Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Tư Vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam thực hiện

Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
Như vậy, quá trình kinh doanh bao gồm các chu kỳ diễn ra liên tục, đều đặn và
mỗi chu kỳ đều là mắt xích quan trọng không thể thiếu được. Trong đó kết quả
của chu kỳ Bán hàng và thu tiền không chỉ phản ánh riêng kết quả của chu kỳ
mà còn phản ánh toàn bộ kết quả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Bán hàng – thu tiền là chu kỳ cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nó không những đánh giá hiệu quả của các chu kỳ trước như
chu kỳ mua hàng – thanh toán, tiếp nhận – hoàn trả vốn… mà còn đánh giá hiệu
quả của toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói, Bán hàng –
thu tiền là một bộ phận quan trọng tạo nên bức tranh tài chính của doanh
nghiệp, do vậy những người sử dụng thông tin tài chính đòi hỏi KTV phải có
kết luận chính xác về các thông tin này.
1.1.1.4 Đặc điểm của chu kỳ ảnh hưởng đến kiểm toán BCTC
Dưới góc độ kiểm toán, chu kỳ bán hàng và thu tiền liên quan đến nhiều
chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Đây là những
chỉ tiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp dùng để phân tích khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh, triển vọng
phát triển cũng như rủi ro tiềm tàng trong tương lai, vì thế các chỉ tiêu này
thường bị phản ánh sai lệch. Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu kỳ thì
trước hết phải nắm được các đặc điểm về chu kỳ, gồm có:
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ là tương đối lớn.
- Có liên quan đến các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung – cầu
- Các chỉ tiêu dễ bị phản ánh sai lệch.
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn của nhau
công nợ dây dưa khó đòi. Tuy nhiên, việc lập dự phòng khó đòi lại mang tính
chủ quan và thường dựa vào ước đoán của Ban Giám đốc nên rất khó kiểm tra
và thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí.
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ xảy ra theo nhiều chiều hướng
khác nhau có thể ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa ghi tăng vừa ghi giảm theo ý đồ
của doanh nghiệp hoặc một số cá nhân. Vì thế việc kiểm toán chu kỳ bán hàng
thu tiền tương đối tốn kém và mất thời gian. Với chức năng xác minh các thông
Vũ Thị Nga
5
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
tin về chu kỳ thì KTV không thể không xem xét những đặc điểm của chu kỳ và
ảnh hưởng của nó tới phương pháp kiểm toán.
1.2 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHU KỲ BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN
1.2.1 Mục tiêu và căn cứ kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền
1.2.1.1 Mục tiêu
Bất cứ hoạt động nào, trước khi thực hiện cũng cần xác định mục tiêu – là
cơ sở giúp người thực hiện đúng hướng và có hiệu quả hoạt động đó. Lĩnh vực
kiểm toán cũng vậy. CMKT số 200, khoản 11 đã xác định rõ: “ Mục tiêu của
kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận
rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc
được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và
hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?”. Bên cạnh đó, đối với đơn vị
được kiểm toán, mục tiêu kiểm toán BCTC giúp đơn vị thấy rõ những tồn tại,
sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của mình. Do
vậy, có thể khẳng định mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước
đo kết quả kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể.
Phù hợp với mục tiêu chung của kiểm toán BCTC là xác nhận mức độ tin
cậy của BCTC được kiểm toán, mục tiêu cụ thể của kiểm toán chu kỳ Bán hàng
và thu tiền là thu thập đầy đủ các bằng chứng thích hợp từ đó đưa ra lời xác
nhận về mức độ tin cậy của các thông tin tài chính chủ yếu của chu kỳ này.
Đồng thời cũng cung cấp những thông tin, tài liệu có liên quan làm cơ sở tham
chiếu khi kiểm toán các chu kỳ có liên quan khác. Để đạt được mục tiêu cuối
cùng đó, trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải khảo sát và đánh giá lại
hiệu lực trên thực tế của hoạt động kiểm soát nội bộ đối với chu kỳ này để làm
cơ sở thiết kế và thực hiện các khảo sát cơ bản nhằm đánh giá các thông tin tài
chính liên quan đến chu kỳ.
Khi tiến hành kiểm toán, bước đầu tiên KTV cần hiểu được mục tiêu
chung, sau đó cụ thể hóa các mục tiêu chung này vào từng phần hành cụ thể gọi
là các mục tiêu đặc thù. Xét phần hành kiểm toán chu kỳ bán hàng – thu tiền,
chu kỳ này bao gồm nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thu tiền. Mặc dù hai loại
nghiệp vụ này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên chu kỳ xác định nhưng mỗi
Vũ Thị Nga
6
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
loại lại có yêu cầu riêng cũng như phản ánh cụ thể vào sổ kế toán riêng theo
trình tự độc lập tương đối. Do đó, mục tiêu đặc thù của hai loại nghiệp vụ này
mang những điểm riêng biệt. Cụ thể:
Bảng 1.1 Mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù
Mục tiêu
kiểm toán
chung
Mục tiêu kiểm toán đặc
thù nghiệp vụ bán hàng
Mục tiêu kiểm toán đặc thù
nghiệp vụ thu tiền
Mục tiêu
hợp lý chung
Tất cả các nghiệp vụ bán
hàng đều có căn cứ hợp

Tất cả các khoản thu tiền đều
biểu hiện hợp lý
Hiện hữu Các nghiệp vụ bán hàng
đã ghi sổ thực sự tồn tại
Các khoản phải thu khách hàng
thực sự phát sinh, các khoản thu
tiền đã ghi sổ thực tế đã nhận.
Các thông tin phản ánh trên
chứng từ, sổ sách và Báo cáo có
liên quan đến nghiệp vụ này là
hoàn toàn có thật
Trọn vẹn Mọi nghiệp vụ bán hàng
phát sinh đều được ghi sổ
đầy đủ
Tiền thu được, các khoản phải thu
khách hàng đã ghi đầy đủ vào sổ
Tính giá Các khoản bán hàng đã
ghi sổ đúng số lượng,
chủng loại hàng hóa đã
vận chuyển và Hóa đơn
bán hàng đã lập đúng
Các khoản tiền thu đã ghi sổ và
đã nộp đều đúng với giá hàng
bán; các khoản phải thu khách
hàng được định giá một cách tin
cậy theo giá trị ròng có thể thực
hiện được. Đối với nghiệp vụ thu
tiền bằng ngoại tệ, KTV cần quan
tâm đến vấn đề tỷ giá quy đổi
Chính xác số Các nghiệp vụ bán hàng Các khoản thu tiền được tính toán
Vũ Thị Nga
7
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
học được tính toán đúng, các
con số cộng sổ, chuyển
sổ, lên Báo cáo trùng
khớp
chính xác, được cộng sổ, chuyển
sổ và lên Báo cáo đúng
Quyền và
nghĩa vụ
Doanh nghiệp có quyền
đối với hàng hóa sắp
chuyển giao, hàng gửi
bán và hàng chuyển chờ
chấp nhận
Doanh nghiệp có quyền đối với
các khoản phải thu
Phân loại và
trình bày
Các nghiệp vụ bán hàng
được phân loại thích hợp:
theo từng loại doanh thu,
theo các mức thuế suất
Các khoản thu tiền được phân
loại đúng; các khoản phải thu
được ghi nhận theo đúng đối
tượng theo dõi
Đúng kỳ Các nghiệp vụ bán hàng
được ghi đúng thời gian
phát sinh
Các khoản thu tiền ghi đúng thời
gian
Sau khi đã xác định rõ các mục tiêu đặc thù của phần hành kiểm toán chu kỳ
Bán hàng – thu tiền, KTV tiến hành cụ thể hóa các công việc tương ứng với mỗi
mục tiêu, từ đó xác định những phần việc cần phải thực hiện.
Vũ Thị Nga
8
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
1.2.1.2 Căn cứ
Quá trình hoạt động bán hàng và thu tiền đặt dưới sự quản lý nói chung
và kiểm soát nội bộ của đơn vị nói riêng. Các thông tin tài chính liên quan đến
chu kỳ bán hàng và thu tiền được hình thành trên cơ sở các quá trình kế toán xử
lý các nghiệp vụ kinh tế dựa trên cơ sở chuẩn mực, chế độ kế toán và các quy
định có liên quan.
Để có thể có cơ sở đưa ra ý kiến nhận xét về các chỉ tiêu tài chính có liên
quan, trước hết cần xác định được phạm vi và các phương pháp, thủ tục kiểm
toán cần áp dụng. Tiếp theo đó, kiểm toán viên cần dựa vào các thông tin tài
liệu nhất định để thu thập các bằng chứng về các quá trình xử lý kế toán đối với
các nghiệp vụ trong chu kỳ bán hàng và thu tiền.
Các nguồn tài liệu (hay các căn cứ) cụ thể để kiểm toán rất phong phú, đa dạng
về hình thức, nguồn gốc và nội dung. Có thể khái quát về các nguồn tài liệu (các
căn cứ) chủ yếu gồm:
-Các chính sách, các quy chế hay quy định về kiểm soát nội bộ đối với hoạt
động bán hàng và thu tiền mà đơn vị đã áp dụng trong công tác quản lý và kiểm
soát nội bộ, bao gồm các quy chế do cấp có thẩm quyền của Nhà nước ban hành
và của chính bản thân đơn vị ban hành.
- Các báo cáo tài chính chủ yếu có liên quan, gồm Bảng cân đối kế toán
(báo cáo các thông tin tài chính như Phải thu khách hàng ngắn hạn, dài hạn;
Người mua trả tiền trước và các thông tin tài chính liên quan khác: tiền, hàng
hóa,…); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (báo cáo các thông tin tài chính
như Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, Các khoản làm giảm doanh thu
bán hàng, Giá vốn hàng bán, Chi phí bán hàng, Chi phí quản lý doanh nghiệp);
Bản thuyết minh BCTC (báo cáo các thông tin chi tiết về hàng tồn kho, về
doanh thu bán hàng, về các khoản giảm doanh thu bán hàng,…)
-Các sổ hạch toán liên quan đến hoạt động bán hàng và thu tiền, bao gồm sổ
hạch toán nghiệp vụ và sổ hạch toán kế toán. Các sổ hạch toán nghiệp vụ chủ
yếu và phổ biến như: Sổ (Thẻ) kho, Nhật ký bảo vệ kho, Nhật ký vận chuyển
hàng hóa,…
-Các chứng từ kế toán ghi nhận các nghiệp vụ bán hàng, thu tiền đã phát
sinh và là căn cứ để ghi vào sổ kế toán. Các chứng từ kế toán chủ yếu và phổ
Vũ Thị Nga
9
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
biến như Hóa đơn bán hàng (Hóa đơn thuế GTGTT hay Hóa đơn thông thường),
Hóa đơn vận chuyển và cung cấp dịch vụ, Phiếu xuất kho, Chứng từ thu tiền
hàng, Chứng từ về giảm giá, hàng bán bị trả lại,…
-Các hồ sơ, tài liệu khác liên quan đến hoạt động bán hàng – thu tiền. Loại
này cũng rất phong phú và đa dạng, như: Kế hoạch bán hàng, Đơn đặt hàng,
Hợp đồng thương mại (bán hàng, cho thuê tài sản, cung cấp dịch vụ), Chính
sách bán hàng, Bản quyết toán hợp đồng,…
Các nguồn tài liệu về quá trình xử lý kế toán chủ yếu cung cấp bằng chứng liên
quan trực tiếp đến các cơ sở dẫn liệu của các thông tin tài chính đã trình bày
trên báo cáo tài chính được kiểm toán.
1.2.2 Quy trình và phương pháp kiểm toán
1.2.2.1 Quy trình
* Lập kế hoạch kiểm toán
- Khái niệm
Kế hoạch kiểm toán là những định hướng và những công việc dự kiến
phải làm trong quá trình kiểm toán, đồng thời kế hoạch kiểm toán cũng chỉ ra
những điều kiện cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm toán được sắp xếp theo
một trình tự cụ thể nhất định.
Kiểm toán viên và các Doanh nghiệp kiểm toán phải có trách nhiệm lập
kế hoạch kiểm toán cho mọi cuộc kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được
tiến hành một cách hiệu quả.
Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho từng cuộc kiểm toán, từng đơn vị
được kiểm toán và phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát
hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện được gian lận, rủi ro
và những vấn đề tiềm ẩn có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đồng
thời kế hoạch kiểm toán phải đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng
thời hạn. Phạm vi kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi tùy theo qui mô khách hàng,
tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm và những hiểu biết của
kiểm toán viên về đơn vị cũng như hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, lập kế hoạch kiểm toán bao gồm ba
bước, đó là:
- Lập kế hoạch chiến lược
Vũ Thị Nga
10
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
- Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể
- Lập chương trình kiểm toán
- Những nội dung cụ thể trong kế hoạch
+ Thu thập thông tin về khách hàng
Trước khi chấp nhận một khách hàng để đi đến ký kết hợp đồng kiểm
toán, Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán phải thu thập những thông tin sơ bộ
về lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản
xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị, qua đó đánh giá
khả năng có thể thu thập được những thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh
của khách hàng để thực hiện công việc kiểm toán.
Hiểu biết cần thiết của Kiểm toán viên về khách hàng để thực hiện kiểm
toán bao gồm những hiểu biết tổng quan về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động, tổ
chức và hoạt động của Doanh nghiệp… Mức độ hiểu biết của Kiểm toán viên về
khách hàng không nhất thiết phải như Ban Giám đốc của đơn vị được kiểm
toán.
Sau khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập
những thông tin chi tiết cần thiết ngay từ khi bắt đầu công việc kiểm toán.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn xem xét, đánh giá, cập nhật
và bổ sung thêm các thông tin mới về khách hàng có liên quan đến cuộc kiểm
toán…
Việc thu thập các thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là
một quá trình tích lũy liên tục, bao gồm việc thu thập, đánh giá và đối chiếu
thông tin thu thập được với các bằng chứng kiểm toán ở tất cả các giai đoạn của
quá trình kiểm toán. Như các thông tin đã thu thập ở giai đoạn lập kế hoạch vẫn
phải được tiếp tục cập nhật và bổ sung thêm ở các giai đoạn kế tiếp để kiểm
toán viên hiểu biết đầy đủ hơn về hoạt động của đơn vị.
Đối với hợp đồng kiểm toán năm sau, kiểm toán viên phải cập nhật và
đánh giá lại những thông tin đã thu thập trước đây, nhất là những thông tin trong
bộ hồ sơ kiểm toán các năm trước. Kiểm toán viên phải chú ý đến các vấn đề
tồn tại đã phát hiện trong năm trước và thực hiện các thủ tục nhằm phát hiện ra
những thay đổi đáng kể phát sinh sau lần kiểm toán trước.
Vũ Thị Nga
11
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
Đối với các trợ lý kiểm toán được phân công thực hiện công việc kiểm
toán cũng phải đảm bảo đạt được sự hiểu biết nhất định về tình hình kinh doanh
để thực hiện công việc của mình. Ngoài ra, các trợ lý kiểm toán phải thực hiện
việc thu thập thông tin bổ sung đáp ứng yêu cầu công việc của mình và trao đổi
thông tin đó với các thành viên khác của nhóm .
Để sử dụng có hiệu quả các hiểu biết về tình hình kinh doanh, kiểm toán
viên phải đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng tổng thể từ những hiểu biết của
mình đến báo cáo tài chính của đơn vị, cũng như sự phù hợp của các cơ sở dẫn
liệu trong báo cáo tài chính so với những hiểu biết của kiểm toán viên về tình
hình kinh doanh.
+ Đánh giá về trọng yếu và rủi ro
Những hiểu biết về tình hình kinh doanh là cơ sở quan trọng để kiểm toán
viên đưa ra các xét đoán chuyên môn. Mức độ hiểu biết tình hình kinh doanh và
việc sử dụng các hiểu biết này một cách hợp lý sẽ trợ giúp kiểm toán viên trong
các công việc:
 Đánh giá rủi ro và xác định các vấn đề đáng chú ý.
Việc hiểu biết về tình hình kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ là căn cứ để
Kiểm toán viên đánh giá về Rủi ro tiềm tàng và Rủi ro kiểm soát. Khi tìm hiểu
về đặc điểm hoạt động kinh doanh, bản chất của sản phẩm, dịch vụ do Doanh
nghiệp cung cấp ra thị trường, bản chất các loại tài sản trong đơn vị được kiểm
toán… sẽ giúp Kiểm toán viên đánh giá được Rủi ro tiềm tàng hợp lý và cuộc
kiểm toán sẽ có hiệu quả hơn. Đặc biệt sự hiểu biết về thực tế kiểm soát nội bộ
trong Doanh nghiệp sẽ giúp Kiểm toán viên đánh giá Rủi ro kiểm soát và xác
định, lựa chọn phương pháp kiểm toán phù hợp. Cũng thông qua đó, Kiểm toán
viên xác định được các vấn đề bất hợp lý để có căn cứ lưu ý, chú trọng và đầu
tư kiểm toán một cách đúng mức vào những vấn đề này.
 Lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả;
 Đánh giá bằng chứng kiểm toán.
Vũ Thị Nga
12
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
Nếu ở một đơn vị được kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, chặt
chẽ, Rủi ro kiểm soát thấp thì các bằng chứng thu được ở đơn vị này sẽ tin cậy
hơn ở Doanh nghiệp, đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ kém hiệu quả.
 Kiểm toán viên sẽ xem xét, cân nhắc để có được những quyết định hợp lý
và một khả năng cung cấp dịch vụ tốt hơn cho đơn vị được kiểm toán.
Nếu Kiểm toán viên có hiểu biết đầy đủ chặt chẽ về đơn vị được kiểm
toán thì Kiểm toán viên sẽ thực hiện kiểm toán hoặc từ chối kiểm toán khi thấy
Rủi ro có thể xảy ra ở đơn vị được kiểm toán là thấp hay cao, có an toàn hay
không? Khi đó Kiểm toán viên mới có đủ bằng chứng để tiếp nhận, chấp nhận
hay từ chối một khách hàng khi đã loại trừ được những rủi ro có thể xảy ra.
- Trích dẫn mẫu kế hoạch kiểm toán
+ Chấp nhận khách hàng mới và đánh giá rủi ro hợp đồng
I. THÔNG TIN CƠ BẢN
6. Các cổ đông chính, HĐQT và BGĐ (tham chiếu A310):
Họ và tên Vị trí Ghi chú
7. Mô tả quan hệ kinh doanh ban đầu được thiết lập như thế nào:
1. Tên KH:
2. Tên và chức danh của người liên lạc chính
3. Địa chỉ:
Điện thoại: Fax:
Email: Website:
4. Loại hình DN
Cty CP niêm yết Cty cổ phần DNNN Cty
TNHH
Loại hình DN khác
DN có vốn
ĐTNN
DN tư nhân Cty hợp danh HTX
5. Năm tài chính: từ ngày: đến ngày:
Vũ Thị Nga
13
Lớp CQ44/22.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán
10. Mô tả ngành nghề kinh doanh của DN và hàng hóa, dịch vụ cung cấp, bao
gồm cả các hoạt động độc lập hoặc liên kết.
11. Kiểm tra các thông tin liên quan đến DN và những người lãnh đạo thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, internet, v.v )
12.Các dịch vụ và báo cáo được yêu cầu là gì và ngày hoàn thành.
13. Mô tả tại sao DN muốn có BCTC được kiểm toán và các bên liên quan cần
sử dụng BCTC đó.
14. Giải thích lý do thay đổi công ty kiểm toán của BGĐ:
II. THỦ TỤC KIỂM TOÁN
9. Tên ngân hàng DN có quan
hệ:
Địa chỉ
Có Không Không
áp dụng
KTV tiền nhiệm
Đã gửi thư đến KTV tiền nhiệm để xem xét lý do không
tiếp tục làm kiểm toán
Vũ Thị Nga
14
Lớp CQ44/22.04
8. Họ và tên người đại diện cho
DN:
Địa chỉ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét