Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Vai trò của nhà nước đối với phân phối thu nhập trong kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
là vạch trần bản chất và phê phán phơng thức phân phối TBCN, đồng thời còn
phê phán và đấu tranh với mọi sự xuyên tạc của chủ nghĩa cơ hội đối với
CNXH. Tuy nhiên, trong quá trình đó, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã nêu lên quan
điểm và nguyên tắc cơ bản về phân phối trong xã hội tơng lai. So với lý luận của
tất cả các nhà kinh tế trớc đó, thì lý luận phân phối của C. Mác và Ph. Ăng ghen
đã thật sự đặt nền tảng và là khởi nguyên cho lý luận phân phối thu nhập trong
CNXH.
Kế thừa và tiếp nối t tởng của C. Mác và Ph. Ăng ghen, trong lãnh đạo xây
dựng CNXH ở Nga, Lênin đã làm rõ hơn và cụ thể hoá các quan điểm và
nguyên tắc phân phối trong CNXH. Theo Lênin, để xây dựng thành công
CNXH hiện thực, thì nhiệm vụ có ý nghĩa trọng đại hơn cả là xây dựng kinh tế.
Trong nhiệm vụ đó, nếu Nhà nớc không tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn diện
đối với sản xuất và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những ngời lao
động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì đợc và nhất định họ sẽ phải
sống trở lại dới ách thống trị của CNTB [11, tr 244] "không có chế độ kế toán
và kiểm soát trong sự sản xuất và phân phối sản phẩm, thì những mầm mống
của XNXH sẽ bị tiêu diệt " [11, tr 225]. Từ ý nghĩa của vấn đề nêu trên, Lênin
đã xây dựng hệ thống lý luận về phân phối trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Dới đây là những vấn đề chủ yếu trong lý luận phân phối của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
a. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí của phân phối
* Vị trí của phân phối trong tái sản xuất xã hội
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu
dùng của cải vật chất. Phân phối là một trong 4 khâu đó, nó là một mắt xích
trung gian trong quá trình tái sản xuất. Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất
bao giờ cũng giữ vai trò quyết đinh. Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sản xuất quy định quy mô và cơ cấu của phân phối. Phân phối không thể vợt
quá trình độ hiện có của lực lợng sản xuất xã hội. Ngợc lại, nếu phân phối phù
hợp với sự phát triển của sản xuất, có lợi cho việc động viên tính tích cực của
ngời lao động sản xuất, thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn nếu không phù
hợp thì nó sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất.
Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau. Trao đổi là sự tiếp
tục của phân phối. Trong kinh tế thị trờng, phân phối đợc thực hiện dới hình
thức giá trị (tiền tệ). Ngời nhận đợc thu nhập tiền tệ đó sẽ biến thành thu nhập
thực tế bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trờng. Với một thu nhập
danh nghĩa nhất định sẽ chuyển thành khối lợng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá cả thị trờng. Đó cũng chính là quá trình phân
phối.
Phân phối còn quan hệ mật thiết với tiêu dùng. Việc tăng hoặc giảm sản
phẩm phân phối đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng. Ngợc lại, cơ
cấu, phơng thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự tăng trởng của phân phối.
Nh vậy, phân phối là một khâu độc lập tơng đối trong quá trình tái sản
xuất, nó luôn có tác động qua lại một cách biện chứng với các khâu khác của
quá trình tái sản xuất xã hội. Trong mọi phơng thức sản xuất đều diễn ra sự
phân phối sản phẩm xã hội, nó là một phạm trù kinh tế chung cho mọi xã hội.
* Vị trí của phân phối trong quan hệ sản xuất xã hội
Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất và do quan hệ sở hữu về t liệu
sản xuất quyết định. C.Mác đã nhiều lần nêu rõ quan hệ phân phối cũng bao
hàm trong phạm vi quan hệ sản xuất " quan hệ phân phối về thực chất cũng
đồng nhất với quan hệ sản xuất nhất định, nó cấu thành mặt sau của quan hệ sản
xuất ấy [5, Tr 634]. Theo Ph. Ăng ghen thì " Trên những nét chủ yếu của nó,
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phân phối luôn luôn là kết quả tất nhiên của những quan hệ sản xuất và trao đổi
trong một xã hội nhất định" [9, Tr 261].
Vì vậy, mỗi phơng thức sản xuất nhất định có quy luật phân phối tơng
ứng với nó. Quan hệ sản xuất nh thế nào, thì quan hệ phân phối cũng nh thế ấy.
Cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất và quan hệ
trao đổi hoạt động cho nhau. Khi lực lợng sản xuất biến đổi và do đó quan hệ
sản xuất biến đổi, thì quan hệ phân phối cũng biến đổi. C. Mác viết " Mỗi một
hình thái phân phối đều biến đổi cùng một lúc với phơng thức sản xuất nhất
định tơng ứng với hình thái phân phối ấy và đã đẻ ra hình thái phân phối ấy" [8,
Tr 373]. Và chỉ rõ " phơng thức tham gia nhất định vào sản xuất quy định hình
thái đặc thù của phân phối, quy định hình thái theo đó ngời ta tham dự vào phân
phối" [ 7, Tr 870]. Phân phối là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của quan hệ
sở hữu và quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất.
Phân phối đợc hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Phân phối theo
nghĩa rộng là phân phối tổng sản phẩm xã hội, nó bao gồm phân phối các yếu
tố sản xuất và phân phối t liệu tiêu dùng. Phân phối yếu tố sản xuất bao gồm t
liệu sản xuất, nó có trớc sản xuất, đồng thời tiếp tục phát sinh trong quá trình
sản xuất. Trớc khi sản xuất, cần phải phân phối các yếu tố sản xuất cho các
ngành và các doanh nghiệp khác nhau để sản xuất các sản phẩm khác nhau.
Không có sự phân phối các yếu tố sản xuất, thì sản xuất không thể diễn ra đợc.
Tính chất phân phối các yếu tố sản xuất quyết định tính chất phân phối t liệu
tiêu dùng. C. Mác đã chỉ rõ "Bất kỳ một sự phân phối nào về t liệu tiêu dùng
cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính những điều kiện sản xuất " [2, Tr
36 - 37]. "Phơng thức phân phối t bản chủ nghĩa dựa trên tình hình là những
điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm trong tay những kẻ không lao động dới
hình thức sở hữu t bản và sở hữu ruộng đất, còn quần chúng thì chỉ là kẻ sở hữu
những điều kiện ngời của sản xuất, tức là sức lao động. Nếu yếu tố sản xuất đợc
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phân phối nh thế thì việc phân phối hiện nay về t liệu tiêu dùng tự nó cũng từ
đó nó mà ra. Nếu những điều kiện vật chất của sản xuất là sở hữu tập thể của
bản thân ngời lao động thì cũng sẽ có một sự phân phối những t liệu tiêu dùng
khác với sự phân phối hiện nay [2, Tr 37].
b. Sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội của C. Mác
Trong tác phẩm " Phê phán cơng lĩnh Gô - ta", khi phê phán quan điểm
của Lát - xan về " thu nhập không bị cắt xén của lao động", C. Mác đã nêu lên
sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội, sơ đồ phân phối ở tầm vĩ mô. Trong tổng
sản phẩm xã hội đó, phải khấu đi:
Một là: phần để thay thế những t liệu sản xuất đã tiêu dùng
Hai là: một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất
Ba là: một quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm để đề phòng những tai nạn,
những sự rối loạn do các hiện tợng tự nhiên gây ra vv
Những khoản khấu trừ nh thế vào "thu nhập không bị cắt xén của lao
động" là một tất yếu kinh tế và khấu trừ nhiều hay ít là tuỳ theo những t liệu và
những lực lợng sản xuất hiện có, một phần là nhờ lối tính xác suất. Còn lại phần
kia của tổng sản phẩm thì dành làm vật phẩm tiêu dùng.
Trớc khi phân phối cho cá nhân, lại còn phải khấu trừ:
Một là, những chi phí quản lý chung, không trực tiếp thuộc về sản xuất.
Hai là, những khoản dùng để cùng chung nhau thoả mãn những nhu cầu,
nh trờng học, cơ quan y tế vv
Ba là, quỹ cần thiết để nuôi dỡng những ngời không có khả năng lao
động, vv , tóm lại là những cái thuộc về việc mà ngày nay, ngời ta gọi là cứu
tế xã hội của nhà nớc.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cuối cùng, bây giờ mới tới cái phần những vật phẩm tiêu dùng đem chia
cho cá nhân những ngời sản xuất của tập thể. [2, Tr 31 - 32].
Nh vậy, C. Mác đã vạch ra hai bớc phân phối: bớc thứ nhấ là phân chia
tổng sản phẩm xã hội làm sáu khoản phải khấu trừ và toàn bộ t liệu tiêu dùng;
bớc thứ hai là phân phối t liệu tiêu dùng cho những ngời lao động theo nguyên
tắc phân phối theo lao động (sẽ đợc trình bày dới đây).
Một số ngời nghiên cứu cho rằng C. Mác đã không nói rõ các tỷ lệ phân
chia đó. Ông chỉ nói sơ lợc, không nêu cụ thể biện pháp khấu trừ các khoản
trên. Thiết nghĩ rằng những tỷ lệ đó là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi n-
ớc ở những giai đoạn phát triển nhất định, do đó không nên đòi hỏi C. Mác
phải giải quyết tất cả những vấn đề cụ thể cho chúng ta.
Sơ đồ phân phối nêu trên của C. Mác là sơ đồ phân phối vĩ mô, vạch rõ
khái quát việc phân phối tổng sản phẩm xã hội. Nó vừa đảm bảo tái sản xuất mở
rộng vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu chung của xã hội và của các cá nhân, cũng
nh sự tiến bộ xã hội.
c. Lý luận phân phối theo lao động của C. Mác
Khi nghiên cứu nguyên tắc phân phối của CNTB, C. Mác dã chỉ ra rằng
giá trị mới sáng tạo ra đợc phân chia cho các giai cấp dựa vào sự đóng góp các
yếu tố sản xuất: một bộ phận đợc phối cho ngời sở hữu sức lao động theo giá trị
sức lao động, bộ phận khác phân phối cho ngời sở hữu t liệu sản xuất . Do đó
giá trị mới đợc phân thành tiền công, lợi nhuận, lợi tức và địa tô. Tiền công là
thu nhập của ngời lao động và là hình thức thực hiện của quyền sở hữu sức lao
động, lợi nhuận là thu nhập của nhà t bản và là hình thức thực hiện của quyền
sở hữu t liệu sản xuất, còn địa tô là thu nhập của địa chủ và là hình thức thực
hiện của quyền chiếm hữu ruộng đất. Sự phân phối này đợc che đậy bởi nguyên
tắc " trao đổi ngang giá" nên hình nh mọi giao dịch trên thị trờng đều công
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
bằng. Đó là nguyên tắc phân phối dựa trên quan hệ sở hữu các yếu tố tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Về tiền công, C. Mác đã phát hiện ra nguyên tắc có tính phổ biến trong
CNTB là tiền công ở mức tối thiểu. C. Mác đã vạch ra rằng " tiền công là giá cả
của một thứ hàng hoá nhất định - của sức lao động cho nên tiền công cũng đợc
quy định bởi những quy luật quyết định giá cả của tất cả các hàng hoá khác
bởi quan hệ của cung với cầu, của cầu với cung [1, Tr 736 - 737]. Tiền công là
một quan hệ kinh tế diễn ra tại khu vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo C. Mác, "chi phí sản xuất của sức lao động đơn giản quy lại thành chi phí
sinh hoạt của ngời công nhân và chi phí để tiếp tục duy trì nòi giống của anh ta.
Giá cả của những chi phí sinh hoạt và chi phí để tiếp tục duy trì nòi giống đó là
tiền công. Tiền công đợc quy định nh vậy là tiền công tối thiểu" [1, Tr 744]
Là những ngời sáng lập CNXH khoa học, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã
sáng tạo ra nguyên tắc phân phối theo lao động. Hai ông đã sáng tạo và phát
triển những mầm mống t tởng về phân phối theo lao động của CNXH không t-
ởng và sáng tạo ra lý luận phân phối theo lao động của CNXH khoa học.
Trong bộ " T bản",. C. Mác đã bắt đầu khẳng định phơng thức phân phối
mới: lấy lao động làm thớc đo để phân phối, C. Mác chỉ rõ trong thể liên hiệp
của những ngời lao động tự do, " phần t liệu sinh hoạt chia cho mỗi ngời sản
xuất do thời gian lao động của ngời đó quyết định. Trong điều kiện ấy, thời gian
đóng vai trò hai mặt. Việc phân phối thời gian theo một kế hoạch xã hội sẽ quy
định tỷ lệ đúng đắn giữa các chức năng lao động khác nhau và nhu cầu khác
nhau. Mặt khác, thời gian lao động cũng đồng thời dùng để đo phần tham gia
của cá nhân ngời sản xuất vào lao động chung và do đó, cả cái phần tham dự
của anh ta vào bộ phận có thể sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong toàn bộ sản
phẩm " [4, Tr124 - 125].
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tác phẩm "Phê phán cơng lĩnh Gô- ta" của C. Mác đã đánh dấu sự hình
thành lý luận phân phối theo lao động. Nó là sản phẩm của cuộc luận chiến của
C. Mác với chủ nghĩa cơ hội. Trong tác phẩm này, C. Mác nêu lên quan niệm về
xã hội tơng lai và phê phán quan niệm " phân phối công bằng" của bản cơng
lĩnh: " Thu nhập lao động đem lại là thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội
một cách không bị cắt xén, theo nguyên tắc ngang nhau" [2, tr 28]. Đồng thời
C. Mác đã nêu lên nguyên tắc phân phối thu nhập cá nhân trong CNXH là phân
phối theo lao động.
Lý luận phân phối theo lao động của C. Mác gồm hai bộ phận: điều kiện
tiền đề để phân phối theo lao động; nguyên tắc và phơng thức phân phối theo
lao động.
Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt liên quan chặt
chẽ với nhau: một là, phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối trong "
giai đoạn đầu của xã hội cộng sản", tức là trong điều kiện lịch sử mà nh C. Mác
đã giải thích " cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng
sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một
xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội t bản chủ nghĩa, do đó là
một xã hội, về phơng diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của
xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra" [2, Tr 33]. Trong điều kiện nh vậy, ngời ta vẫn
còn có lợi ích riêng, cha coi lao động là nhu cầu bậc nhất của con ngời. Hai là,
phân phối theo lao động đợc thực hiện trong điều kiện kinh tế dựa trên chế độ
công hữu, tức là "trong một xã hội đợc tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa
tập thể, dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất thì những ngời sản xuất
không trao đổi sản phẩm của mình, ở đây, lao động chi phí vào việc sản xuất ra
các sản phẩm cũng không biểu hiện thành ra giá trị của những sản phẩm ấy ,
lao động của các cá nhân tồn tại - không phải bằng một con đờng vòng nh trớc
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nữa mà là trực tiếp - với tính cách là một bộ phận cấu thành của tổng lao động"
[2, Tr33]. Nói cách khác, ở đây không có sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Dựa trên những điều kiện tiêu đề đó, C. Mác đã vạch ra những nguyên
tắc và phơng thức phân phối theo lao động. Theo C. Mác, chủ thể phân phối là
những ngời lao động, đối tợng phân phối là t liệu tiêu dùng, tức là tổng sản
phẩm xã hội sau khi đã trừ đi 6 khoản (đã nêu trong sơ đồ phân phối tổng sản
phẩm xã hội), căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phơng thức thực hiện
phân phối theo lao động là phiếu lao động. "cùng một lợng lao động mà anh ta
đã cung cấp cho xã hội dới một hình thức này thì anh ta lại nhận trở lại của xã
hội dới một hình thức khác [2, Tr 34]. Nh vậy thời gian lao động là thớc đo
khách quan của phân phối, thực hiện trao đổi lao động ngang nhau, sự khác biệt
về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại. "Quyền của ngời sản xuất
tỷ lệ với lao động mà ngời ấy đã cung cấp" [2, Tr 34]. Chỉ đến giai đoạn cộng
sản chủ nghĩa mới có thể thực hiện " làm theo năng lực, hởng theo nhu cầu".
Giá trị của lý luận phân phối theo lao động của C. Mác.
Thứ nhất, trớc sau nhu một, C. Mác coi trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất và chế độ sở hữu do trình độ phát triển của lực lợng sản xuất đó quyết
định là nhân tố quyết định quan hệ phân phối. Theo C. Mác, chủ nghĩa xã hội là
nấc thang cao hơn chủ nghĩa t bản có lực lợng sản xuất phát triển, chế độ công
hữu đợc thiết lập, thì sự phân phối t liệu tiêu dùng cho cá nhân tất yếu phải đợc
phân phối theo lao động.
Thứ hai, dới độ công hữu, mọi ngời đều có quyền bình đẳng đối với t liệu
sản xuất. Quyền bình đẳng đó chỉ có thể chuyển hoá thành quyền lợi lao động
bình đẳng, lao động trở thành phơng tiện mu sinh cơ bản nhất, trở thành tiền đề
quan trọng để thu đợc lợi ích kinh tế. Nh vậy, C. Mác đã xác lập cơ sở của mối
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, lao động trở thành điều kiện tất yếu để
nhận đợc thu nhập.
Thứ ba, lý luận phân phối theo lao động của C. Mác thừa nhận tồn tại sự
khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân. Nhng sự khác biệt này
chính là sự công bằng trong phân phối, mà không phải là chủ nghĩa bình quân.
C. Mác đã xác định nguyên tắc phân phối trong CNXH, đó là phân phối
theo lao động. Nhng phơng thức phân phối đó đợc thiết kế trên cơ sở giả định
kinh tế hàng hoá đã tiêu vong. Do đó, kinh tế sản phẩm là điều kiện kinh tế xã
hội để thực hiện phân phối theo lao động. Nhà nớc trực tiếp tổ chức sản xuất và
phân phối sản phẩm, vì thế việc áp dụng vào thực tiễn cần giải quyết một số vấn
đề thao tác cụ thể.
Nguyên tắc phân phối theo lao động đợc V. I Lênin phát triển trong quá
trình xây dựng CNXH ở Nga. VI Lênin đã nêu ra một cách rõ ràng khái niệm
phân phối theo lao động: Một là, "ngời không lao động thì không đợc ăn", hai
là, " dựa vào lợng lao động ngang nhau lĩnh số sản phẩm ngang nhau." Xuất
phát từ thực tế, ông cho rằng CNXH vừa mới thoát thai từ xã hội cũ mà ra, sự
biến đổi về chất của lao động không thể hoàn thành trong ngày thứ hai sau khi
xây dựng chế độ mới. " Nếu không rơi vào không tởng thì không thể nghĩ
rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa t bản, thì ngời ta sẽ tức khắc có thể làm việc cho
xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp quyền nào cả, hơn nữa, việc xoá
bỏ CNTB không thể đem lại ngay đợc những tiền đề kinh tế cho một sự thay
đổi nh vậy [12, Tr 116]. Do đó, V.I Lênin đã đề ra phải thực hiện chế độ lao
động nghĩa vụ, thông qua đó mới thực hiện đợc phân phối theo lao động. Vì thế
" ai không làm thì không ăn", đó là điều kiện thực tiễn của CNXH. Phải tổ chức
một cách thực tiễn nh thế đó [13, Tr 244]. Để phân phối đợc hợp lý, cần phải
tính toán và đôn đốc một cách chính xác tỉ mỉ nhất, có tinh thần trách nhiệm
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhất trong phạm vi toàn dân, tức là thực hiện chế độ giám sát và đôn đốc của
công nhân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm.
Xuất phát từ thực tiễn, V.I Lênin đã đa ra chính sách kinh tế mới thay thế
cho chính sách cộng sản thời chiến. Ông chủ trơng nhiều thành phần kinh tế
cùng tồn tại và thừa nhận CNXH không thể xoá bỏ đợc kinh tế hàng hoá. Quan
hệ hàng hoá - tiền tệ là tiền đề của phân phối theo lao động. V.I Lênin đã nhấn
mạnh sự cần thiết phải thực hiện hạch toán kinh tế; ông cho rằng " sự quan tâm
thiết thân của cá nhân có tác dụng nâng cao sản xuất; trớc hết chúng ta cần phải
đẩy mạnh sản xuất cho bằng đợc [14, Tr 189]. V.I Lênin chỉ ra rằng trong
CNXH, việc phân phối sản phẩm tiêu dùng của ngời lao động không thể đợc
thực hiện theo chế độ phân phối bình quân. Tiền lơng và tiền thởng phải liên hệ
mật thiết với nhau, đồng thời đợc quyết định ở mức độ hoàn thành kế hoạch sản
xuất. Ông phê bình nghiêm khắc việc biến thởng hiện vật thành lối bình quân
phụ thêm vào lơng và đề suất quỹ thởng cần đợc tiến hành phân phối hợp lý,
nên dùng để thởng cho những ngời làm kinh tế có biểu hiện của tinh thần dũng
cảm, chăm chỉ, có trách nhiệm, tài giỏi và hết lòng trung thành. Nh vậy, V.I
Lêin đã gắn trực tiếp thu nhập lao động với thành quả lao động và năng suất lao
động.
1.1.2. Một số lý thuyết về phân phối trong kinh tế học hiện đại
Từ giữa thế kỷ XX lại đây, ở các nớc TBCN đã xuất hiện các lý thuyết
kinh tế học của các trờng phái khác nhau. Dới đây là một số lý thuyết phân phối
của các nhà kinh tế học hiện đại.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét