Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MULTIMEDIA ĐỂ XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

dạy học.
Chương 2: Ứng dụng CNMM xây dựng các bài giảng điện tử và phần mềm
dạy học theo fhướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của Sinh viên.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ MULTIMEDIA TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Sự phát triển của Multimedia và vai trò của nó trong dạy học
Việc ứng dụng nhiều phương tiện kết hợp trong dạy học đã có từ rất lâu,
trong dạy học truyền thống người Thầy khi lên lớp thường dùng tranh ảnh minh
hoạ, các mô hình hay vật thật kết hợp với thao tác trình diễn và thuyết trình.
Hình thức dạy học này vẫn mang lại những hiệ
u quả giáo dục không hề thua kém
so với các hình thức multimedia hiện đại ngày nay. Qua các giai đọan phát triển
từ 1930 đến nay, CNMM ngày càng phát triển và khẳng định được vi trí của nó.
Việc sử dụng các công nghệ multimedia trong các trường học được xem là hành
trang cần thiết để bước vào thế kỷ 21. Ngày nay, cùng với sự phát triển của E-
learning, công nghệ multimedia đã và đang thâm nhập vào quá trình giáo dục với
những khả năng tương tác ngày càng cao hơn và hoàn thiện hơn, góp phần vào
việc xã hội hoá giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo.
Những nghiên cứu ứng dụng công nghệ multimedia vào dạy học ở trong và
ngoài nước
Các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu hướng đến việc ứng dụng máy
tính vào quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả trong đó có những công trình
nghiên cứu sử dụng công nghệ Multimedia như một ứng dụng của máy tính
trong quá trình đào tạo. Các nghiên cứu này ở giai đoạn ki
ểm chứng việc áp
dụng công nghệ thông tin vào dạy học và bước đầu đưa ra các cơ sở lý luận để
thuyết phục tính hiệu quả của việc áp dụng công nghệ thông tin. Các đề tài
nghiên cứu trong nước bước đầu đã đặt nền tảng cơ sở lí luận và thực nghiệm
cho việc nghiên cứu tiếp theo.
Trên thế giới, các nghiên cứu nhằm mục đích so sánh hiệu quả của ph
ương
pháp dạy học có ứng dụng công nghệ multimedia và phương pháp dạy học
truyền thống vẫn cho ra các kết quả trái ngược nhau. Có nhiều hướng nghiên cứu
về ứng dụng công nghệ multimedia trong dạy học, về cơ bản có các hướng sau:
1.Nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ Multimedia lên kết quả học tập và
sự tích cực hóa người học.
2. Nghiên cứu về các ảnh hưởng của CNMM lên nhận thức của HS.
3. Nghiên cứu về các ảnh hưởng không kiểm soát được củ
a CNMM.
4. Nghiên cứu về các ảnh hưởng tiêu cực của CNMM trong QTDH.
5. Nghiên cứu về việc phát triển, sản xuất và ứng dụng. multimedia
6. Nghiên cứu ứng dụng thuyết kiến tạo trong thiết kế phần mềm multimedia
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNMM TRONG DẠY HỌC
Khái niệm Multimedia
Trong phần này tác giả đã trình bày những khái niệm cơ bản về media theo
hai cách tiếp cận: ngôn ngữ nói- các loại phươ
ng tiện truyền thông và theo gốc la
tinh của từ media- vật đứng giữa, làm trung gian và trao đổi lẫn nhau. Khái niệm
multimedia được trình bày với tư cách là sự phối hợp các phương tiện truyền
thông nhằm mang lại hiệu quả truyền thông hiệu quả hơn, tác giả đề nghị không
dịch multimedia là đa phương tiện vì nếu dịch như thế sẽ làm mất đi đặc tính
quan trọng của multimedia là sự tương tác, tác giả
cũng đặt vấn đề về sự tiện lợi
của máy tính và mạng máy tính trong việc thiết kế, xây dựng, phát hành và lưu
trữ các kênh thông tin.
Công nghệ multimedia trong giáo dục
Phần này đề cập đến công nghệ multimedia (CNMM) là tất cả các loại thiết
bị công nghệ giúp chúng ta truyền phát thông tin theo nghĩa rộng, ngoài ra nó
còn giúp chuyển đổi thông tin thành kiến thức thông qua sự kích thích các sơ đồ
nhận thức của người học và có tác dụng làm đòn bẩy cho năng lực học tập ở các
giác quan của con người. Có thể phân biệt 2 lĩnh vực ứng dụng của CNMM
trong giáo dục:
Các ứng dụng hỗ trợ từ phía bên trong các đơn vị đào tạo:
là tất cả các công
cụ thúc đẩy giá trị của những bài học ví dụ như: siêu liên kết, mô phỏng, tương
tác, các công cụ hình ảnh và âm thanh…
Các ứng dụng hỗ trợ từ phía bên ngoài đơn vị đào tạo:
đó là các công nghệ
như web, phần mềm quản lý, chat, forum, làm việc theo nhóm, tài liệu dùng cho
đào tạo từ xa
Phía sau những ứng dụng của các CNMM là các cơ sở dữ liệu, đây chính là
trái tim của hệ thống multimedia.
Các thể loại multimedia cho giáo dục:
Từ điển bách khoa toàn thư – Encyclopedia, Sách điện tử - Electronic Books,
Cơ sở dữ liệu- Databases, Phần mềm dạy học
Tính tích cực nhận thức của người học.
Dưới góc độ triết học, trên cơ sở phát triển học thuyết Mác- Lê Nin, tính tích
cực đượ
c coi là đặc tính của sinh học sống, luôn vận động phát triển đi lên. Nó là
thái độ cải tạo và biến đổi của chủ thể đối với khách thể.
Một số tác giả nhìn nhận tính tích cực nhận thức dưới góc độ mức độ tham
gia và hoạt động nhận thức. Có 2 mức độ: nhận thức thụ động và nhận thức tích
cực, nhận thức tích cực là mức độ cao c
ủa quá trình nhận thức cá nhân.
Tích cực hóa quá trình nhận thức của người học là tập hợp các hoạt động
nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng
tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khái quát: tính tích cực nhận thức là thái
độ cải tạ
o của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động cao các chức
năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập, nhận thức. Tính tích cực
nhận thức vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, là điều kiện để đạt
được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động c
ủa cá
nhân.
Các mô hình tích cực hóa người học trong thiết kế dạy học với sự hỗ trợ của
công nghệ multimedia
Trong thiết kế dạy học với Multimedia, người ta thường dùng hai mô hình
tích cực hóa người học: Mô hình Malone - Lapper (1987) và Keller (Keller &
Suzuki, 1988). Malone và Lapper đã đề xuất rằng các yếu tố tích cực bên trong
(tích cực đến từ người học, ví dụ như sở thích cá nhân) mang lại nhiều lợi ích
hơn là tích cực bên ngoài (do tác động của bên ngoài như
động viên, khen
thưởng của Thầy….). Hai ông cho rằng có 4 yếu tố làm gia tăng tính tích cực bên
trong: sự thử thách, sự tò mò, sự kiểm soát và khả năng tưởng tượng. Việc dạy
học với multimedia càng có nhiều yếu tố này thì khả năng thành công càng cao.
Tương tự như vậy, Keller cũng đưa ra 4 thành phần tạo ra sự tích cực: Sự chú ý
(Attention), Sự phù hợp (Relevance), sự tự tin (Confidence) và sự thỏa mãn
(Sastisfaction). Mô hình Keller còn được gọi là mô hình ARCS.
Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức khi thiết kế các tài liệu
multimedia
Máy tính với công nghệ multimedia là môi trường thích hợp nhất để cá thể
hoá người học nhằm tạo ra những điều kiện và hoàn cảnh phù hợp với họ. Điều
quan trọng nhất là người Thầy phải thiết kế tài liệu multimedia theo các kịch bản
sư phạm để dẫn dắt người h
ọc đi theo các lộ trình phù hợp với năng lực nhận
thức và kinh nghiệm có sẵn của họ. Trong quá trình nhận thức người học phải
nhận được sự hỗ trợ hoặc gợi ý từ phía chương trình qua sự tương tác, các tương
tác phải nhắm đến sự hỗ trợ và sự điều hướng nhằm phát huy hết tiềm năng sáng
tạo của người học, đ
ó chính là nguyên tắc căn bản nhất của dạy học với sự hỗ trợ
của CNMM. Thuyết kiến tạo không phải là một lý thuyết học tập đã được xác
định rõ ràng mà là khung của các ý tưởng và lý thuyết có cùng giả thiết cơ bản
mà con người học tập thông qua quá trình xây dựng và thích nghi với các khái
niệm qua kinh nghiệm cá nhân. Để cho các nhiệm vụ được xác thực, chúng phải
đề cao quyền tự chủ của ngườ
i học với chủ ý rằng phần mềm multimedia tương
tác phải đề cao sự kiểm soát của người học ở mức độ cao trong chức năng lập
trình cũng như trong lựa chọn hoạt động. Nhà sư phạm phải ứng dụng CNMM
để thiết kế các sán phẩm hỗ trợ người học cơ hội phát triển ý tưởng của riêng
mình và thử nghiệm với quá trình học củ
a riêng mình.
Cơ sở tâm lí học của việc ứng dụng CNMM vào dạy học
Trong suốt 50 năm qua ngành tâm lý học nhận thức qua nghiên cứu các đặc
tính cơ bản về học tập của con người và ảnh hưởng của các đặc tính này lên việc
học. Có một sự thay đổi tinh tế về những điều có thể làm được với công nghệ và
những gì nên làm với chúng để thiết kế những ứ
ng dụng dạy học đầy đủ ý nghĩa”
, đó là sự hợp nhất về sư phạm và công nghệ với nhận thức của người học, thiết
kế dạy học và công nghệ dạy học. Sự hợp nhất này tập trung vào vai trò của ký
ức làm việc trong sự phát triển nhận thức và hiệu quả đào tạo, đặc biệt là nhấn
mạnh đến giới hạ
n tự nhiên của ký ức làm việc (working memory) và sự tải nhận
thức (load cognition). Sự tải nhận thức có liên quan đến các nhu cầu rõ ràng và
cụ thể của ký ức làm việc được hình thành trong quá trình dạy học và ảnh hưởng
của các nhu cầu này đối với quá trình học. Những tác vụ học tập được thiết kế tồi
hoặc có sự hợp nhất phức tạp giữa các ý tưởng, các kỹ năng hay các thuộc tính s

làm tăng sự tải nhận thức và làm cản trở quá trình học. Mối liên hệ giữa tải nhận
thức, ký ức làm việc và dạy học có ý nghĩa đặc biệt khi dạy học với sự hỗ trợ của
công nghệ multimedia.
Các mô hình ký ức và ký ức làm việc
Atkinson và Shiffrin [102] đã nhấn mạnh đến cấu trúc tự nhiên của ký ức và
mô tả ba cấu trúc chủ yếu, ký ức cảm giác (sensory memory), ký ức ngắ
n hạn
(short-term memory) và ký ức dài hạn (long-term memory). Họ cho rằng con
người trải nghiệm thế giới thông qua các cảm giác của họ, lưu trữ tạm thời
những cảm giác này dưới định dạng thô tại các vị trí cảm giác. Các cảm giác này
có thể được mã hoá thành một định dạng quen thuộc với ký ức và được lưu trữ
có chủ ý trong ký ức ngắn hạn, nếu con người nhắc lại sự trải nghiệ
m đã được
mã hoá này thì đó có thể được chuyển vào ký ức dài hạn. Do vậy việc khám phá
năng lực nhận thức của con người trong môi trường multimedia cần phải đề cập
đến cả ký ức làm việc lẫn ký ức dài hạn.
Lý thuyết mã hoá kép
Được xây dựng dựa trên sự phụ thuộc qua lại giữa ký ức làm việc và ký ức
dài hạn, Paivio đã xây dựng lý thuyết nhận thức trong đó nhấn m
ạnh đến hai loại
thông tin: ngôn ngữ (verbal) hoặc phi ngôn ngữ (nonverbal), ông đã phát biểu
rằng ký ức và nhận thức được hai hệ thống xử lý độc lập nhưng có liên hệ qua lại
về mặt chức năng.
Những nghiên cứu xem xét quá trình xử lý thông tin ngôn ngữ/thông tin
không phải ngôn ngữ đã cho thấy hai khám phá quan trọng. Trước hết việc xử lý
các trải nghiệm ngôn ngữ và thị giác sẽ làm cho việc học tập và khả nă
ng ghi
nhớ tốt hơn là chỉ xử lý riêng trải nghiệm ngôn ngữ. Thứ hai, cả hai kênh xử lý
thông tin ngôn ngữ và thị giác là chủ thể của các giới hạn ký ức vì mỗi kênh có
thể bị quá tải làm giảm khả năng xử lý, tốc độ, sự ghi nhớ và ứng dụng kiến thức.
Hai khám phá này đóng vai trò trung tâm trong hoạt động sư phạm với
multimedia và lý thuyết về tải nhận thức.
Thuyết t
ải nhận thức
Thuyết tải nhận thức cũng được xây dựng trên một loạt các giả định về cấu
trúc nhận thức của con người (Mousavi, Low, & Sweller, 1995) bao gồm : (1) ký
ức làm việc và khả năng xử lý của con người có giới hạn. (2) Ký ức dài hạn gần
như không bị giới hạn về kích thước. (3) Tính tự động của quá trình xử lý nhận
thức làm giảm tải cho ký ức làm việc. Ý tưởng trọng tâm của thuyết tải nhận
thức là ký ức làm việc có giới hạn và nếu bị quá tải thì việc học, sự ghi nhớ và
khả năng ứng dụng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Thuyết tải nhận thức thừa nhận
rằng người học có ba nguồn tải nhận thức độc lập với nhau: tả
i nhận thức bắt
buộc (intrinsic cognitive load) , tải nhận thức bổ sung (extraneous cognitive
load) và tải nhận thức thích hợp (germane cognitive load). Cả ba hình thức tải
nhận thức này cùng phối hợp với nhau tạo thành toàn bộ tải ký ức làm việc đặt
lên người học trong suốt quá trình giảng dạy
Thuyết nhận thức với multimedia
Cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm trong dạy học với multimedia tập
trung vào quá trình xử lý nhận thứ
c các thông điệp multimedia và ảnh hưởng của
quá trình này lên việc học. Quá trình xử lý các thông điệp multimedia này trong
môi trường dạy học có một đặc trưng là giảm xuống còn hai dạng thông tin là
định dạng thông tin ngôn ngữ (verbal information) và không phải ngôn ngữ
(nonverbal information) mà ta đã đề cập ở phần trên. Năm quá trình xử lý này có
trong thuyết nhận thức về multimedia và bao gồm: (a) lựa chọn những từ có liên
hệ từ môi trường multimedia, (b) lựa chọn những hình ảnh liên hệ
từ môi trường
multimedia, (c) tổ chức và lựa chọn các từ thành một sự trình bày mạch lạc, (d)
tổ chức và lựa chọn các hình ảnh thành một sự trình bày mạch lạc và (e) hợp nhất
sự trình bày các từ và hình ảnh với các kiến thức đã có từ trước thành mô hình trí
tuệ mạch lạc.
Các đặc điểm hoạt động nhận thức của sinh viên các trường đại học khối kỹ
thu
ật và những phương hướng- biện pháp đổi mới PPDH
Trong phần này tác giả đã đưa vấn đề bối cảnh xã hội hiện nay và những tác
động lên hoạt động nhận thức của SV, các ảnh hưởng về tâm sinh lí, nhân cách
và quá trình học tập ở bậc đại học lên hoạt động nhận thức SV cũng được đề cập.
Tác giả đã phân tích đặc điểm nhận thức của SV các tr
ường đại học khối kỹ thuật
và đề ra các biện pháp dạy học phát triển tư duy kỹ thuật
1.3 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNMM HIỆN NAY
Trong thời gian 5 tháng từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006, nhóm
nghiên cứu đã tiến hành điều tra thực tế bằng các phiếu thăm dò 232 giáo viên
giảng dạy các môn học chuyên ngành và 238 sinh viên đang theo học các môn
chuyên ngành tại các trường đại học: Bách khoa Hà Nội, Công nghiệp TPHCM
và Sư phạm Kỹ thuật TPHCM. Kết quả thu được như sau :
¾ 97% GV có ứng dụng CNTT trong dạy học
¾ 2 sản phẩm ứng dụng nhiều nhất hiện nay là bài giảng điện tử và phần
mềm dạy học.
¾ Cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ của nhà trường chưa đủ thuyết
phục GV tham gia vào ứng dụng CNTT và CNMM.
¾ 95% GV đều thống nh
ất về hiệu quả của việc ứng dụng CNMM vào
dạy học và những ưu thế dạy học mà nó mang lại.
¾ Khả năng ứng dụng của các GV còn nhiều hạn chế, cần phải có một
qui trình chuẩn và sản phẩm mẫu để các GV tham khảo.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
¾ Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ multimedia vào dạy học hiện
nay là hoàn toàn có cơ sở
khoa học và phù hợp với xu thế phát triển
của của thời đại hiện nay.
¾ CNMM có thể hỗ trợ cả hai hình thức dạy học giáp mặt và dạy học từ
xa. Khi ứng dụng CNMM vào thiết kế các bài giảng và tổ chức các
hoạt động nhận thức trên lớp học sẽ tạo ra một môi trường dạy học lí
tưởng, khi ứng dụng để xây dựng các phần mề
m dạy học sẽ tạo thêm
nhiều cơ hội để củng cố, luyện tập và phát triển kiến thức cho sinh
viên bên ngoài lớp học.
¾ Để có thể ứng dụng hiệu quả CNMM, giáo viên cần phải được bồi
dưỡng đào tạo để có những kỹ năng cơ bản về tin học, những kiến
thức lí luận của việc ứng dụng CNTT và CNMM vào quá trình dạy
học.
¾ CNMM là một phương tiện hỗ trợ dạy học hiện đại, tỏ ra có nhiều thế
mạnh, tuy nhiên nó không phải là một thiết bị dạy học vạn năng, có
thể thay thế cho toàn bộ các thiết bị dạy học khác và càng không thể
thay thế hẳn vai trò của người GV.
¾ Tình hình thực tế của việc ứng dụng CNTT nói chung và CNMM nói
riêng còn có nhiều điểm chưa phù hợp c
ần phải có chính sách hỗ trợ
và đào tạo. Đặc biệt phải nhấn mạnh đế tầm quan trọng của kịch bản
sư phạm và vai trò người Thầy khi xây dựng và sử dụng CNMM trong
dạy học.
CHƯƠNG 2
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MULTIMEDIA THEO HƯỚNG
TÍCH CỰC HÓA QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
CỦA NGƯỜI HỌC TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN
CHUYÊN NGÀNH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT
2.1-PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH Ở CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT
Môn học chuyên ngành là môn học nhằm trang bị cơ sở lí luận và kiến thức
chuyên biệt của một ngành học cụ thể. Mỗi một ngành học sẽ có những môn học
chuyên ngành với những đặc trưng khác nhau, tuy nhiên chúng đều có điểm
chung là để học những môn học này, người học đã phải học các môn khoa học
c
ơ bản và môn cơ sở ngành, tức là đã có những khái niệm cơ bản và đủ kiến thức
để lĩnh hội những kiến thức chuyên môn phục vụ cho lĩnh vực hoạt động nghề
nghiệp sau này. Môn học chuyên ngành ở các trường đại học kỹ thuật ngoài
những đặc trưng trên còn có đặc trưng biến đổi tư duy logic thành tư duy kỹ
thuật để giái quyết các vấn đề trong th
ực tế.
Đặc điểm nội dung các môn học chuyên ngành của các trường Đại học khối
kỹ thuật
Nội dung các môn học chuyên ngành tại các trường đại học kỹ thuật có 3 tính
chất cơ bản như sau:
¾ Tính cụ thể và tính trừu tượng
¾ Tính tổng hợp, tích hợp
¾ Tính ứng dụng
Những yêu cầu của chương trình giảng dạy các môn chuyên ngành tại các
trường Đạ
i học kỹ thuật.
Các trường đại học khối kỹ thuật ở nước ta hiện nay là các trường đại học đa
ngành, đa lĩnh vực vì vậy nội dung dạy học vô cùng phong phú. Các môn học cơ
sở và chuyên ngành hầu hết mang tính chất nền tảng, mô tả cấu trúc, mô hình,
nguyên lý hoạt động của các thiết bị, Vì vậy các bài giảng cần phải minh họa
bằng nhiều sơ đồ, biể
u đồ, hình ảnh, phim ảnh tĩnh hay động, thí nghiệm ảo, mô
hình, mô phỏng nguyên lý làm việc của các thiết bị, một dây chuyền sản xuất,
một hệ thống như hệ thống viễn thông, hay cả một nhà máy như nhà máy thuỷ
điện… Để sinh viên ra trường có thể thích ứng ngay với công việc, chương trình
đào tạo ở bậc đại học phải luôn được cập nhật và bám sát thực tế. Ngoài việc
biên soạn và bổ sung cho các giáo trình mới, việc cập nhật kiến thức mới cho
sinh viên thường thông qua ba hình thức: các môn học chuyên ngành do khoa tự
chọn, bài tập lớn hay đề án môn học và đồ án tốt nghiệp của sinh viên.
Khi đã học đến các môn chuyên ngành, người SV đã phải nắm chắc các môn
cơ bản và cơ sở ngành đồng thời phải có sự chuyển tiếp từ tư duy logic sang tư
duy kỹ thuật để có giải quyế
t các vấn đề kỹ thuật của thực tế. Phần lớn các sinh
viên rất chán nản trong giai đoạn học chuyên ngành nếu không được tạo điều
kiện để thích nghi với các giai đoạn chuyển tiếp kiến thức từ mức độ hoàn thành
bài tập lý thuyết rời rạc sang mức độ ứng dụng lý thuyết để giải quyết tình huống
thực tiễn mang tính khái quát và tổng hợp cao
Những khó khăn hiện nay của các Giảng viên và Sinh viên trong việc giảng
dạy và học tập các môn chuyên ngành
Điều kiện trang thiết bị cho dạy học của các GV còn nhiều hạn chế. Các GV
chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để xây dựng các chương trình dạy học
hoặc các bài giảng điện tử. Khi đứng trước những nội dung khó trình bày và có
quá nhiều thông tin phức tạp, GV và SV cũng chán nản do không biết ph
ải xoay
xở như thế nào. Trong môi trường xã hội với tốc độ phát triển KH và CN như vũ
bão và sự bùng nổ CNTT, PPDH độc thoại với mối tương tác một chiều, sẽ làm
SV mất dần khả năng làm việc theo nhóm, tính thích nghi kém, vì vậy tính tích
cực chủ động tiếp nhận tri thức giảm sút, không đáp ứng được yêu cầu truyền tải
nội dung kiến thức bài giảng có tính cập nhật và thời s
ự, không đưa người học
tiếp cận được tới KH & CN hiện đại.
Như vậy, cần phải có một phương pháp thích hợp để phân tích và xác định
các đặc tính của các môn học công nghệ phức tạp. Đây cũng chính là động lực để
phát triển các phương pháp dạy học mới cho các môn chuyên ngành ở bậc đại
học.
Hiện nay trong các trường đại học khối kỹ thuật đang tồ
n tại tình trạng khó
khăn là sỉ số sinh viên trong lớp đông nên khả năng quan sát bài giảng của Thầy
còn nhiều hạn chế, điều kiện thực tập thiếu thốn khiến các em không có đủ thời
gian và thiết bị để rèn luyện kỹ năng, tay nghề .
Từ sự phân tích những tính chất đặc thù của nội dung môn chuyên ngành của
các trường đại học khối kỹ thuật, những yêu cầ
u của chương trình đào tạo và
những khó khăn hiện của các giảng viên nay ta có thể thấy rằng muốn cho sinh
viên tiếp thu một cách sâu sắc, thực tế hơn về nội dung các lĩnh vực kỹ thuật thì
cần phải trực quan hóa quá trình giảng bài (sử dụng phối hợp nhiều kênh, nhiều
phương tiện khác nhau khi trình bày bài giảng), cần phải tạo thêm nhiều cơ hội
cho sinh viên tham gia vào quá trình nhận thức theo năng lực riêng của mình để
sinh viên có thể tìm thêm thông tin, luyện tập kỹ năng, thao tác thành thạo với
các mô hình, vận dụng các nguyên lý để giả
i quyết các vấn đề của thực tiễn qua
các phần mềm dạy học. Muốn làm được điều này trong giai đoạn hiện nay, cần
phải trang bị cho người học những công cụ rèn luyện thêm trong và ngoài giờ
học, đó là các bài giảng điện tử và phần mềm dạy học.
2.2 ĐỀ XUẤT CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VIỆC XÂY DỰNG
CÁC BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ PMDH Ứ
NG DỤNG CNMM
Từ những cơ sở lí luận trên và tình hình thực tế, tác giả đã rút ra những
nguyên tắc cơ bản
¾ Xác định rõ chủ đề ứng dụng CNMM
¾ Sử dụng phương tiện dạy học phù hợp với phương pháp dạy học
¾ Quản lý tốt việc tải nhận thức.
¾ Tránh lạm dụng Multimedia
¾ Định hướng sự chú ý của ng
ười học
¾ Hỗ trợ thêm cho ký ức
¾ Hợp nhất các hình ảnh và âm thanh
¾ Tạo điều kiện cho người học thực hành
¾ Sử dụng các kỹ thuật mã hóa hiệu quả
¾ Khuyến khích sự phục hồi có hiệu quả từ ký ức dài hạn
2.3 XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ PHẦN MỀM HỖ TRỢ DẠY
HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH THEO HƯỚNG TÍCH C
ỰC HÓA
QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐH KHỐI KỸ THUẬT
Đặc điểm của môn học Kỹ thuật tách và chỉnh sửa màu
Môn học chuyên ngành Kỹ thuật tách và chỉnh sửa màu được tổ chức giảng
dạy vào năm cuối trước khi tốt nghiệp. Mục tiêu của môn học là cung cấp cho
sinh viên các kiến thức và kỹ năng để tách màu và chỉnh sửa màu sao cho màu
sắc được phục chế trung th
ực và chính xác.
Để học tốt môn học này sinh viên phải nắm chắc các kiến thức cơ sở ngành,
đã học qua các phần căn bản của môn học phục chế màu và có khả năng phân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét