Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đối với một số đối tượng đặc biệt

đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
nói chung và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói riêng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự. Kết quả đấu tranh đã đem lại nhiều kết quả tốt, kinh
nghiệm hay cần được tổng kết bổ sung cho lý luận để nhân rộng, nhưng bên
cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, thiếu sót ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả
điều tra tội phạm, xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, gây dư luận xấu
trong nhân dân ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và ngành Công an
và tạo sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc chống phá Nhà nước
ta.
Để rút ra những kinh nghiệm hay từ thực tiễn đấu tranh và khắc phục
những hạn chế trong lý luận góp phần thực hiện tốt việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn trong thời gian tới, việc nghiên cứu vấn đề áp dụng biện pháp ngăn
chặn đối với các đối tượng đặc biệt một cách đầy đủ, hệ thống về mặt lý luận,
đánh giá một cách toàn diện, chính xác khác quan về thực tiễn áp dụng trong
giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
Trong thời gian qua có một số công trình khoa học đã nghiên cứu đến
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong quá tình giải quyết vụ án hình sự.
Nhìn chung, các công trình khoa học trên chủ yếu tập trung phân tích phương
diện lí luận quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn và những vướng
mắc trong thực tế. Nhưng các vấn đề đó chỉ mang tính chung chung mà chưa
đi sâu vào một nhóm đối tượng cụ thể nào.
Với góc độ nghiên cứu lý luận về các biện pháp ngăn chặn đã có, một
số tác giả đề cập đến trong các tác phẩm " Những điều cần biết về bắt, giữ,
khám xét " của Phạm Quang Mỹ, Phạm Hữu Kỳ - Nhà xuất bản CAND
(1983). Đây là một trong những tác phẩm đấu tiên luận giải các vấn đề liên
quan đến các biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên trong đó tập trung vào các biện
pháp có tính cưỡng chế cao như bắt, giữ người. Trong giai đoạn này BLTTHS
7
chưa ra đời vì vậy việc phân tích chúng chỉ ở bước đầu tìm hiểu các vấn đề
liên quan. Cuốn " Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam " của
Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên - Nhà xuất bản Pháp lý 1993. Đây là
tác phẩm ra đời sau khi BLTTHS 1988 có hiệu lực được bốn năm. Các tác giả
tập trung phân tích làm rõ những quy định của BLTTHS về các biện pháp bắt
người, tạm giữ, tạm giam. Bên cạnh đó tác phẩm cũng đã phân tích một số
vấn đề thực tiễn phát sinh trong quá trình áp dụng các biện pháp bắt người,
tạm giữ, tạm giam. Cuốn " Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình
sự Việt Nam” của Nguyễn Mai Bộ - Nhà xuất bản CAND 1997. Tác phẩm này
lần đầu tiên đề cập đến tất cả các biện pháp ngăn chặn được quy định trong
BLTTHS. Trong đó tác gia phân tích tương đối chi tiết các quy định của pháp
luật về các biện pháp ngăn chặn, luận giải và nêu ra các ý kiến xung quanh
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Ngoài ra còn có các tài liệu đơn lẻ, một số
bài viết trên các tạp chí Trật tự an toàn xã hội, tạp chí Toà án nhân dân, tạp
chí Dân chủ và pháp luật, tạp chí Kiểm sát… Các tài liệu này cũng chỉ mới
khai thác được một số vấn đề về cách thức phương pháp áp dụng các biện
pháp ngăn chặn.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ gần đây cũng đã nghiên cứu các
vấn đề liên quan đến biện pháp ngăn chặn. Trong đó có một luận án tiến sĩ
nghiên cứu chung về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án
hình sự của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Một số luận văn thác sĩ khác nghiên
cứu về tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn ở một số địa phương hoặc đối
với đối tượng là người chưa thành niên. Trong một số tài liệu có tính chất
hướng dẫn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như cuốn "Sổ tay điều tra
hình sự" - Nhà xuất bản CAND 1986, "Giáo trình chiến thuật điều tra hình
sự" của Trường Đại học CSND đã nêu rõ hơn về việc chỉ dẫn trong thực tế.
Song việc vận dụng đa dạng ở từng địa phương còn tuỳ thuộc nhiều vào các
8
hướng dẫn cụ thể, ý kiến chỉ đạo, các tài liệu trong các cuộc họp rút kinh
nghiệm của công tác áp dụng các biện pháp ngăn chặn cụ thể qua điều tra vụ
án. Tuy nhiên trong đó vẫn chưa đề cập đến những vướng mắc, khó khăn
cũng như đưa ra giải pháp cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các
đối tượng đặc biệt.
Xuất phát từ tình hình đó cho nên tôi dã lựa chọn đề tài:" Áp dụng biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đối với một số đối tượng đặc biệt"
nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết nói trên.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực
tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một số đối tượng đặc biệt, đưa ra
những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn,
trong đó chú trọng các yêu cầu về chính trị và nghiệp vụ đối các đối tượng
đó.
Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu phải giải quyết được những
nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ địa vị pháp lý, đặc điểm của các đối tượng đặc biệt;
làm rõ vai trò lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, đồng thời liên hệ đến các chủ trương, chính sách hiện hành
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của ngành Công an cũng như các văn bản
pháp lý quốc tế có liên đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, từ đó chỉ ra
những bất cập của những yêu tố pháp luật, chủ trương, chính sách và chỉ dẫn
nghiệp vụ về vấn đề này để có các kiến nghị nhằm hoàn thiện về lí luận và cơ
sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một số đối tượng
đặc biệt.
- Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối
tượng đặc biệt ở nước ta trong khoảng từ năm 2000 đến nay nhằm tìm ra
9
những kinh nghiệm hay, những khó khăn vướng mắc, những điều bất hợp lý
khi áp dụng trên thực tế các biện pháp ngăn chăn đối với các đối tượng đặc
biệt cũng như những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến những vấn đề còn tồn
tại đó.
- Đưa ra các dự báo về tình hình tội phạm do các đối tượng đặc biệt
thực hiện trong thời gian tới và những yếu tố tác động đến việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn. Từ đó, đưa ra các giải pháp trên các phương diện pháp lý,
các chỉ dẫn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn
chặn nói riêng và quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung liên quan
đến các đối tượng đặc biệt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với loại đối tượng đặc thù
là đại biểu cơ quan dân cử; đảng viên; cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; các
chức sắc tôn giáo, văn nghệ sĩ, nhà báo nổi tiếng, người có quy tín trong các
dân tộc thiểu số, người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam trong qua trình giải
quyết vụ án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn đối với người nước ngoài trong phạm vi cả nước trong đó chú
trọng một số địa phương trọng điểm từ năm 2000 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh và quan điểm của
Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đấu tranh phòng
chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích,
so sánh, tổng hợp, sử dụng tiền sử áp dụng biện pháp ngăn chặn để đối chiếu,
10
kết hợp việc khảo sát thực tế; phương pháp chuyên gia, phỏng vấn bằng cách
tọa đàm, trao đổi ý kiến với lãnh đạo chủ chốt và các cán bộ làm công tác
nghiên cứu, các đồng nghiệp hoạt động thực tế trong lĩnh vực điều tra tội
phạm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một đóng góp tích cực
cho việc hoàn thiện việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Đồng thời góp phần
xây dựng cách thức, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các
đối tượng đặc biệt bên cạnh những thủ tục pháp lý tố tụng.
Về thực tiễn, nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử
dụng khai thác trong quá trình biên soạn giáo trình, nghiên cứu khoa học, dạy
và học trong các trường Công an nhân dân; là tài liệu tham khảo cho các cơ
quan, cán bộ đang làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh với loại tội phạm này từ
đó chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng, sự chỉ đạo của Bộ Công
an về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng trên trong thực tế.
6. Cấu trúc của đề tài
- Phần mở đầu
- Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận thức chung các đối tượng đặc biệt và các quy định về
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng đặc biệt
Chương 2: Thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối
tượng đặc biệt
Chương 3: Những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng đặc biệt
- Phần kết luận
11
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT VÀ CÁC
QUY ĐỊNH VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI
CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT
1.1. Nhận thức về các đối tượng đặc biệt trong áp dụng các biện pháp
ngăn chặn
1.1.1. Khái niệm đối tượng đặc biệt
Xuất phát từ góc độ địa vị pháp lý của công dân thì mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật [19]. Trong hoạt động tố tụng hình sự, mọi công dân
có vị trí tố tụng hình sự như nhau thì có quyền và nghĩa vụ như nhau, không
phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã
hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người
phạm tội thì bị xử lý theo quy định của pháp luật đúng với tính chất, mức độ của
hành vi phạm tội. Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, tính chất, mức độ phạm
tội như nhau thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế, các biện pháp ngăn chặn
giống nhau Trong phiên toà, những người tham gia tố tụng hình sự đều bình
đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và các yêu cầu, tranh luận trước Tòa án.
Nhưng trong mỗi lĩnh vực, tùy thuộc vào vị thế và vai trò của mỗi người,
những hành vi của họ hoặc các hoạt động liên quan đến họ có những tác động,
ảnh hưởng khác nhau đến đời sống chính trị, kinh tế và tình hình xã hội xung
quanh.
Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là một trong những
biện pháp cưỡng chế có tính nghiêm khắc, tác động ảnh hưởng đến các quyền
và lợi ích cơ bản của người bị áp dụng. Ngoài mục đích ngăn chặn tội phạm,
ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động cản trở quá trình điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối
12
với một người còn thể hiện thái độ, sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi
của họ. Mặc dù chưa bị coi là có tội, nhưng khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn,
uy tín, danh dự cá nhân bị tổn thương và tùy thuộc và vị thế, vai trò xã hội, công
tác của họ mà nó ảnh hưởng đến ngành, nghề họ làm việc; uy tín, danh dự tổ
chức mà họ tham gia; đến cuộc sống cộng đồng nơi họ sinh hoạt và thậm chí
ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của một quốc gia trên trường quốc tế.
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói riêng suy cho
cùng đều nhằm mục đích bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
Chính vì vậy, khi quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, ngoài việc đảm bảo
các mục đích và yêu cầu của pháp luật còn phải đảm bảo các yêu cầu về chính
trị và nghiệp vụ. Xuất phát từ yêu cầu này, Đảng, Nhà nước và Bộ Công an đã
có những hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động cưỡng chế liên quan đến các đối
tượng có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Các đối tượng đó
được gọi là các đối tượng đặc biệt.
Thuật ngữ các đối tượng đặc biệt đã được sử dụng trong một số văn bản
của Đảng và văn bản của Bộ Công an chỉ đạo công tác áp dụng các biện pháp
ngăn chặn như: Bản chế độ công tác bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét người, đồ
vật, nhà ở, thư tín, của người phạm pháp ban hành kèm theo quyết định số
435/QĐ ngày 06/6/1969 của Bộ trưởng Bộ Công an; Công văn Số 318/CV-
BNV(V11) ngày 29/3/1992 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc báo cáo
xin ý kiến trước khi bắt, giam, giữ một số đối tượng đặc biệt. Gần đây trong Chỉ
thị số 52 - CT/TW ngày 16/3/2000 của Bộ Chính trị về phạm vi, trách nhiệm,
quyền hạn giữa các cấp ủy Đảng với Đảng ủy Công an, Ban cán sự Đảng Viện
kiểm sát nhân dân, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân trong công tác bảo vệ
13
Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên và Hướng dẫn số 05 -
HD/NCTW ngày 15/01/2001 của Ban Nội chính trung ương về sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác xử lý tội phạm theo tinh thần Chỉ thị số 52-CT/TW ngày
16/3/2000 của Bộ Chính trị cũng nói về các đối tượng đặc biệt. Trong các văn
bản này không đưa ra định nghĩa các đối tượng đặc biệt, nhưng trong đó xác
định cụ thể các đối tượng đặc biệt và các vấn đề có liên quan đến việc xác định
đó là các đối tượng đặc biệt.
Trong Bản chế độ bắt, tạm giữ, tạm giam và khám xét người, đồ vật, chỗ
ở, thư tín của người phạm pháp, các đối tượng đặc biệt được quy định từ Điều
18 đến Điều 25 bao gồm: cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước; đảng viên
Đảng lao động Việt Nam; giám mục, linh mục, tu sĩ, hòa thượng, mục sự, giáo
sư đạo Cao Đài, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo có tiếng, tầng lớp trên của
các dân tộc ít người; người phạm pháp thuộc loại gián điệp hoặc các vụ án phản
động có liên quan đến nhiều địa phương, liên quan đến tôn giáo, liên quan đến
vấn đề dân tộc ít người; người phạm pháp là người nước ngoài. [8]
Trong Công văn 318/CV - BNV, các đối tượng đặc biệt được xác định
bao gồm: người có chức sắc trong các tôn giáo; người thủ lĩnh, người có danh
tiếng, có vai vế uy tín lớn, tri thức có tên tuổi trong các dân tộc ít người; tri thức,
nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được trong nước và thế giới chú ý
tới và người nước ngoài.
Trong chỉ thị 52 - CT/TW ngày 16/3/2000 các đối tượng đặc biệt được
xác định bao gồm: người phạm tội là cán bộ, đảng viên; đối tượng trong các vụ
án gián điệp, đảng phái phản động; người phạm tội là chức sắc tôn giáo, là cán
bộ có uy tín trong các dân tộc ít người; là tri thức, văn nghệ sĩ, nhân sĩ có danh
tiếng; người phạm tội là người nước ngoài hoạt động chính trị phản động hoặc
14
phạm pháp về kinh tế, nhưng việc xét xử có ảnh hưởng đến chính trị.
Từ những quy định đó ta thấy, đối tượng đặc biệt trong áp dụng các biện
pháp ngăn chặn được xác định là các đối tượng mà khi tiến hành áp dụng biện
pháp ngăn chặn đối với họ thường tạo ra các luồng dư luận, gây nên sự giao
động về tâm lý của một bộ phận quần chúng nhân dân hoặc xuất hiện sự xung
đột về mặt pháp lý làm tác động, ảnh hưởng đến các vấn đề nhạy cảm về chính
trị, kinh tế dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, tuyên truyền nhằm làm
giảm uy tín của Đảng, của Nhà nước; chia rẽ sắc tộc, tôn giáo để chống phá Nhà
nước ta.
Với cơ sở để xác định các đối tượng đặc biệt như vậy, ta có thể thấy
những văn bản nêu trên đều đã liệt kê tương đối đầy đủ các đối tượng đặc biệt.
Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ do tình hình địa chính trị, chính sách
phá hoại của các thế lực thù địch cũng như tình hình kinh tế, xã hội trong nước
thay đổi thì tính nhạy cảm về chính trị của các đối tượng cũng thay đổi. Như
Bản chế độ công tác bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét quy định, thì trong giai
đoạn đó tất cả cán bộ, công nhân viên chức trong mọi lĩnh vực đều được xác
định là đối tượng đặc biệt. Nhưng đến giai đoạn sau này, khi nền công nghiệp đã
tương đối phát triển thì đây không còn là lực lượng cá biệt mà là một bộ phận
đông đảo trong cộng đồng, cho nên không phải mọi cán bộ, công nhân viên
chức đều được xác định là đối tượng đặc biệt mà chỉ là một bộ phận trong đó.
Các văn bản sau này đã có sự chắt lọc thu hẹp lại diện các đối tượng đặc biệt.
Tuy nhiên trong đó vẫn có những đối tượng tuy khi áp dụng biện pháp ngăn
chặn đối với họ phải tuân thủ những thủ tục đặc biệt nhưng vẫn không được xác
định là đối tượng đặc biệt, như cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an
nhân dân; cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân. Đối với sĩ
15
quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân và công nhân viên quốc phòng
mặc dù không quy định là đối tượng đặc biệt nhưng các trình tự thủ tục giải
quyết các vụ án liên quan đến họ đã có một hệ thống quân pháp tiến hành. Vì
vậy việc không đưa họ vào diện các đối tượng đặc biệt cũng được. Nhưng đối
với cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân, xuất phát từ công tác
quản lý cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ trong ngành Công an, từ đặc
điểm của đối tượng phạm tội được nhìn nhận là người đại diện cho kỷ cương
phép nước, có hiểu biết nhất định về pháp luật và nghiệp vụ Công an, có mối
quan hệ với cán bộ, chiến sĩ trong ngành nên cũng cần có những quy định riêng,
nhưng hiện nay vẫn chưa có các văn bản cụ thể hướng dẫn.
Từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cơ sở nghiên cứu
các văn bản quy định về các đối tượng đặc biệt có thể xác định: Các đối tượng
đặc biệt trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn là các đối tượng mà xuất phát từ
đặc điểm nhân thân của họ, khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, bên cạnh việc
tuân thủ các thủ tục chung còn phải thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm đảm bảo
các yêu cầu về chính trị và nghiệp vụ.
Trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đánh giá sự tác động về mặt chính
trị, tính chất ngành nghề, tính đại diện, mức độ ảnh hưởng xã hội, có thể xác
định các đối tượng sau là các đối tượng đặc biệt: Đại biểu dân cử; đảng viên;
Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; người có chức sắc trong các tôn giáo; người
thủ lĩnh, người có danh tiếng, có vai vế uy tín lớn, tri thức có tên tuổi trong các
dân tộc ít người; tri thức, nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được
trong nước và thế giới chú ý tới và người nước ngoài.
1.1.2. Địa vị của các đối tượng đặc biệt
1.1.2.1. Đại biểu các cơ quan dân cử
16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét