Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỰC Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
5
-Hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu, chuyển đổi hệ thống kinh tế, bù đắp thâm hụt
cán cân thanh tốn quốc tế để chính phủ nước sở tại có điều kiện và thời gian
quản lý tốt hơn trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ
thống kinh tế.
Tóm lại nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức được ưu tiên cho
những dự án kinh tế xã hơị khơng sinh lời trực tiếp hoặc khả năng thu hồi vốn
chậm, nhưng có ý nghĩa và ảnh hưởng quan trọng đến việc tạo lập một mơi
trường thuận lợi cho sự phát triển đất nước nói chung và cho sự khuyến khích
đầu tư tư nhân trong và ngồi nước nói riêng.
2.3, Các nhân tố ảnh hưởng tới ODA.
ODA gắn liền với chính trị và là một trong những phương tiện để thực
hiện ý đồ chính trị. ODA cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ sẵn có của bên
cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, bởi
quan hệ địa dư gần gũi. Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn chính thức khác
thường cấp viện trợ cho những người bạn về chính trị và đồng minh qn sự mà
khơng cấp viện trợ cho những đối tượng mà họ cho là kẻ thù. Đó chính là tính
chất địa lý- chính trị được thể hiện rất rõ trong viện trợ.
ODA gắn với điều kiện kinh tế. Các nước viện trợ nói chung đều muốn
đạt được những ảnh hưởng về chính trị, đem lại lợi nhuận cho hàng hố và dịch
vụ tư vấn trong nước. Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hố và dịch vụ của
nước họ như là một biện pháp nhằm tăng cường khả năng làm chủ thị trường
xuất khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cân thanh tốn. Mặt
khác, nước nhận viện trợ còn phải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ. Nếu đồng
tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền của các nước nhận được do xuất khẩu thì
nước tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ sung do chênh lệch tỷ giá tại
thời điểm vay và thời điểm trả nợ. Theo tính tốn của các chun gia thì cho dù
khơng đi kèm theo điều kiện ràng buộc nào thì viện trợ vẫn đem lại lợi ích
thương mại cho quốc gia viện trợ.
ODA còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội. ODA là một phần
GNP của các nước tài trợ nên rất nhạy cảm với các dư luận xã hội ở các nước tài
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
trợ. Nhân dân các nước cấp viện trợ coi trọng tầm quan trọng của cả số lượng và
chất lượng của viện trợ, họ sắn sàng ủng hộ viện trợ với điều kiện là viện trợ
được sử dụng tốt. Còn đối với các nước nhận viện trợ, nguy cơ phụ thuộc viện
trợ nước ngồi, gánh nặng nợ nần là một thực tế khó tránh khỏi. Do vậy,các
nước nhận viện trợ cần phải rất thận trọng khi sử dụng ODA.
3, Phân loại ODA.
3.1, Phân loại theo nước nhận.
Nếu phân loại theo nước nhận, ODA có hai loại:
-ODA thơng thường: hỗ trợ cho những nước có thu nhập bình qn đầu
người thấp.
-ODA đặc biệt: hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay
ngắn, lãi suất cao hơn.
3.2, Phân loại theo nguồn cung cấp.
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại.
- ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của nước này dành
cho chính phủ nước kia.
- ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức
quốc tế hay tổ chức khu vực hoặc của một chính phủ mơt nước dành cho chính
phủ một nước nào đó, nhưng được thực hiện thơng qua các tổ chức đa phương
như UNDP,UNICEF
3.3, Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn.
Nếu phân loại theo tính chất nguồn vốn thì ODA có hai loại:
- Viện trợ khơng hồn lại: được thực hiện thơng qua các chương trình,
dự án ODA dưới các dạng sau:
• Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện việc chuyển giao cơng nghệ hoặc
truyền đạt những kinh nghiệm xử lý cho nước nhận tài trợ.
• Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: ví dụ như là lương thực, vải,
thuốc chữa bệnh, có khi là vật tư cho khơng.
- Viện trợ có hồn lại bao gồm:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
• ODA cho vay ưu đãi: là các khoản ODA cho vay có yếu tố
khơng hồn lại đạt ít nhất 25% trị giá khoản vay.
• ODA cho vay hỗn hợp: bao gồm kết hợp một phần ODA khơng
hồn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức hợp
tác kinh tế và phát triển mạnh hơn cả về đời sống kinh tế xã hội.
4, Các hình thức ODA.
ODA được thực hiện qua các hình thức sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh tốn: được thực hiện thơng qua chuyển giao tiền
tệ trực tiếp cho nước nhận ODA hoặc hỗ trợ nhập khẩu tức là chính phủ nước
nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hố có giá trị tương đương với các khoản
cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ.
- Tín dụng thương mại: tương tự như viện trợ hàng hố có kèm theo các
điều kiện ràng buộc.
- Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án). Theo loại hình này nước
nhận viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng qt mà khơng cần xác định
chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
- Viện trợ dự án: loại viện trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
vốn thực hiện ODA và nó có hai loại. Đó là viện trợ cơ bản và viện trợ kỹ thuật.
Viện trợ cơ bản thì thường cấp cho những dự án xây dựng đường xá, cầu cống,
kết cấu hạ tầng . Viện trợ kỹ thuật cấp cho viện trợ tri thức, tăng cường cơ sở,
lập kế hoạch cố vấn cho các chương trình, nghiên cứu trước khi đầu tư hoặc hỗ
trợ các lớp đào tạo.
II, Vai trò của viện trợ trong phát triển kinh tế xã hội.
1, Viện trợ tài chính ở các nước đang phát triển có cơ chế quản lý tốt
sẽ giúp tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt được các
chỉ tiêu xã hội.
Trên thực tế, một số nước nhận nhiều viện trợ mà thu nhập giảm trong khi
một số nước nhận ít viện trợ mà thu nhập lại tăng. Nhưng nếu chỉ xét đến sự
phân biệt giữa các nước có cơ chế quản lý tốt và cơ chế quản lý tồi thì đối với
các nước có cơ chế quản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng trưởng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
vẫn thấp, thậm chí còn âm. Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ
tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng lên 0,5%. Ngồi ra, viện trợ còn
góp phần làm giảm đói nghèo. Theo các chun gia về ODA, bình qn ở các
nước đang phát triển, thu nhập đầu người tăng 1% đã dẫn đến tỷ lệ đói nghèo
giảm xuống 2%. Nói cách khác, ở các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ
tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo. Và ở các nước có cơ
chế quản lý tốt, tăng 10 tỷ USD viện trợ một năm sẽ cứu được 25 triệu người
thốt khỏi cảnh nghèo đói, nhưng dù có tăng 10 tỷ USD ở các nước có cơ chế
quản lý tồi thì cũng chỉ cứu được 7 triệu người thốt khỏi cảnh kiếm ăn lần hồi
mà thơi.
Viện trợ tác động đến tăng trưởng, từ đó đã tác động đến mục đích nâng
cao mức sống. Tăng trưởng khơng loại bỏ đói nghèo nhưng rõ ràng tăng trưởng
có tác động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội. Nếu một nước có cơ chế quản
lý tốt thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em 0,9%.
Ngược lại, nếu một nước có cơ chế quản lý tồi thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP
cũng khơng đem lại một tác động nào đối với tỷ lệ chết trẻ sơ sinh. Điều đó có
nghĩa là các chỉ tiêu xã hội có quan hệ chặt chẽ với thu nhập bình qn đầu
người, hay nói cách khác nó có quan hệ chặt chẽ với viện trợ.
2, Viện trợ thúc đẩy đầu tư.
Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát
triển, và viện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nước. Vốn
đầu tư có thể thu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế. Trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn
nước ngồi có tầm quan trọng đặc biệt. Nguồn vốn ODA thường được các nước
đang phát triển đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đường
giao thơng, phát triển năng lượng vì đây là những ngành cần phải đầu tư lớn,
thu hồi vốn chậm nên tư nhân khơng có khả năng đầu tư.
Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi FDI và phát
triển nguồn nhân lực. Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý
tốt sẽ tạo ra được cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thơng thuận tiện,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
hệ thống pháp luật ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được
thu hút vào là điều kiện cho FDI được sử dụng một cách hiệu quả. Mặt khác,
viện trợ còn giúp những nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học
kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chun mơn cao. Đây chính
là lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ.
Viện trợ thúc đẩy đầu tư tư nhân. Ở những nước có cơ chế quản lý tốt
thì viện trợ nước ngồi khơng thay thế cho đầu tư tư nhân mà đóng vai trò như là
nam châm hút đầu tư tư nhân theo tỷ lệ sấp xỉ 2 USD trên 1USD viện trợ. Đối
với các nước quản lý tốt thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin cho khu vực tư
nhân và hỗ trợ các dịch vụ cơng cộng. Viện trợ tăng với quy mơ 1% GDP sẽ làm
tăng đầu tư tư nhân trên 1,9% GDP. Ở các nước có cơ chế quản lý tồi, viện trợ
nước ngồi có thể khuyến khích khu vực nhà nước tiến hành các khoản đầu tư
thương mại đáng ra do khu vực tư nhân thực hiện.
3, Viện trợ giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính
sách kinh tế.
Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là
chìa khố để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp
phần làm giảm đói nghèo. Mặt khác, viện trợ có thể ni dưỡng cải cách. Khi
các nước mong muốn cải cách thì viện trợ nước ngồi có thể đóng góp những nỗ
lực cần thiết như hỗ trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ
biến các bài học kinh nghiệm. Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những
chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có
hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ là lớn. Ngược lại, ở những nước mà
chính phủ và nhà tài trợ khơng đồng nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả
lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường
hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế cho đến khi các nhà
tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển. Qua đây ta cũng
nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế và chính sách được
củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội. Việc tạo ra được kiến thức với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ thể trong
khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ cơng cộng nói chung.
Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mơ, Nhà nước pháp quyền và
hạn chế tham nhũng sẽ dẫn đến tăng trưởng và giảm đói nghèo. Qua các nghiên
cứu của các chun gia có thể thấy khó có thể nhận ra mối quan hệ giữa viện trợ
mà các nước nhận được với trình độ chính sách của họ. Tuy khơng có mối quan
hệ về lượng giữa viện trợ và chất lượng chính sách của nước nhận viện trợ
nhưng trong một số trường hợp viện trợ vẫn có thể góp phần cải cách, thơng qua
các điều kiện đặt ra hoặc thơng qua việc phổ biến ý tưởng mới.
Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả. Tuy nhiên, nguồn vốn ODA
chỉ phát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành
mạnh và một mơi trường chính trị hồn thiện. Nếu khơng chẳng những ODA
khơng phát huy vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước.
Việt Nam là một nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận
được nhiều nguồn ODA và quản lý sử dụng ODA thật hiệu quả phục vụ cho
phát triển đất nước. Việt Nam cần nhận thức rõ được vai trò của ODA, các điều
kiện để ODA phát huy vai trò của nó để từng bước hồn thiện cơng tác thu hút,
quản lý và sử dụng ODA.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA TẠI
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
I, Cơ chế chính sách và khn khổ thể chế.
1, Cơ chế chính sách.
Từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường. Là một nước nơng
nghiệp lạc hậu với thu nhập đầu người thấp, tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn hạn
chế, để đạt được mục tiêu đề ra về phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu vốn của
nước ta rất lớn, đặc biệt là các nguồn vốn từ nước ngồi trong đó có nguồn vốn
ODA. Văn kiện đại hội Đảng 8 đã chỉ rõ: “ Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát
triển chính thức đa phương và song phương, tập trung chủ yếu cho việc xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao trình độ khoa học cơng nghệ và
quản lý, đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho các ngành nơng- lâm
ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, ưu tiên dành viện trợ khơng hồn lại cho
những vùng chậm phát triển, các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả
nợ vững chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, khơng được gây thêm gánh nặng
nợ nần khơng trả được. Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và có kiểm
tra, quản lý chặt chẽ chống lãng phí tiêu cực".
Nhờ thực hiện chính sách đa phương hố, đa dạng hóa các quan hệ đối
ngoại, kể từ năm 1993 Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và tiếp
nhận được nhiều nguồn ODA từ các quốc gia, các tổ chức Quốc tế trên thế giới.
Khối lượng ODA vào Việt Nam khơng ngừng tăng lên qua các năm. Trong giai
đoạn 1996-2000 mục tiêu đặt ra về vận động nguồn vốn ODA cam kết là trên 10
tỷ USD.
Trong q trình tiếp nhận và sử dụng ODA, để có thể khai thác triệt để
thế mạnh của ODA cũng như hạn chế những tác động xấu do ODA mang laị,
Đảng và nhà nước ta đã đưa ra hệ thống các quan điểm về quản lý và sử dụng
ODA.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Hệ thống các quan điểm của Đảng và nhà nước về quản lý và sử dụng
ODA.
Quan điểm 1: ODA là một nguồn ngân sách. Việc điều phối quản lý và sử
dụng ODA cho có hiệu quả thuộc quyền hạn của Chính phủ và phải phù hợp với
các thủ tục quản lý ngân sách hiện hành.
Quan điểm 2: Tranh thủ các nguồn vốn ODA khơng gắn với các ràng
buộc về chính trị, phù hợp với chủ trương đa phương hố đa dạng hố, quan hệ
kinh tế đối ngoại ở Việt Nam.
Quan điểm 3: Phối hợp sử dụng ODA cùng với nguồn vốn FDI và các
nguồn vốn trong nước khác.
Quan điểm 4: Ưu tiên sử dụng ODA để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế xã hội, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế.
Quan điểm 5: Đầu tư vốn ODA để phát triển hạ tầng kinh tế có trọng tâm
trọng điểm.
Quan điểm 6: Ưu tiên bố trí viện trợ khơng hồn lại cho các dự án văn hóa
xã hội ở miền núi, vùng sâu vùng xa trên cơ sở định hướng chung và các quan
điểm, mục tiêu của việc thu hút và quản lý sử dụng ODA.
Tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ năm 1996, Chính phủ Việt
Nam đã đưa ra ba định hướng ưu tiên trong giai đoạn 1996-2000 nhằm kêu gọi
sự chú ý của các nhà tài trợ như sau:
- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.
- Đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thể chế.
- Chuyển giao cơng nghệ.
Với ba hướng ưu tiên nói trên, nguồn ODA đã và sẽ sử dụng để trợ
giúp thực hiện 11 chương trình phát triển kinh tế xã hội đề ra trong kế hoạch 5
năm 1996-2000, tập trung vào một số lĩnh vực như sau:
• Phát triển nơng nghiệp và kinh tế nơng thơn: Đây là một lĩnh vực
ưu tiên đầu tư chính của Việt Nam. Các lĩnh vực ưu tiên để phát triển nơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
nghiệp và kinh tế nơng thơn là chuyển đổi cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng
thơn theo hướng cơng nghiệp hố, giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, việc
làm, xố đói giảm nghèo và xây dựng hạ tầng cơ sở nơng thơn.
• Trong lĩnh vực cơng nghiệp: Việt Nam là một nước kém phát triển, đặc
biệt là về cơng nghiệp. Việt Nam dự kiến dành một phần ODA để xây dựng các
nguồn điện lớn, khơi phục và phát triển các trạm và hệ thống đường dây phân
phối, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn.
• Trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở: ODA đặc biệt được ưu tiên cho phát triển
hạ tầng cơ sở, trước hết cho khơi phục và nâng cấp các tuyến trục đường quốc
gia như quốc lộ 1, quốc lộ 5, quốc lộ 10 Phát triển giao thơng nơng thơn cũng
được ưu tiên nhất là cho các tỉnh biên giới, miền núi, các tuyến đường đến các
huyện xa xơi hẻo lánh.
• Ưu tiên phát triển nhân lực và thể chế sẽ được thể hiện ở việc ưu tiên sử
dụng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo, bao gồm cả giáo dục phổ thơng,
dạy nghề và đại học, đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ giáo viên và cải cách
chương trình đại học, tăng cường trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
• Trong lĩnh vực văn hố xã hội: Sẽ sử dụng ODA từ nhiều nguồn để trợ
giúp thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, chương trình dân
số và kế hoạch hố gia đình, chương trình tiêm chủng mở rộng
2, Khn khổ thể chế.
2.1, Giai đoạn trước năm 1993.
Trước 1993 Việt Nam chưa nối lại quan hệ với các tổ chức Quốc tế do
Mỹ cấm vận và do quan niệm sai lầm cho rằng ODA là khoản cho khơng nên
khối lượng ODA đến Việt Nam khơng lớn, hệ thống quản lý ODA chủ yếu là
khơng có hiệu quả.
Trong thời kỳ này, Văn phòng Chính phủ là cơ quan đầu mối quản lý
ODA phối hợp với một số cơ quan khác như Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài
chính, Bộ Ngoại giao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng chức năng và
nhiệm vụ của các cơ quan liên quan này chưa được xác định rõ ràng. Trong suốt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
thời gian này khơng có quy chế rõ ràng về đấu thầu, mua sắm và giải ngân. Các
dự án ODA chủ yếu được thực hiện theo quy chế của từng nhà tài trợ cụ thể.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét