gửi thanh toán để tiến hành cho vay khi các khoản tiền gửi của khách hàng cha đ-
ợc sử dụng đến, làm cho đồng vốn tham gia nhiều lần cho chu kỳ sản xuất đem
lại hiệu quả cho cá nhân và toàn xã hội .
+ Thanh toán không dùng tiền mặt cùng với hoạt động tín dụng tạo ra tiền
gửi: Thông qua các khoản tiền mà khách hàng chuyển vào tài khoản của mình tại
ngân hàng, lại chính là xuất phát từ ngân hàng đó là ngân hàng đã cấp tín dụng,
Nh vậy trong phần lớn trờng hợp chính tín dụng tạo ra tiền gửi. Từ đó rút ra rằng
trong một số chừng mực nào đó các ngân hàng tuỳ thuộc vào vịêc cấp tín dụng
nhiều hay ít mà làm tăng nhiều hay ít các tài khoản của khách hàng. Từ đó làm
tăng lợng khách hàng giao dịch với ngân hàng. Giúp ngân hàng tăng thêm thu
nhập đông thời đẩy mạnh vòng quay vốn .
+ Thanh toán không dùng tiền mặt đã hạn chế rủi ro, an toàn cao trong lu
thông và mang lại thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá. Chẳng hạn ngời bán
hàng chỉ cần cầm tờ séc mà ngời mua phát hành đến ngân hàng phục vụ mình
hoặc ngân hàng phục vụ ngời phát hành thì ngân hàng sẽ trích nợ tài khoản ngời
phát hành séc (nếu tờ séc hợp lệ, hợp pháp và trên tài khoản ngời mua có đủ điều
kiện ) và có tài khoản ngời bán (ngời thụ hởng). Không may trong thời gian cha
nộp séc
(séc vẫn còn thời hạn) mà bị mất thì tài sản của họ vẫn đợc đảm bảo không bị mất,
nếu khách hàng thông báo việc mất séc với Ngân hàng phục vụ mình kịp thời.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện
chức năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế: Mặt khác
nó giúp cho Nhà nớc có kế hoạch điều hoà lu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng
tiền, giữ vững sức mua của đồng tiền.
+ Thông qua quá trình kiểm soát mà ngân hàng có thể can thiệp vào cách sử
dụng vốn, kiểm soát đợc quá trình luân chuyển vốn, tác động chi phối đến phơng
pháp cách thức sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế sao cho có hiệu quả.
+ Thông qua qúa trình kiểm soát đối với các hoạt động của nền kinh tế ngân
hàng có những thông tin để phản ánh lên chính phủ, thông tin để thực hiện các
dịch vụ của ngân hàng. Đồng thời cùng với Nhà nớc, ngân hàng có biện pháp bảo
đảm cho việc đầu t và nâng cao hiệu quả vốn đầu t. Chính qua viêc thanh toán
5
không dùng tiền mặt sẽ tăng thêm tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng và
đây cũng là chiến lợc khách hàng của ngân hàng nếu ta thực hiện tốt.
Thanh toán không dùng tiền mặt cho giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế. Vì vậy ngân hàng không ngừng tìm mọi biện pháp cải tiến thể thức thanh toán
nhằm đáp ứng và phục vụ tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế .
3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
3.1. Séc thanh toán:
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, đợc lập trên mẩu do Ngân hàng Nhà nớc
quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh
toán của mình để trả cho ngời thụ hởng có tên ghi trên séc hoặc ngời cầm séc.
Nh vậy chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm: Ngời phát hành, ngời thụ
hởng và Ngân hàng, mỗi bên có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định trong thanh toán
séc.
Phạm vi áp dụng
Séc thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở cùng
một đơn vị hoặc khác đơn vị nhng trong cùng hệ thống tổ chức tín dụng, Kho bạc
Nhà nớc ;
Séc thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các
đơn vị khác hệ thống tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nớc chỉ áp dụng trong trờng
hợp các đơn vị này có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Bắt đầu từ ngày 1/4/1997 chế độ thanh toán séc mới quy định theo nghị định
30/CP của Chính phủ và thông t hớng dẫn số 07/TT- NH1 của Ngân hàng Nhà nớc
Việt
Nam, thanh toán séc gồm các loại sau.
3.1.1 Séc chuyển khoản
Là lệnh trả của ngời phát hành séc đối với ngân hàng phục vụ mình về việc
trích trả tiền từ tài khoản của mình trả tiền cho ngời thụ hởng có tên trên tờ séc.
6
Séc chuyển khoản cũng nh các loại séc nói chung đơn vị phát hành séc phải có
đủ số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng để đảm bảo thanh toán kịp
thời các tờ séc đã phát hành ra sau khi bên bán đã nộp séc vào Ngân hàng. Đây là
một điều kiện mà đơn vị phát hành séc phải chấp hành. Việc thanh toán séc sẽ
không thực hiện khi tài khoản của đơn vị phát hành không đủ số tiền để thanh toán
cho số tiền ghi trên tờ séc đã phát hành.
Nói chung, séc chuyển khoản thờng áp dụng với những khách hàng có tín nhiệm
lẫn nhau, có quan hệ làm ăn lâu dài, thờng xuyên. Chính vì vậy séc chuyển khoản
bao giờ cũng đợc hạch toán theo nguyên tắc nợ trớc có sau
3.1.2 Séc bảo chi :
Là tờ séc thông thờng đợc ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành, đảm bảo
khả năng chi trả bằng cách trích từ tài khoản tiền gửi đa vào một tài khoản riêng
(tài khoản đảm bảo thanh toán séc bảo chi ) và đánh dấu bảo chi lên tờ séc trớc khi
giao tờ séc cho khách hàng .
Đối tợng áp dụng là thanh toán tiền hàng, dịch vụ do yêu cầu của đơn vị
bán hoặc theo quyết định của ngân hàng đối với chủ tài khoản vi phạm quy định
phát hành séc .
Phạm vi sử dụng nh các loại séc bình thờng khác nh đã nói trên .
- Thời hạn thanh toán 15 ngày kể từ ngày bảo chi séc. Tờ séc nộp vào nếu
khách hàng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng nhng cùng một hệ thống thì
ngân hàng phục vụ ngời thụ hởng kiểm tra nếu hợp lệ thì có quyền ghi có ngay
vào tài khoản của ngời thụ hởng. Sau đó báo nợ cho ngân hàng phát hành séc để
ghi nợ vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc bảo chi . Trờng hợp hai ngân hàng
khác hệ thống thì không đợc phép ghi có ngay mà phải giao nhận chứng từ đồng
thời tại phiên giao dịch để thực hiện ghi nợ trớc có sau
Nh vậy séc đợc ngân hàng bảo chi đảm bảo độ tin cậy về khả năng thanh toán
của tờ séc. Số tiền phát hành séc đã đợc ký quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán.
Khách hàng cũng có thể yêu cầu bảo chi cho cả séc thanh toán bằng chuyển khoản
và séc thanh toán bằng tiền mặt
3.2 Uỷ nhiệm chi chuyển tiền :
7
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in sẵn của
ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để trả cho
ngời thụ hởng.
Uỷ nhiệm chi đợc dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng, dịch vụ hoặc
chuyển tiền trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống ngân hàng cùng địa phơng
hoặc khác điạ phơng. Ngân hàng phải có trách nhiệm xử lí, giải quyết Uỷ nhiệm
chi của khách hàng nộp trong ngày làm việc (hoàn tất lệnh chi đó hoặc từ chối
thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hay lệnh chi đó không hợp
lệ). Ngân hàng phục vụ bên thụ hởng khi nhận đợc chứng từ hợp lệ ghi Có ngay
vào tài khoản và báo cho khách hàng biết
Uỷ nhiệm chi còn đợc sử dụng nh một công cụ trung gian để xin ngân hàng
cấp séc bảo chi.
* Séc chuyển tiền cầm tay : là một loại chuyển tiên đợc sử dụng theo yêu cầu
của khách hàng. Séc này đợc áp dụng trong cùng một hệ thống ngân hàng, Kho
bạc Nhà nớc do Ngân hàng, Kho bạc lập và trao cho khách hàng sau khi dã lu ký
tiền vào tài khoản.
Thời hạn hiệu lực tối đa của tờ séc chuyển tiền cầm tay là 30 ngày kể từ ngày
phát hành ghi trên tờ séc .
Chuyển tiền mặt giữa các tỉnh, thành phố qua Ngân hàng áp dụng đối với các
đơn vị và cá nhân có yêu cầu.
Các Ngân hàng sẽ thực hiện bằng thể thức chuyển tiền nhanh bằng điện đến
địa chỉ ngời lĩnh tiền hoặc cấp séc chuyển tiền cầm tay cho khách hàng .
Khi nhận đợc tờ séc chuyển tiền từ khách hàng, ngân hàng phải kiểm tra các yếu
tố đặc biệt là ký hiệu mật.
3.3 Uỷ nhiệm thu :
8
Uỷ nhiệm thu (UNT) đợc áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài
khoản trong một chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hoặc
khác hệ thống.
Uỷ nhiệm thu do ngời thụ hởng lập gửi ngân hàng phục vụ mình để thu tiền đã
giao hoặc dịch vụ đã cung ứng. Khách hàng mua và bán phải thống nhất dùng hình
thức thanh toán UNT, với những điều kiện cụ thể ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng
thời phải thông báo bằng văn bản cho khách hàng, Kho bạc Nhà nớc phục vụ ngời
thụ hởng biết để làm căn cứ cho việc thực hiện các UNT.
Uỷ nhiệm thu đợc lập theo mẫu của Ngân hàng Nhà nớc Việt nam, trong đó
bên thụ hởng phải ghi đầy đủ các yếu tố và ký tên, đóng dấu của đơn vị trên tất cả
các UNT. Sau khi hoàn tất việc giao hàng cung ứng dịch vụ ngời bán chủ động gửi
Uỷ nhiệm thu tới ngân hàng phục vụ mình để uỷ nhiệm cho ngân hàng thu hộ số
tiền từ ngời mua theo các chứng từ thanh toán hợp lệ. Khi nhận đợc UNT trong
vòng một ngày làm việc, ngân hàng phục vụ bên trả tiền ngay cho ngời thụ hởng
để hoàn tất việc thanh toán. Nếu bên tài khoản của bên trả tiền không đủ số tiền
thanh toán sẽ bị phạt chậm trả. Mức phạt tuỳ theo quy định giữa bên mua và bên
bán trong hợp đồng, thờng đợc áp dụng nh sau :
Số tiền phạt Số tiền ghi Số ngày Tỷ lệ phạt
chậm trả = trên UNT ì trả chậm ì (Lãi suất nợ quá hạn)
Uỷ nhiệm thu chủ yếu sử dụng thanh toán các dịch vụ cung ứng mang tính chất
định kì nh tiền điện nớc, tiền điện thoại, tiền thuê nhà
3.4 Th tín dụng :
Hình thức thanh toán th tín dụng là hình thức thanh toán đợc ngân hàng bên
đơn vị mua cam kết trả tiền cho đơn vị bên bán, khi đơn vị bên bán thực hiện đúng
theo các điều khoản của th tín dụng.
Ngời mua đợc ngân hàng mở th tín dụng để đi mua hàng thì phải dùng tiền của
mình hoặc vay ngân hàng lu ký riêng để đảm bảo thanh toán cho th tín dụng. áp
dụng hình thức thanh toán này quyền lợi của bên bán sẽ đợc đảm bảo vì bên mua
phải chuẩn bị trớc phơng tiện thanh toán mới nhận đợc hàng.
9
Ngân hàng phục vụ ngời thụ hởng chỉ thanh toán cho ngời thụ hởng khi họ xuất
trình các hoá đơn, chứng từ giao hàng phù hợp với th tín dụng đã mở và trong thời
hạn hiệu lực. Mọi tranh chấp về hàng hoá đã giao, tiền hàng đã trả đều do 2 bên
mua bán tự giải quyết. Trong phạm vi mua bán trên một quốc gia, loại hình này ít
đợc sử dụng vì thủ tục phiền hà, hơn nữa phải lu ký một khoản tiền lớn trên tài
khoản mà không có lãi.
Tuy nhiên hình thức thanh toán này có đặc điểm an toàn và chuẩn xác cao, nên
đợc dùng khá phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
3.5. Thẻ thanh toán :
Thẻ thanh toán là một sản phẩm của ngân hàng thông qua thiết bị từ tính .
Ngân hàng bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ các khoản
thanh toán khác hoặc rút tiền tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả
tiền mặt tự động. Mục đích thẻ thanh toán dùng để đơn giản hoá các thủ tục giao
dịch với khách hàng về rút tiền và thanh toán qua ngân hàng .
Thẻ thanh toán đợc sử dụng lần đầu tiên tại Việt nam vào năm 1990 tại ngân
hàng Ngoại thơng Việt nam. Về thực chất thẻ thanh toán là một loại tiền điện tử đ-
ợc chấp nhận thanh toán tại ngân hàng và các điểm thu đổi ngoại tệ. Thẻ thanh
toán ở nớc ta vẫn ở giai đoạn thử nghiệm cần hoàn thiện. Đây là một dịch vụ hoàn
toàn tự động và dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến nên phải có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại. Hiện nay do vốn đầu t hạn chế, cha trang bị máy đọc thẻ ở nhiều
nơi vì vậy cha đợc sử dụng rộng rãi.
3.6. Ngân phiếu thanh toán:
Ngân phiếu thanh toán đợc coi nh một công cụ thanh toán không dùng tiền
mặt theo quy chế không dùng tiền mặt ngày 21/12/94. Tuy nhiên về bản chất
ngân phiếu thanh toán là tiền có kỳ hạn .
Ngân phiếu thanh toán do Ngân hàng Nhà nớc phát hành có mệnh giá và thời
hạn thanh toán in sẵn trên từng tờ không ghi tên. Mệnh giá do thống đốc Ngân
hàng Nhà nớc Việt nam quy định trong từng thời kỳ .
Khi có nhu cầu sử dụng ngân phiếu thanh toán chủ tài khoản lập chứng từ
lĩnh ngân phiếu thanh toán (có thể sử dụng séc lĩnh tiền mặt có đóng dấu hoặc ghi
10
lĩnh ngân phiếu thanh toán ) nộp trực tiếp vào ngân hàng nơi mình mở tài khoản
để trích tài khoản tiền gửi (hoặc vay ngân hàng ) để nhận ngân phiếu thanh toán.
Đối với những khách hàng không có tiền gửi tại ngân hàng thì lập giấy tờ
nộp tiền và nộp tiền mặt vào ngân hàng. Nội dung giấy nộp tiền ghi rõ: Nộp tiền
mặt để nhận ngân phiếu thanh toán .
Ngòi gửi ngân phiếu thanh toán phải có trách nhiệm bảo quản ngân phiếu
thanh toán nh tiền mặt. Mất ngân phiếu thanh toán cũng nh mất tiền. Ngân phiếu
thanh toán không có hiệu lực thanh toán là ngân phiếu đã hết hạn hoặc bị tẩy xoá,
dây bẩn, rách nát .
II. Quá trình tổ chức và phát triển các phơng thức
thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng:
1 .Thời kỳ Ngân hàng tổ chức theo một cấp :
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hệ thống Ngân hàng 1 cấp, Ngân
hàng luôn là trung tâm thanh toán của nền kinh tế nhng trong thanh toán cha phát
sinh thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng khác nhau mà chỉ là thanh toán liên
hàng giữa các Ngân hàng cùng hệ thống ở những địa phơng với nhau. Trong thời
kỳ này thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng còn nhiều yếu kém trong
công tác thanh toán nh :
- Thủ tục thanh toán rờm rà, phức tạp, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho
khâu thanh toán còn lạc hậu, hầu hết mọi thao tác đều bằng thủ công nên hay sai
sót. Các chuyển tiền đều thông qua đờng bu điện do đó tốc độ thanh toán chậm .
- Ngoài ra trong thanh toán còn thể hiện sự can thiệp vào công việc của
Doanh nghiệp - điều mà không đáng có, quan hệ thanh toán quốc tế hầu nh không
có (chủ yếu là ngoại thơng mà cũng chỉ thanh toán với các nớc XHCN ). Do vậy
kết quả hoạt động thanh toán chậm trễ, ngày càng thu hẹp và kém hiệu quả.
- Vận chuyển chứng từ cha hợp lí ảnh hởng tới tốc độ luân chuyển vốn do đó
tạo ra tâm lí thích sử dụng tiền mặt trong thanh toán .
2 . Trong hệ thống Ngân hàng 2 cấp :
11
Từ những mặt yếu kém còn hạn chế trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung trên
mà ngành Ngân hàng đã thực sự khởi sắc từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ
chế thị trờng có sự quản lí của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Đây là thời kỳ bớc
đầu đổi mới hoạt động Ngân hàng theo quyết định số 218/HĐBT ngày 03/7/1987
và nghị định số 53/HĐBT tháng 3/1988. Qua đó đã hình thành các hệ thống thanh
toán của Ngân hàng Nhà nớc, Ngân hàng thơng mại thủ tục thanh toán đơn
giản hơn đảm bảo an toàn tài sản, nhanh chóng, chính xác, tăng uy tín của Ngân
hàng, phát triển nhiều công tác thanh toán mới cho hợp với điều kiện phát triển
của nền kinh tế nớc ta. Từ đó mà thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng đã dần
dần tháo gỡ những phức tạp và mở ra một cơ chế thoáng hơn dễ kiểm soát hơn
Để thích ứng với tổ chức Ngân hàng Nhà nớc và các tổ chức tín dụng, tháng
7/1991 ban hành cơ chế thanh toán mới nhằm thực hiện đồng bộ các cơ chế chính
sách tín dụng, lãi suất tạo ra sự đồng bộ giữa khách hàng, giữa Ngân hàng Nhà n-
ớc với các Ngân hàng thơng mại, tạo cơ sở sử dụng các công cụ thanh toán trong
điều hành Ngân hàng và từng bớc phát triển công cụ kỹ thuật điện toán.
Từ ngày chuyển đổi cơ chế đến nay Ngân hàng đã từng bớc hiện đại hoá công
nghệ thanh toán, áp dụng rộng rãi tin học và nối mạng thông tin hoạt động ở tất cả
các cấp Ngân hàng. Xây dựng dự án phát triển các hệ thống thanh toán bao gồm:
Thanh toán bù trừ, thanh toán liên hàng, thanh toán chuyển tiền điện tử
3. Sự cần thiết trong thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng :
Trong điều kiện có nhiều Ngân hàng, tổ chức tín dụng trong nền kinh tế về các
khách hàng mở tài khoản tại nhiều tổ chức tín dụng, việc tổ chức thanh toán tiền
cho nhau sẽ liên quan tới các Ngân hàng, các Tổ chức tín dụng phục vụ hai bên
(mua-bán). Các ngân hàng có liên quan này phải hoàn thành việc thanh toán tiền
giữa các khách hàng cho nhau. Do vậy thanh toán giữa các ngân hàng là khâu tất
yếu trong thanh toán.
Thanh toán qua lại giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân
hàng nhằm tiếp tục hoàn thiện quá trình thanh toán tiền vốn giữa các doanh nghiệp
với nhau mà họ không mở tài khoản tại một ngân hàng, một mặt thanh toán qua lại
12
giữa các Ngân hàng thể hiện thanh toán tiền vốn giữa các khách hàng với nhau,
mặt khác giữa các ngân hàng phải thanh toán về vốn sòng phẳng với nhau .
Thanh toán qua lại giữa các ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng, nó là một
khâu không thể thiếu trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhằm tạo khả năng thực
hiện chi trả giữa các doanh nghiệp với nhau, thanh toán vốn giữa các ngân hàng
với nhau.
4. Các phơng thức thanh toán qua lại giữa các ngân hàng ở nớc ta hiện nay :
4.1. Thanh toán bù trừ :
Thanh toán bù trừ là phơng thức thanh toán mà các ngân hàng phải giao nhận
chứng từ trực tiếp hàng ngày và thực hiện thanh toán theo định kỳ .
Thanh toán bù trừ đợc thực hiện giữa các ngân hàng trong phạm vi tỉnh, thành
phố .
Khi thực hiện thanh toán bù trừ phải có một ngân hàng đợc chỉ định là ngân
hàng chủ trì, số chênh lệch phát sinh trong quá trình bù trừ phải đợc ngân hàng
cấp trên xử lí. Ngân hàng chủ trì thờng là ngân hàng nhà nớc và các thành viên
tham gia bù trừ phải mở tài khoản tại ngân hàng chủ trì. Ngân hàng chủ trì chịu
trách nhiệm tổng hợp kết quả thanh toán của các ngân hàng thành viên và thanh
toán
số chênh lệch trong thanh toán bù trừ.
ở Việt nam, hệ thống thanh toán bù trừ đợc tiến hành bằng phơng pháp thủ
công. Theo hình thức này các khoản tiền mà ngân hàng thành viên thu hộ hoặc
chi hộ sẽ đợc bù trừ cho nhau và chỉ thanh toán phần chênh lệch. Còn khách hàng
nào phải trả bao nhiêu đợc hởng bao nhiêu là công việc hạch toán của từng ngân
hàng với khách hàng của mình. Các chứng từ về thu hộ, chi hộ do khách hàng nộp
vào ngân hàng thành viên xử lí và bàn giao trực tiếp cho ngân hàng thành viên
phục vụ khách hàng đối phơng.
Trung tâm thanh toán bù trừ tổ chức cho các ngân hàng thành viên gặp gỡ
nhau theo định kỳ và điều khiển toàn bộ quá trình xử lí chứng từ hạch toán và
thanh toán các khoản chênh lệch phát sinh giữa các ngân hàng .
13
4.2 Thanh toán liên hàng :
Là quan hệ thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng trong cùng hệ thống phát
sinh trên cơ sở các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các khách hàng
có mở tài khoản ở các ngân hàng khác nhau trong cùng một hệ thống hoặc việc
chuyển tiền giữa các ngân hàng trong hệ thống .
Tham gia thanh toán bù trừ là các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống từ
Trung ơng đến cơ sở và đợc gọi là liên hàng. Mỗi đơn vị liên hàng trong cùng một
hệ thống đợc quy định một số hiệu liên hàng riêng cho bảng danh mục thanh toán
liên hàng để giao dịch. Mỗi đơn vị liên hàng đều phải làm nhiệm vụ liên hàng đi
và liên hàng đến và đối chiếu liên hàng. Ngân hàng có phát sinh nghiệp vụ thanh
toán liên hàng gọi là Ngân hàng A. Tài khoản phát sinh nghiệp vụ thanh toán liên
hàng gọi là Ngân hàng B . Tài khoản phản ánh kết thúc nghiệp vụ liên hàng gọi là
tài khoản liên hàng đến .
Trong thanh toán liên hàng các đơn vị liên hàng tiến hành các nghiệp vụ thanh
toán theo sự uỷ nhiệm của ngân hàng cấp trên của hệ thống đó và đối chiếu trực
tiếp với Ngân hàng B có liên quan đến liên hàng qua sự kiểm soát của trung tâm.
Trớc đây các quá trình này đợc thực hiện qua chuyển tiền th hoặc điện qua
bu điện. Theo phơng thức này thì mất rất nhiều thời gian, do vậy vốn nằm trong
khâu thanh toán rất lớn, có thể làm mất cơ hội trong sản xuất kinh doanh của các
đơn vị .
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nớc đã triển khai thực hiện thanh toán liên hàng qua
mạng máy tính theo công văn số 432CV/NH ngày 26/10/1992 của thống đốc Ngân
hàng Nhà nớc và QĐ 231QĐ/NH2 ngày 31/8/1996, do vậy công tác thanh toán
liên hàng đã có sự chuyển biến đáng kể về thời gian thanh toán qua ngân hàng đợc
rút ngắn, phục vụ kịp thời về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách
hàng .
4.3 Thanh toán điện tử :
Đây là phơng thức thanh toán mới đợc áp dụng ở nớc ta trong vài năm gần
đây, lúc đầu mới đợc áp dụng ở một số tỉnh và thành phố lớn, còn hiện nay nó đã
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét