc phát triển dới
nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng
cùng có lợi.
Nhà nớc cần xây dựng và thực hiện có hiệu lực các chính sách kinh tế vĩ
mô đối với nông nghiệp , nông dận, đầu t trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng
cho sản xuất đời sống , chính sách thịi trờng để từng bớc đa kinh tế hợp tác xã
cùng với kinh tế nhà nớc dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
-Kinh tế t bản nhà nớc.
4
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Kinh tế t bản nhà nớc là sản phẩm của sự can thiệp cảu nhà nớc vào hoạt
động của các đơn vị tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc. Kinh tế t bản nhà nớc nớc
bao gồm tất cả các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất kinh doanh giữa kinh tế
nhà nớc và kinh tế t bản trong và ngoài nớc, nhằm sử dụng khai thác, phát huy thế
mạnh của mỗi bên tham gia, đặt dới sự kiểm soát, giúp đỡ cảu nhà nớc.
Kinh tế t bản nhà nớc có vai trò trong việc huy động, sử dụng vốn, kỹ thuạt
công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý của nhà t bản. Cần đa dạng hoá các hình
thức liên doanh liên kết với các tổ chức và công ty nớc ngoài, nâng dần tỷ lệ đầu
t của phía Việt nam. Đồng thời áp dụng nhiều hình thức góp vốn kinh doanh giữa
nhà nớc với các nhà kinh doanh t nhân trong nớc dới nhiều hình thức công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh
nghiệp trong nớc phát triển, tăng sức cạnh tranh và hợp tác với nớc ngoài. Cải
hiện môi trờng đầu t và nâng cao năng lực quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn đầu
t, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động.
-Kinh tế t bản t nhân.
Kinh tế t bản t nhân là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà
t bản trong nớc hoặc nớc ngoìa đầu t để sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Nét nổi bật
cảu thành phần kinh tế này là sở hữu t nhân hoặc sở hữu hỗn hợp, thuê và bóc lột
sức lao động làm thuê, thờng đầu t vào những ngành vốn ít, lãi cao. Kinh tế t bản
t nhân tổ chức dới hình thức doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần
Cần khẳng địn nhất quán chủ trơng phát triển kinh tế t bản t nhân, bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác. Khuyến khích t bản t nhân đầu t vào
sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích hợp lý, tạo điều kiện cho các nhà t
bản đầu t phát triển.
-Kinh tế cá thể
Kinh tế cá thể của tiểu chủ, nông dân, thợ thủ công, những ngời buôn bán,
dịch vụ và cá thể. Sở hữu cảu thành phần kinh tế này là sở hữu t nhân, sản xuất
kinh doanh phân tán, trình độ kĩ thuật thủ công. Mục đích chủ yếu là nuôi sống
mình, còn tiểu chủ bản thân vừa lao động vừa thuê một số ít lao động.
Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ rất có điều kiện phát triển trên cơ sở
vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống. Vì thế nó đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế, có khả năng đóng góp phát triển kinh tế xã hội. Do những
u thế của nó, nhà nớc và các thành phần kinh tế không thể không tạo điều kiện, h-
ớng dẫn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ về vốn, kỹ thuật công nghệ, tiêu thụ
sản phẩm để từng bớc tham gia kinh tế hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm
vệ tinh cho các Doanh nghiệp lớn đang phát triển trong vùng.
II. Cơ cấu sở hữu nớc ta hiện nay.
1. Vấn đề sở hữu trông nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung.
Thời kỳ bao cấp, nớc ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan
liêu, bao cấp. Giải quyết vấn đề sở hữu chúng ta mắc phải khuyết điểm khá trầm
trọng. Chúng ta đã tuyệt đối hoá tính hơn hẳn của sở hữu XHCN và quan niêm
5
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
rằng chỉ có chế độ công hữu mới bảo đảm mục đích mọi nhu cầu xã hội, mới thúc
đẩy sản xuất theo kế hoạch nhà nớc. Chúng ta coi chế độ là mục tiêu, là tiêu chí
số một để đánh giá mức độ đạt đợc của quá trình tiến lên CNXH.
Điều đó dẫn tới một sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức là hợp tác xã
càng lớn càng có nhiều hợp tác xã cấp cao. Xí nghiệp có qui mô càng lớn thì
chất lợng XHCN càng nhiều, càng tiến gần đến CNXH hơn. Chúng ta đã định
kiến với sở hữu cá nhân của ngời lao động, thậm chí còn coi đó là hình thức đối
lập với XHCN, là mầm mống khôi phục lại chế độ ngời bóc lột ngời.
Nhà nớc ta đã thực hiện chủ trơng ồ ạt xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế độ
công hữu về TLSX dới hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Song sở hữu
toàn dân thực chất là sở hữu nhà nớc, nhà nớc đại diện cho ngời lao động thực
hiện quyền sở hữu đối với các TLSX chứ không phải ngời lao động là chủ sở hữu
trực tiếp, không đớc bảo đảm bằng cơ sở kinh tế trực tiếp. Còn sở hữu tập thể
( trong hợp tác xã ) đợc vận hành theo cơ chế cũ, tự nhiên biến thành ban quản lý
hợp tác xã, còn xã viên thì nh ngời đi làm thuê. Thực tế trên đã cho thấy ngời dân
chỉ là chủ sở hữu hình thức, các quan hệ lợi ích cha đợc tạo ra nhằm thúc đẩy ng-
ời lao động hăng say làm việc dẫn tới năng suất lao động thấp, hàng hoá thiếu
then, đời sống nhân dân trở nên ngày càng khó khăn.
Đại hội VI đã tạo ra bớc ngoặt quan trọng trong quá trình thúc đẩy LLSX
phát triển. Đảng ta đã nhận thức đợc LLSX lạc hậu không chỉ trong trờng hợp
QHSX lạc hậu mà ngay cả khi QHSX và LLSX phát triển không đồng bộ, có
những yếu tố quá xa xôi với trình độ phát triển của LLSX. Trong khi nền kinh tế
nớc còn phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu, kinh tế hàng hoá
cha phát triển, trình độ xã hội hoá còn thấp, muốn hoàn thành quá trình cải tạo
XHCN trong một thời gian ngắn, đa nhanh QHSX lên trình độ xã hội hoá cao, bỏ
qua các hình thức trung gian quá đọ là thoát li tính chất và trình độ phát triển của
LLSX. Chủ trơng đó đã kìm hãm tiềm năng phát triển to lớn của nhân dân về vốn,
sức lao động và tay nghề để phát triển LLSX. Hơn nữa, việc cải tạo QHSX chỉ
chú ý tới chế độ t hữu về TLSX . Ngay cả những đơn vị thuôc sở hữu toàn dân đ-
ợc trang bị kỹ thuật rất đầy đủ cũng làm ăn kém hiệu quả, cồng kềnh trong họat
động.
2. Sở hữu và tính đâ dạng của nó trong nền kinh tế thị trờng.
a) Sở hữu là một phạm trù kinh tế xuất phát và có bản chất kinh tế
chính trị.
Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Phạm trù sở hữu đợc luật
hoá thành quyền sở hữu và quyền sở hữu đợc thực hiện qua một cơ chế nhất định
gọi là chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế xã
hội. Chỉ có giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các
vấn đề động lực, lợi ích kinh tế, chính trị, pháp quyền và xã hội.
Hình thức, mức độ và phạm vi sở hữu phụ thuộc vào trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Sự thay đổi các hình thức
sở hữu trong lịch sử không do ý chí của con ngời quyết định, mà là quá trình phát
triển lịch sử tự nhiên.
Các Mác khi nghiên cứu phơng thức sản xuất TBCN, ông quan niệm:
Trong mỗi thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát triển một cách khác nhau, và
6
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
trong một loạt những quan hệ xã hội khác nhau, cho nên định nghĩa quyền sở hữu
t sản không phải là cái gì khác, mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của
phơng thức sản xuất t bản.
Từ luận điểm trên, có thể hình dung phạm trù sở hữu nh một tổng thể các
quan hệ kinh tế và theo đó là tổng thể các quyền sử dụng, phân phối, quản lý
gắn với một xã hội nhất định. Cần xem xét phạm trù sở hữu dới hai góc độ có mối
quan hệ với nhau là: hình thức pháp lý của sở hữu và sở hữu đợc thực hiện về kinh
tế. Bởi vậy, có thể hiểu: sở hữu là một phạm trù kinh tế, phản ánh sự thống nhất
biện chứng giữa sở hữu với t cách là hình thức pháp lý, là điều kiện cần thiết của
sản xuất, với sở hữu đợc thức hiện về mặt kinh tế, mặt kết quả thực tế trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất.
Trong một thời gian dài chúng ta coi sở hữu là mục tiêu, cho nên đã nôn
nóng xoá bỏ t hữu để phát triển nhanh chế độ công hữu để đạt mục tiêu CNXH.
Một số năm gần đây lại coi sở hữu chỉ là phơng tiện. Thực tế những năm qua đã
chỉ rõ việc làm đó là sai lầm. Quan điểm đúng đắn của Đảng ta hiện nay là coi sở
hữu vừa là mục tiêu vừa là phơng tiện. Vì sở hữu nói riêng, quan hệ sản xuất nói
chung không chỉ là phơng tiện nh mọi phơng tiện thông thờng có thể tuỳ tiện thay
đổi phơng tiện này bằng phơng tiện khác; mà là một bộ phận cấu thành hữu cơ
của hình thái kinh tế xã hội nhất định. CNXH có những đặc trng riêng về sở hữu,
những quan hệ sản xuất và phân phối này sinh từ chế độ sở hữu đó.
b) Tính đa dạng của sở hữu.
Nếu nh trong nền kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá giản đơn, ngời ta
quan tâm chủ yếu đến mặt hiện vật của sở hữu (TLSX), thì trái lại trong nền kinh
tế thị trờng hiện đại với tính đa dạng của nó ngời ta không chỉ quan tâm đến mặt
hiện vật mà điều quan trọng hơn là họ quan tâm đến hình thái giá trị - hình thái
tiền của nó nh vốn tự có, vốn cho vay, vốn cổ phần, có đặc tính là bảo tồn vốn
và sinh lợi, đó là hình thái phổ biến của kinh tế thị trờng, nhất là trong thời kỳ
xuất hiện và phát triển công ty cổ phần, thời ký thống trị của t bản tài chính thay
cho sự thống trị của t bản công nghiệp.
Dới tác động của cuộc cách mạng KHKT và công nghệ, phạm trù sở hữu
không nên chỉ giới hạn trong phạm vi TLSX mặc dù đó là cơ bản, mà còn có sự
phát triển và biểu hiện cao hơn, mới hơn và ngày càng có vai trò quan trọng.
Chẳng hạn: sở hữu sức lao động, đất đai, KHCN, sở hữu trí tuệ, sở hữu công
nghiệp, sở hữu vô hình, uy tín của Doanh nghiệp Đó là một tài sản vô giá trong
nền kinh tế thị trờng.
c) Quyền sở hữu đợc tách riêng
Lần theo chiều dài lịch sử cho thấy các quyền gắn liền với phạm trù sở hữu
vốn, có sự biến đổi đáng kể. Thờng thời kỳ đầu quyền sở hữu và quyền quản lý,
sử dụng thống nhất trong cùng ngời chủ sở hữu về mặt pháp lý. Sự xuất hiện t
bản cho vay đã làm cho hai quyền này tách rời nhau t bản sh tách rời t bản sử
dụng. Sự xuất hiện công ty cổ phần và lao động quản lý trở thành một nghề, thì
có sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền quản lý. Tất nhiên, sự tách rời này chỉ
có ý nghĩa tơng đối vì giám đốc thực hiện chức năng quản lý dựa theo các chiến l-
ợc sản xuất kinh doanh kĩ thuật và công nghệ do hội đồng quản lý với t cách là
ngời đại diện cho các chủ sở hữu đề ra, do vậy quyền sở hữu quyết định quyền
quản lý và phân phối cũng không vì thế mà không còn giá trị nh một số ngời đã
ngộ nhận.
7
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Việc tách quyến sở hữu với quyền sử dụng và quyền quản lý có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn quan trọng ở nớc ta hiện nay nó liên quan đến:
- Chủ trơng giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
các hộ nông dân.
- Việc xác định ngời chủ sở hữu trong các Doanh
nghiệp nhà nớc, mối quan hệ giữa nhà nớc với t cách là ngời chủ sở hữu
với giám đốc điều hành và tập thể ngời lao động. ở đây cần có tổ chức nào
có thể đại diện nhà nớc làm chủ sở hữu thực hiện hợp đồng giữa cơ quan
này với giám đốc điều hành.
- Chuyển các bộ, sở từ chỗ là hai nhiệm vụ (chủ quản
và chức năng) sang làm một nhiệm vụ- gắn với chức năng quản lý vĩ mô
của nhà nớc về chuyên ngành đó đối với các thành phần kinh tế trong cả n-
ớc.
d) Mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền lực
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền lực, một số nhà
nghiên cứu đã phân tích rất đúng là trên thực tế toàn bộ chủ thể xã hội của không
ít các quốc gia trong lịch sử đã và đang có hiện tợng chuyển dịch từ trục sở hữu
sang trục quyền lực và ngợc lại. Từ trục quyền lực chuyển hoá thành trục sở hữu
mà các nhóm xã hội đợc qui định không phải ở chỗ có hay không có sở hữu, mà
là ở vị trí nào trong hệ thống quyền lực. Trong thực tế kẻ có quyền sở hữu có thể
không trực tiếp nắm quyền lực, nhng có thể gián tiếp nắm quyền lực, dùng quyền
lức đso phục vụ, bảo vệ quyền sở hữu của họ. Tất nhiên ngời có quyền lực cũng
làm giàu khi làm nhệm vụ đó. Đi đôi với hệ thống quyền lực là hệ thống phân
phối lại sản phẩm xã hội. Ngời nào có vị trí trong hệ thống quyền lực thì tìm đợc
vị trí trong hệ thống phân phối lại. Vì vậy thay cho sự đấu tranh giai cấp bằng
cuộc đấu tranh thầm lặng, nhng không kém phần ác liệt trong bộ máy quản lý,
trong các tổ chức kinh tế xã hội về quyền kiểm soát của các kênh của mạng lới
phân phối lại. Chính nó đã làm cho nền kinh tế thiếu năng động, thiếu động lực
làm cản trở sự phát triển kinh tế. ở đây không chỉ có sở hữu tạo ra quyền lực mà
ngợc lại thông qua hệ thống phân phối lại, quyền lực cũng tạo ra sở hữu tài sản,
để hình thành tầng lớp t nhân mới đầy thế lực cần đợc lu ý trong quá trình xây
dựng và điều chỉnh quan hệ sản xuất nhát là quan hệ sở hữu và quan hệ phân
phối.
e) Sở hữu t nhân hình thức sở hữu tồn tại lâu đời
Trong các hình thức sở hữu, hình thức sở hữu t nhân là một hình thức tồn
tại lâu đời qua nhiều phơng thức sản xuất. Sở hữu t nhân là hệ quả quan trọng và
trực tiếp của quyền tự do cá nhân là cũng là một điều kiện để phát triển quyền tự
do cá nhân. Khẩu hiệu quyền tự do cá nhân ra đời ở châu Âu vào thế kỷ XVIII.
Tất nhiên cho đến nay đã có nhiều thay đổi và đợc bổ sung trong các luật dân sự
ở các nớc theo hớng vừa bảo đảm quyền từ do cá nhân vừa không xem nhẹ lợi ích
của cộng đồng xã hội, của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
3. Cơ cấu sở hữu trong thời kì quá độ.
a) Trớc đây nớc ta đã ồ ạt xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế độ công
hữu dới 2 hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đại hội lần thứ VI của
8
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Đảng đã phát hiện và kiên quyết thông qua đổi mới để khắc phục sai lầm đó,
bằng cách thừa nhận vai trò và sự tồn tại của hình thức t hữu trong tính đa dạng
các hình thức sở hữu. Đây là một bớc ngoặt mang tầm vóc chiến lợc mới, thể hiện
sự đổi mới từ gốc của Đảng ta.
b) Cách tiếp cận khoa học là yếu tố cần thiết, không giáo điều, không
cực đoan hoặc phiếm diện khi đổi mới và xác lập chế độ sở hữu.
c) Các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ,
c1) Quan điểm trớc đây về hình thức sở hữu: có hai hình thức sở hữu cơ
bản là t hữu và công hữu còn các hình thức sở hữu khác chỉ là biết đến trung gian.
c2) Quan điểm về hình thức sở hữu trong thời kỳ đổi mới : có 5 hình thức sở
hữu:
-Sở hữu nhà nớc: bao gồm tất cả các lực lợng kinh tế vật chất trong các Doanh
nghiệp nhà nớc, trong các ngân hàng kho bạc, ngân sách, dự trữ quốc gia mà nhà
nớc là ngời chủ sở hữu. Trong các xã hội còn tồn tại nhà nớc tất yếu tồn tại sở
hữu nhà nớc. Dới CNTB cũng có sở hữu nhà nớc, bởi vậy nó không phải là hình
thức sở hữu riêng có của CNXH. Sự khác nhau giữa hai hình thức sở hữu nhà nớc
XHCN và TBCN là do tính chất của nhà nớc và tính chất của quan hệ phân phối
khác nhau quyết định.
-Sở hữu t bản t nhân: Đây là hình thức mà là tài sản, vốn liếng thuộc về các chủ t
nhânt bản một chủ, hoặc nhiều chủ nhng trong đó chủ t bản chiếm tỷ trọng (hàm
lợng) khống chế, dựa trên lao động làm thuê.
-Sở hữu hôn hợp: Hình thức sở hữu này tồn tại khá phổ biến trong khời kỳ quá độ
lên CNXH, tồn tại trong nhiều thành phần tuỳ theo hàm lợng cổ phần của các chủ
sở hữu.
-Sở hữu tập thể: là sở hữu của những chủ thế kinh tế (cá nhân ngời lao động) tự
nghuyện tham gia hợp tác cùng với nhau để tổ chức sx kinh doanh.
-Sở hữu cá thể: là sở hữu về TLSX của bản thân ngời lao động. Chủ thể của sở
hữu này là nông dân, cá thể, thợ thủ công,, tiểu thơng, Họ vừa là chủ sở hữu
đồng thời là ngời lao động. Với qui mô và phạm vi rộng hơn là t hữu tiểu chủ, chủ
trang trại có lao động.
III. Mối quan hệ và phơng hớng giảI quyết mối
quan hệ giữa sở hữu với các thành phần kinh
tế.
1. Mối quan hệ giữa sở hữu với các thành phần kinh tế.
Với chủ trơng của nhà nớc, đờng lối phát triển của chúng ta là phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t nhân.
Vấn đề sở hữu có liên quan đến thành phần kinh tế vì nó là cơ sở kinh tế
một căn cứ để xác định thành phần kinh tế. Mỗi thành phần kinh tế có những
đặc trng riêng có của nó về tính chất xã hội hoá lao động, trình độ phát triển
LLSX, QHSX, lợi ích kinh tế. Trong đó quan trọng nhất là quan hệ sở hữu về
9
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
TLSX quyết định bản chất của các thành phần kinh tế đó. Quan hệ sở hữu quyết
định sự vận động và phát triển của các thành phần kinh tế . Còn các thành phần
kinh tế là biểu hiện của quan hệ sở hữu. Mỗi thành phần kinh tế biểu hiện ra ở bề
mặt cuộc sống dới dạng các hình thức kinh tế cụ thể.
Trong thực tiễn, các thành phần kinh tế không tách biệt nhau, mà quan hệ
với nhau, tác động lẫn nhau, đan kết với nhau dới nhiều hình thức kinh tế. Tuy thế
không có nghĩa là bản chất cảu chúng đã bị hoà tan không còn xác định đợc nữa.
các hình thức kinh tế bao giờ cũng là biểu hiện ra bên ngoài càu các quan hệ sở
hữu khác nhau.
Trong thời kỳ quá độ của nớc ta, tồn tại đa dạng hoá các hình thức sở hữu,
chúng ta không tồn tại biệt lập mà đan xen với nhau và quyết định sự hình thành
các tổ chức kinh tế đa dạng. Mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu và các hình
thức kinh tế là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Nội dung và hình thức
phải phù hợp nhau. Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sở hữu và hình thức kinh tế
đợc thể hiện thông qua lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế là một trong những nhân tố
cơ bản thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, cần phân biệt sở hữu, thành phần kinh tế với các hình thức
Doanh nghiệp. Với cơ chế cũ chúng ta vô tình hay hữu ý đã đồng nhất chế độ sở
hữu và thành phần kinh tế. Khi đó chúng ta thừa nhận có ba thành phần kinh tế :
quốc doanh, hợp tác, kinh tế cá thể . Trong đó kinh tế cá thể đợc coi là phi
XHCN. Ngoài ra kinh tế quốc doanh, vốn là sở hữu nhà nớc, lại đồng nhất với sở
hữu toàn dân. Với cách giải thích nhà nớc là đại diện cho toàn dân đã làm giảm
nhẹ trách nhiệm của nhà nớc, khiến chúng ta rơi vào tình trạng không xác định rõ
chủ sở hữu gắn liền với trách nhiệm.
Chế độ sở hữu chỉ xét về quan hệ với những TLSX chủ yếu, còn thành
phần kinh tế lại là những tác nhân kinh tế , là nguồn tạo ra những giá trị sản xuất
dịch vụ cho xã hội. Cũng là sở hữu t nhân nhng các tác nhân kinh tế có thể là ng-
ời sản xuất cá thể, tiểu chủ hay t sản t nhân. CNTB chỉ có hai hình thức sở hữu là
sở hữu nhà nớc và sở hữu t nhân. Chúng ta mong muốn xây dựng một chế độ sở
hữu duy nhất đó là sở hữu toàn dân. Nhng để đi tới đó loài ngời phải đi một bớc
quá độ là xây dựng CNXH với hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể. Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH một mặt chế độ sở hữu đã đợc
đa dạng hoá, xuất hiện hình thức đan xen về chế độ sở hữu. Mặt khác cũng thấy
rõ nét xuất hiện 5 thành phần kinh tế : kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá
thể tiểu chủ , kinh tế t bản t nhân và kinh tế t bản nhà nớc. Rõ ràng chúng ta đã có
một sự điều chỉnh có thể gọi là điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp với yêu
cầu phát triển của LLSX nhằm giải phóng sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
và xã hội, cải thiện dời sống nhân dân. Chính nhờ việc phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, công cuộc đổi mới của nớc ta đã nhanh chóng đạt đợc những
kết quả quan trọng.
2. Phơng hớng tiếp tục đổi mới các thành phần kinh tế.
a) Nắm vững định hớng XHCN trong việc xây dung nền kinh tế
nhiều thành phần.
a1) Nắm vững định hớng định hớng XHCN là một tất yếu khách quan khi
xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
10
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Sự nghiệp cách mạng XHCN ở nớc ta trong thời kỳ quá độ là sự nghiệp
của tất cả các thành phần kinh tế, nhng do bản chất của các thành phần kinh tế
khác nhau, nên sự hoạt động giữa các thành phần kinh tế không chỉ có mặt thống
nhất, mà còn có mặt mâu thuẫn với nhau. Sự phát triển mâu thuẫn về lợi ích giữa
các thành phần, nhất là thành phần kinh tế t bản t nhân, cá thể dẫn đến sự bất lợi
đối với việc thực hiện mục tiêu độc lập, dân chủ giàu mạnh, xã hội công bằng văn
minh theo định hớng XHCN. Nhà nớc cần có chính sách kết hợp hài hoà lợi ích
kinh tế, để hớng sự hoạt động của các thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nớc đi
theo định hớng XHCN đã chọn.
Mặc dù nền kinh tế nhiều thành phần là cơ sở kinh tế của sự tồn tại và phát
triển kinh tế thị trờng, nhng kinh tế thị trờng với t cách là cái chung, tự nó không
thể đitheo định hớng XHCN, nếu trong quá trình xây dựng và phát triển các thành
phần kinh tế không nắm vững định hớng XHCN. Cần ku ý rằng, kinh tế thị trờng
có xu hớngtự phát TBCN con đờng quen thuộc và đã có tiền lệ trong lịch sử
hình thành và phát triển kinh tế thị trờng trên thế giới. Hơn nữa, kinh tế thị trờng
mà nớc ta định xây dựng không phải là kinh tế thị trờng bất kỳ, mà là kinh tế thị
trờng định hớng XHCN.
Lịch sử và kinh nghiệm chuyển đổi nền kinh tế vủa nhiều nớc cho thấy
kinh nghiệm chuyển sang kinh tế thị trờng, việc xử lý vấn đề cơ cấu sở hữu và
thành phần kinh tế theo hớng bất lợi (theo hớng hạ thấp) vai trò chủ đạo của sở
hữu nhà nớc, tăng cờng vai trò của sở hữu t nhân, đến một lúc nào đó sự tơng
quan về sở hữu thay đổi sữ dẫn đến sự thay đổi trong tơng quan về giai cấp, về t t-
ởng và tình trạng của Đảng cầm quyền. Hậu quả khó tránh khỏi khi chệch đi định
hớng XHCN đã chọn.
Chính vì vậy việc nắm vững định hớng XHCN trong xây dựng và phát
triển các thành phần kinh tế là cần thiết và có ý nghĩa về nguyên tắc cần đợc coi
trọng.
a2) Nội dung định hớng XHCN.
Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa các nguồn lực bên trong
và bên ngoài để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc; để cải thiện đời sống của
nhân dân coi nó là mục tiêu hàng đầu của việc khuyến khích phát triển các thành
phần kinh tế.
Lấy kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể dần
dần trở thành nền tảng của chế độ mới. Tất nhiên, nội dung này chỉ có thể thực
hiện nếu kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể đợc chủ động đổi mới; phát triển và
nâng cao hiệu quả; đợc nhà nớc tạo điều kiện kinh tế, pháp lý thuận lợi cho các
chủ thể kinh tế; mở rộng các hình thức liên doanh, áp dụng rộng rãi các hình thức
kinh tế của CNTB nhà nớc.
Xác lập, củng cố và nâng cao đợc địa vị làm chủ của nguồn lao động trong
nền sản xuất xã hội; thực hiện ngày một tốt hơn mục tiêu công bằng xã hội. Tất
nhiên, mục tiêu đó đặt trong khuôn khổ của sự tồn tại nền kinh tế thị trờng. Thừa
nhận tồn tại lâu dài hình thức thuê mớn lao động, nhng không để biến thành quan
hệ thống trị và sự phân hoá đối lập về giai cấp.
Thực hiện đa dạng hoá hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời dqạ trên mức đóng góp của các
nguồn lực khác vào kết quả kinh doanh để phân phối và phân phối thông qua
11
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
phúc lợi xã hội. Điều hoà việc phân phối hợp lý các thu nhập. Khuyến khích làm
giàu hợp pháp đi đôi với việc xoá đói giảm nghèo và không thể diễn ra sự chênh
lệch quá đáng giữa các vùng, các tầng lớp dân c.
Tăng cờng hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nớc, khai thác tối đa vai trò tích
cực; khắc phục, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị tr-
ờng.
Trong lĩnh vực đối ngoại và kinh tế đối ngoại, sự hoạt động của nó phải
đảm bảo sao cho: độc lập và chủ quyền đợc giữ vững và lợi ích quốc gia, lợi ích
dân tộc đợc bảo vệ.
b) Những nội dung và chính sách đổi mới trong trong từng
thành phần kinh tế.
b1) Đối với thành phần kinh tế nhà nớc.
Mặc dù qua 10 năm đổi mới, thành phần kinh tế này có những cố gắng
nhất định, trụ đứng, đổi mới và vơn lên, song vẫn còn nhiều Doanh nghiệp nhà n-
ớc cha làm tốt vai trò chủ đạo cả trong sản xuất lẫn lu thông. Trong thời gian tới
cần tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới và xây dựng các Doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động sao cho có hiệu quả, cùng với các lực lợng khác trong khu vực kinh tế nhà
nớc nh: tài chính, ngân hàng, kho bạc, dự trữ quốc gia, vơn lên đảm nhận vai
trò chủ đạo. Vai trò này biểu hiện sự mở đờng và hỗ trợ cho các thành phần khác
phát triển, thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là công cụ có
sức mạnh vật chất để nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nề kinh tế thị trờng định hớng
XHCN. Nhà nớc, thông qua việc tổ chức sắp xếp lại các Doanh nghiệp nhà nớc,
các Nghị định 90/CP, 91/CP để tập trong nắm những ngành, những lĩnh vực,
những khâu then chốt trọng yếu nh: kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài
chính ngân hàng, bảo hiểm, một số Doanh nghiệp công ích trọng yếu
Tổ chức hợp lý các tổng công ty, bảo đảm sao cho vừa tránh đợc phân tán
lực lợng, vừa chống đợc độc quyền hoặc trở thành cấp hành chính trung gian.
Chăm lo xây dựng đội ngũ giám đốc, đi đôi với việc tích cực giải quyết những
khó khăn về vốn, công nghệ và thị trờng. Các Doanh nghiệp mà nhà nớc không
cần nắm và thua lỗ kéo dài, thì xử ký bằng giải thể, hoặc thay đổi hình thức sở
hữu.
b2) Đối với thành phần kinh tế hợp tác.
Đối với kinh tế hợp tác xã theo hớng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ
xã viên. Thực hiện việc nhà nớc giúp đỡ, hỗ trợ và hớng dẫn phát triển các loại
hình kinh tế hợp tác kiểu mới trong các ngành, các lĩnh vực ở nông thôn, dựa trên
nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, kết hợp sức mạnh của tập thể
và sức mạnh của hộ xã viên trong nông, lâm, ng nghiệp. Trên cơ sở tổ chức sắp
xếp lại khu vực kinh tế Nhà nớc và đổi mới kinh tế tập thể, làm cho chúng ngày
càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế hợp tác có nhiều dạng: có những hợp tác xã là tổ chức hoạt động
chính của các thành viên; có những hợp tác xã mà thành viên tham gia chỉ đóng
một phần vốn và lao động, hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ. Hợp tác xã có
thể kinh doanh đa dạng không bị giới hạn bởi địa hình giới hành chính, có nhiều
hình thức và có nhiều mức độ, mỗi hộ gia đình có thể tham gia đồng thời và nhiều
loại hình kinh tế hợp tác. Trong các hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã cổ phần
12
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
là hình thức có nhiều triển vọng. Những hợp tác xã cũ không còn tác dụng thì giải
thể, tạo điều kiện ra đời của các hợp tác xã kiểu mới.
b3) Đối với thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
Thành phần kinh tế này có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng và tồn tại
lâu dài. Nhà nớc cần giúp đỡ họ giải quyết các khó khăn để nâng cao hơn nữa
hiệu quả kinh doanh của họ. Xu hớng vận động của thành phần kinh tế này là
từng bớc đi vào con đờng kinh tế hợp tấc theo nguyên tắc tự nguyện, hoặc có thể
làm vệ tinh (gia công, đại lý) cho kinh tế Nhà nớc nếu họ thấy có lợi.
b4) Đối với thành phần kinh tế t bản t nhân
Nhà nớc đánh giá cao vai trò tích cực của thành phần kinh tế này qua 10
năm đổi mới. Bên cạnh vai trò tích cực, thành phần kinh tế này cũng nảy sinh
những hạn chế và tiêu cực nh: làm hàng giả, lậu thuế, trốn thuế, mua chuộc cán
bộ, đầu cơ, buôn lậu Nhà nớc một mặt cần tăng cờng vai trò và hiệu lực quản lý
vĩ mô nhằm hạn chế mặt tiêu cực của nó. Mặt khác, Nhà nớc cần có chính sách
khuyến khích họ bỏ vốn đầu t vào sản xuất công, nông nghiệp, áp dụng kĩ thuật
và công nghệ hiện đại. Không nên có sự phân biệt đối xử với chủ đầu t nớc ngoài
và trong nớc. Có thể và cần có chính sách u tiên, u đãi cho các chủ đầu t là ngời
Việt Nam.
b5) Đối với thành phần kinh tế t bản nhà nớc
Nớc ta đI lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, kinh tế t bản Nhà n-
ớc có vị trí quan trọng và mang tính phổ biến; là hình thức tốt nhất để thu hút
vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến; là hình thức kinh tế quá độ trung gian để đa
nớc ta đi lên CNXN. Cần mở rộng việc vận dụng các hình thức kinh tế này trong
thời gian tới ở nớc ta.
Kinh tế t bản nhà nớc là hình thức sở hữu hỗn hợp, bao gồm các hình thức
hợp tác liên doanh giữa kinh tế Nhà nớc với t bản t nhân trong nớc và hợp tác liên
doanh giữa kinh tế Nhà nớc với t bản nớc ngoài.
Tóm lại, các hình thức sở hữu và do đó các thành phần kinh tế nói trên có
mối quan hệ với nhau, mỗi thành phần đều có vị trí quan trọng nhất định. Chúng
vừa có tính độc lập tơng đối, vừa không biệt lập, mà đan xen lẫn nhau, vừa thống
nhất vừa mâu thuẫn; vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau, luôn đổi mới vận động
và phát triển theo định hớng mục tiêu dân giàu nớc mạnh và xã hội công bằng
văn minh. Do vậy khi nói các thành phần kinh tế đều bình đẳng, nghĩa là bình
đẳng trớc pháp luật và đều đợc Nhà nớc khuyến khích phát triển theo đúng pháp
luật, chứ không có nghĩa là các thành phần đều có vai trò nh nhau trong cơ cấu
thành phần kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta.
3. Đổi mới các quan hệ sở hữu và cải tạo các quan hệ sở hữu trong nề
kinh tễ quốc dân.
a) Đổi mới các quan hệ sở hữu.
Đây là buổi hội thảo khoa học đợc tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh năm
1991, bàn về 3 nội dung chính sau: Đổi mới nhận thức chung về quan hệ sở hữu,
đổi mới sở hữu trong lĩnh vực quốc doanh, đổi mới sở hữu trong lĩnh vực nộng
nghiệp.
13
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Nhiều ý kiến tham luạn đều cho rằng do có nhận thức sai lầm và giáo đIều
về CNXH mà ở các nớc XHCN (trong đó có nớc ta) đã có những biến dạng sâu
sắc trong quan hệ sở hữu : Tuyệt đối hoá sở hữu quốc doanh, sở hữu tập thể.
Quan hệ sở hữu đợc xem xét và thiết lập không xuất phát từ trình độ phát triển
của LLSX, và trình độ xã hội hoá thức tếcủa nền sản xuất xã hội. ĐIều này làm
cho nền kinh tế kém hiệu quả, dẫn đến sự tha hoá của quan hệ sở hữu, sự tha hoá
của lao động, ngời lao động bị tách ra khỏi TLSX và kết quả lao động.
Các ý kiến đều cho rằng để cho nền kinh tế phát triển năng động và có
hiệu quả tất yếu phải đổi mới các quan hệ sở hữu, mà một trong những hớng cơ
bản là phải xác định cho đúng chủ thể các quan hệ sở hữu (quan hệ định đoạt,
quan hệ chiếm hữu, quan hệ sử dụng), gắn đợc nguồn lao động với TLSX và với
kết quả sản xuất trong tất cả các hình thức sở hữu .
Các ý kiến phân tích khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần, của
việc đa dạng hoá các hình thức và cấp độ sở hữu . nhiều ý kiến phân tích cho thấy
rằng: mặc dù chế độ sở hữu là cơ sở tồn tại của một chế độ, song nó không phải
là mục đích tự thân. Do đó tính định hớng XHCN đợc quyết định không chỉ giản
đơn ở sự tồn tại và sự chi phối của các thành phần quốc doanh, mà trớc hết phải ở
tính hiệu quả cảu nền kinh tế, ở sự điều tiết và chế định bằng luật pháp và các thể
chế, chính sách của Nhà nớc để hớng các thành phần kinh tế phát triển phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng CNXH. Cũng có ý kiến cho rằng sở hữu vừa là phơng
tiện vừa là mục đích.
Trong lĩnh vực quốc doanh: nhiều ý kiến cho rằng cứ để nh hiện nay quốc
doanh khó có thể đóng đợc vai trò chủ đạo bởi tính kém hiệu quả của rất nhiều
đơn vị quốc doanh. Phơng hớng đổi mới là trên cơ sở xét lại toàn bộ các đơn vị
quốc doanh để có giải pháp cho phù hợp: quốc doanh cần tập trung vào các lĩnh
vực then chốt có tính chất chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vào các lĩnh vực
hạ tầng cơ sở (đờng xá, giao thông, ), và vào các lĩnh vực mũi nhọn để tạo nên
sức bật cho nền kinh tế . Trong lĩnh vực quốc doanh cũng phải đa dạng hoá các
hình thức và cấp độ sở hữu , vấn đề then chốt là phải làm rõ cả nội dung kinh tế
và hình thức pháp lý của quan hệ sở hữu của các đơn vị kinh tế quốc doanh với t
cách là một chủ thể sản xuất hàng hoá. Nhiều ý kiến đã đi vào phân tích bản chất
kinh tế xã hội, hình thức pháp lý của các loại mô hình doanh nghiệp quốc
doanh khác nhau.
Về sở hữu trong nông nghiệp: các ý kiến tham luận đã phân tích làm rõ
nguyên nhân và hậu quả của sai lầm thiết lập hợp tác xã tập thể hoá. Đó là việc vi
phạm qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực l-
ợng sản xuất , và vi phạm qui luật tự nhiên- tính đặc thù của sản xuất nông
nghiệp, đã á dụng kiểu quản lý công nghiệp vào nông nghiệp. Điều đó dẫn đến sự
tha hoá quan hệ sở hữu trong nông nghiệp, tha hoá giữa ngời nông dân, kìm hãm
quá trình phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp. Các ý kiến đều cho
rằng khẳng định hộ là đơn vị tự chủ, ngời nông dân phải đợc làm chủ về ruộng
đất và các TLSX. Đa số ý kiến cho rằng ruộng đất vẫn coi là sở hữu toàn dân nh-
ng giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài, đợc quyền thừa kế, chuyển nhợng
quyền sử dụng . Nhng cũng có ý kiến cho rằng trong nông nghiệp cũng có nhiều
thành phần kinh tế phát triển, vậy cũng phải đa dạng hoá quan hệ sở hữu ruộng
đất, vẫn có thể giao quyền sở hữu ruộng đất cho ngời nông dân mà không sợ phát
triển TBCN và có luật pháp và chính sách của Nhà nớc điều tiết.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét