Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thanh toán bằng thư tín dụng. Trên nguyên tắc, thư tín dụng được hình thành
trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng hoàn toàn
độc lập với hợp đồng mua bán và ngân hàng chỉ tham gia vào việc thanh toán
trên cơ sở thư tín dụng.
Thư tín dụng có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xét trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người yêu
cầu mở thư tín dụng thì Thư tín dụng là sự thoả thuận giữa ngân hàng phát hành
và người yêu cầu mở thư tín dụng. Khi nhận được yêu cầu mở thư tín dụng của
khách hàng, Ngân hàng sẽ xem xét hợp đồng mua bán hàng hoá giữa khách
hàng - người yêu cầu mở thư tín dụng và người được thụ hưởng để quyết định
việc chấp thuận hay từ chối mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng. Như
vậy, việc phát hành (mở) thư tín dụng hay không là kết quả của sự thỏa thuận
giữa ngân hàng với người yêu cầu mở thư tín dụng, thông qua việc ngân hàng
thẩm định các điều kiện mở thư tín dụng.
Về bản chất, việc mở thư tín dụng vừa là một hoạt động cung cấp dịch vụ
cuả ngân hàng, đồng thời có thể xem là một phương thức cấp tín dụng của ngân
hàng phát hành cho người yêu cầu mở thư tín dụng và người này phải ký quỹ
khoản tiền mở thư tín dụng, trả phí cho dịch vụ này.
Thứ hai, xét trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người thụ
hưởng thư tín dụng thì Thư tín dụng là cam kết đơn phương của ngân hàng về
việc trả tiền cho người bán/người thụ hưởng thư tín dụng. Do là cam kết đơn
phương nên sau khi thư tín dụng được phát hành hợp lệ bởi ngân hàng thì nó
mới chỉ có giá trị ràng buộc đối với ngân hàng phát hành ra nó. Người bán sau
khi nhận được thông báo mở thư tín dụng nếu không đồng ý phải thông báo cho
ngân hàng; nếu đồng ý thì sẽ giao hàng và hoàn thiện chứng từ để chuẩn bị đòi
tiền từ ngân hàng phát hành thư tín dụng, theo các điều kiện trả tiền đã được ghi
trong thư tín dụng. Ngân hàng gửi chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng
để thông báo và tất toán tài khoản thư tín dụng để trực tiếp trả tiền ngay cho
người thụ hưởng theo các điều kiện đã cam kết trong thư tín dụng, mà không cần
đến sự chấp thuận của người yêu cầu mở thư tín dụng.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ ba, Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá
nhưng lại có tính độc lập so với hợp đồng mua bán.
Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng về
bản chất thư tín dụng là một giao dịch độc lập, tách biệt với các hợp đồng mua
bán. Điều này thể hiện ở chỗ, sau khi đã phát hành thư tín dụng hợp lệ, ngân
hàng phát hành chỉ bị ràng buộc với thư tín dụng do chính mình phát hành chứ
không bị chi phối, liên quan hoặc bị ràng buộc với các hợp đồng mua bán vốn là
cơ sở để phát sinh nhu cầu phát hành thư tín dụng, thậm chí ngay cả trong thư
tín dụng có bất kỳ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó. Nói cách khác, khi
viết đơn yêu cầu mở thư tín dụng, người mua phải dựa vào nội dung của hợp
đồng mua bán nhưng khi thư tín dụng đã được mở thì mọi hậu quả pháp lý xảy
ra đối với hợp đồng mua bán đó không hề ảnh hưởng gì đến việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của ngân hàng phát hành thư tín dụng. Trong quá trình thanh
toán, ngân hàng chỉ cần dựa trên chứng từ, hồ sơ hợp lệ được các bên xuất trình
mà không cần phải dựa vào thực tế giao nhận hàng hoá, tên hàng, số lượng,
trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, giá trị hoặc sự hiện hữu của hàng
hoá. Bởi quan hệ trong hợp đồng mua bán là quan hệ giữa người bán và người
mua còn quan hệ thanh toán tiền theo thư tín dụng lại phát sinh giữa ngân hàng
phát hành với người thụ hưởng thư tín dụng/người bán. Nếu xảy ra rủi ro trong
quá trình giao nhận hàng hoá thì hai bên người mua, người bán sẽ giải quyết
theo hợp đồng hoặc pháp luật mà ngân hàng không phải chịu trách nhiệm về
hàng hóa đó.
1.1.3. Nội dung của thư tín dụng
Nội dung cơ bản của một thư tín dụng sẽ bao gồm các điều khoản được
ngân hàng phát hành lập theo tiêu chuẩn chung của UCP500. Các điều khoản
này phản ánh một cách rõ ràng ý chí của ngân hàng phát hành trong việc cam
kết thanh toán số tiền ghi trên thư tín dụng cho người thụ hưởng/người bán
hàng, nếu người này xuất trình thư tín dụng một cách hợp lệ để đòi tiền ngân
hàng, theo các điều kiện thanh toán đã được ghi trong thư tín dụng.
Theo thông lệ chung, một thư tín dụng gồm có các điều khoản sau đây:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Số hiệu của L/C. Về nguyên tắc, tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng
nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình trao đổi thư từ, điện tín cho nhau
trong quá trình thực hiện thư tín dụng. Số hiệu của thư tín dụng còn được dùng
để ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán.
- Địa điểm mở L/C. Đó là nơi ngân hàng mở L/C lập bản cam kết thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề
chọn luật áp dụng, mỗi khi có tranh chấp xẩy ra giữa các bên có liên quan đến
thư tín dụng. Thông thường, nếu trong thư tín dụng không xác định rõ nơi mở
thư tín dụng thì theo tập quán giao dịch, địa điểm mở thư tín dụng được xác định
là địa chỉ nơi ngân hàng phát hành đặt trụ sở chính, hoặc trụ sở chi nhánh (nếu
thư tín dụng được mở tại một chi nhánh cụ thể của ngân hàng).
- Ngày mở L/C. Đó là ngày mà người đại diện hợp pháp của ngân hàng
phát hành thư tín dụng ký vào văn bản thư tín dụng để tạo lập một thư tín dụng
theo đúng các quy tắc của tín dụng chứng từ, dựa trên sự tuân thủ Bản Quy tắc
và thực hành tín dụng chứng từ (UCP500). Trong thực tiễn, hầu hết các trường
hợp ngày mở thư tín dụng chính là ngày mà sự cam kết thanh toán của ngân
hàng đối với nhà xuất khẩu bắt đầu có hiệu lực, đồng thời cũng là ngày phát sinh
hiệu lực của hợp đồng được thực hiện giữa ngân hàng mở thư tín dụng và nhà
nhập khẩu. Tuy nhiên, về lý thuyết cũng có thể xảy ra trường hợp ngày mở thư
tín dụng không trùng khớp với ngày phát sinh hiệu lực của thư tín dụng, nếu
trong thư tín dụng có điều khoản ghi chú của ngân hàng phát hành về việc lùi
thời hạn có hiệu lực của thư tín dụng vào một ngày nhất định sau ngày mở thư
tín dụng. Đôi khi, ngày mở thư tín dụng cũng được coi là căn cứ để nhà xuất
khẩu kiểm tra xem nhà nhập khẩu có mở L/C đúng như quy định trong hợp đồng
mua bán hay không.
- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C. Các chủ thể này bao
gồm: người yêu cầu mở L/C; người thụ hưởng L/C; ngân hàng phát hành L/C;
ngân hàng thông báo L/C và đôi khi là cả ngân hàng xác nhận L/C. Các chủ thể
này phải được xác định rõ danh tính, địa chỉ và số hiệu tài khoản (nếu có) nhằm
phòng ngừa và hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thư tín dụng.
- Trị giá của L/C. Đó là số tiền được ghi bằng chữ và ghi bằng số, thể hiện
giá trị nghĩa vụ tài sản của ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng. Trị giá
được ghi bằng chữ và trị giá được ghi bằng số trong L/C phải thống nhất với
nhau và trong trường hợp có sự không thống nhất thì có thể coi số tiền ghi bằng
chữ là có giá trị. Ngoài ra, tên của đơn vị tiền tệ phải ghi rõ ràng, đầy đủ, chính
xác theo quy định chung đã được thừa nhận trong giao dịch thanh toán quốc tế
và tránh sự hiểu nhầm hay sự giải thích không có lợi cho các bên.
- Thời hạn hiệu lực của L/C. Đây là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam
kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh
toán trong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C. Thời hạn của
L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Thời hạn hiệu lực
của L/C phải là một khoảng thời gian hiệu lực hợp lí để tạo thuận lợi cho quá
trình thực hiện hợp đồng cũng như không gây khó khăn cho việc xuất trình bộ
chứng từ thanh toán từ phía nhà xuất khẩu/người thụ hưởng.
- Thời hạn thanh toán của L/C. Thời hạn này liên quan đến việc trả tiền
ngay hay trả chậm. Điều khoản này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định trong hợp
đồng ngoại thương, trong đó các bên mua và bán có thể xác định rõ việc thanh
toán bằng thư tín dụng trả ngay hay thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm.
- Thời hạn giao hàng. Thời hạn này sẽ do hợp đồng mua bán quy định và
phải được ghi vào L/C như một điều kiện trả tiền đối với người thụ hưởng.
Trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng mua bán có thỏa thuận về việc kéo
dài thời hạn giao hàng mà không đề cập đến việc kéo dài thời hạn có hiệu lực
của thư tín dụng thì mặc nhiên được coi là thư tín dụng cũng được kéo dài thêm
thời hạn tương ứng. Ngược lại, nếu các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn có hiệu
lực của thư tín dụng nhưng lại không thỏa thuận về việc kéo dài thời hạn giao
hàng thì không được phép hiểu rằng thời gian giao hàng cũng được kéo dài
tương ứng.
- Điều khoản về những nội dung liên quan đến hàng hóa như tên hàng hóa,
số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, kí mã hiệu đều được
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ghi đầy đủ vào L/C.
- Điều khoản về những nội dung liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa
như điều kiện giao hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi bốc hàng, dỡ hàng, nơi gửi,
nơi giao hàng, hình thức vận chuyển… cũng được ghi vào L/C.
- Điều khoản xác định Bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình để
yêu cầu thanh toán. Đây là nội dung rất quan trọng của L/C, vì bộ chứng từ là
bằng chứng chứng minh nhà xuất khẩu đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đúng
như L/C đã quy định. Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C thì ngân hàng phát hành
sẽ thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu và ngược lại, ngân hàng phát hành
L/C có thể từ chối thanh toán. Bộ chứng từ do L/C quy định ít hay nhiều, tùy
theo tính chất hàng hóa và sự thỏa thuận giữa hai bên mua và bán. Trong thanh
toán quốc tế, ngân hàng thực hiện thanh toán dựa trên cơ sở chứng từ chứ không
dựa vào hàng hóa. Thông thường, ngân hàng mở L/C đòi hỏi nhà xuất khẩu phải
thỏa mãn những đặc điểm sau đây khi xuất trình bộ chứng từ:
+ Các loại chứng từ đã được thỏa thuận trong hợp đồng mua bán giữa nhà
xuất khẩu và nhà nhập khẩu.
+ Số lượng của từng loại chứng từ.
+ Thủ tục kí phát của từng loại chứng từ.
- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C. Đây là một trong số các nội
dung quan trọng nhất của L/C. Điều khoản này ràng buộc trách nhiệm của ngân
hàng mở L/C phải thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất
trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định của L/C. Thực tiễn cho thấy nếu
điều khoản này không được quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến tranh chấp
giữa các bên và gây khó khăn cho Tòa án hay Trọng tài trong quá trình giải
quyết tranh chấp.
- Điều khoản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan. Trong
thực tế, các loại L/C khác nhau đều mang những tính chất và nội dung khác
nhau. Vì thế, việc quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong
một thư tín dụng cũng có thể khác nhau.
- Những điều khoản đặc biệt khác.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài những nội dung kể trên, ngân hàng mở L/C và nhà nhập khẩu có
thể thỏa thuận đưa thêm vào thư tín dụng một số nội dung khác như có thể hoàn
trả tiền bằng điện chuyển tiền hoặc thư điện tử…
- Chữ kí của ngân hàng mở L/C. Do thư tín dụng thực chất là một khế ước
hay hợp đồng dân sự nên người kí vào thư tín dụng cũng phải là người có đủ
năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật dân sự.
Thông thường, người ký tên vào thư tín dụng chính là người đại diện hợp pháp
của ngân hàng phát hành, bao gồm người đại diện theo pháp luật hoặc người đại
diện theo ủy quyền.
1.1.4. Phân loại thư tín dụng
Trong thực tiễn giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng, mỗi quan hệ
thanh toán có những đặc trưng riêng gắn với quyền lợi đặc thù của các bên thanh
toán, đòi hỏi phải lựa chọn áp dụng những hình thức thư tín dụng phù hợp cho
từng giao dịch thanh toán. Chính vì vậy, việc phân loại thư tín dụng được xem là
điều kiện, tiền đề, cơ sở cho việc lựa chọn và áp dụng hợp lý loại hình thư tín
dụng cho từng trường hợp cụ thể của quan hệ thanh toán.
Về lý thuyết, có thể phân loại thư tín dụng dựa vào các tiêu chí chủ yếu
sau đây:
(i) Nếu căn cứ vào tính chất và đặc điểm, thư tín dụng có thể được phân
chia thành những loại sau:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable Letter Of Credit).
Đây là loại thư tín dụng mà người mở (nhà nhập khẩu) có quyền đề nghị
ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần sự
chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng (nhà xuất khẩu). Tất nhiên,
lệnh sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị khi
hàng chưa được người bán giao cho người mua. Còn nếu hàng hóa đã được giao,
lệnh này không có giá trị và ngân hàng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán
cho người thụ hưởng/người bán như không có việc gì xảy ra. Trên thực tế, loại
hình thư tín dụng có thể huỷ ngang thường không đảm bảo quyền lợi cho người
thụ hưởng, vì họ có thể gánh chịu rủi ro bất cứ lúc nào nếu ngân hàng phát hành
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đơn phương hủy ngang thư tín dụng đã phát hành. Vì thế nên loại thư tín dụng
này rất ít được sử dụng trong thực tiễn giao dịch thương mại.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable Letter Of Credit).
Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở và nhà xuất khẩu đã chấp
nhận, thì ngân hàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong
thời gian hiệu lực của thư tín dụng, trừ khi có sự thoả thuận đầy đủ của các bên
tham gia. Theo quy định của UCP 500 thì một thư tín dụng có thể là thư tín dụng
có thể huỷ ngang hoặc thư tín dụng không thể huỷ ngang, do vậy phải ghi rõ
ràng hoặc là không thể huỷ ngang hoặc có thể huỷ ngang. Một thư tín dụng
không ghi rõ thuộc loại nào thì vẫn coi là không thể huỷ ngang. Điều này phù
hợp với nhận thức phổ biến của những người tham gia giao dịch L/C, bởi hiện
nay loại L/C có thể huỷ ngang gần như chỉ tồn tại trên lý thuyết.
Nếu như L/C có thể huỷ ngang nói lên khả năng đơn phương huỷ bỏ L/C
đang còn hiệu lực không cần sự đồng ý của các bên liên quan thì L/C không thể
huỷ ngang không cho phép bên nào đơn phương huỷ bỏ hay sửa đổi. Tuyên bố
đơn phương đó không có giá trị pháp lý. Như vậy không có nghĩa là một L/C
không thể huỷ ngang là không thể huỷ bỏ. Trong trường hợp các bên cùng nhau
thoả thuận chấp nhận huỷ bỏ thì nó được công nhận là không có giá trị thực
hiện. Và một điều kiện tất yếu là nó phải được sự đồng ý của tất cả các ngân
hàng liên quan bằng văn bản điện tín. Do ưu điểm là quyền lợi của nhà xuất
khẩu được bảo đảm nên loại L/C này đang được sử dụng phổ biến trên thế giới.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrerrcable
Letter Of Credit).
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác (gọi là
ngân hàng xác nhận) đảm bảo trả tiền L/C đó theo yêu cầu của ngân hàng mở
L/C. Ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm trả tiền cho người bán nếu ngân hàng
mở L/C không có khả năng trả tiền. Nhu cầu xác nhận L/C phụ thuộc vào uy tín,
tình hình tài chính của ngân hàng phát hành và đôi khi nó còn phụ thuộc vào
tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia nơi ngân hàng đó đặt trụ sở. Thông
thường đây là ngân hàng quốc tế có uy tín. Đối với loại L/C này, quyền lợi của
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhà xuất khẩu được đảm bảo rất chắc chắn, vì cả ngân hàng mở và ngân hàng
xác nhận đều cam kết có trách nhiệm thanh toán hối phiếu, chứng từ cho người
hưởng lợi khi nó được xuất trình phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C.
Ngân hàng phát hành phải trả phí xác nhận và thường là phải ký quỹ tại ngân
hàng xác nhận. Phí xác nhận thường rất cao, có khi lên đến 1% trị giá thư tín
dụng và khoản tiền ký quỹ cho ngân hàng xác nhận có khi lên đến 100% trị giá
thư tín dụng.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi (Irrrvocable
Without Recouse Letter Of credit).
Đây là loại L/C mà sau khi nhà xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng
mở L/C không có quyền đòi lại tiền từ nhà xuất khẩu trong mọi trường hợp. Khi
loại L/C này được sử dụng, nhà xuất khẩu sẽ ghi vào hối phiếu do mình ký phát
dòng chữ “miễn truy đòi từ người ký phát” (without recouse to drwers). Loaị
L/C này cũng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế.
- Thư tín dụng có thể chuyển nhượng (Transferable Letter Of Credit).
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang theo đó người hưởng lợi có quyền
yêu cầu ngân hàng có trách nhiệm thực hiện thư tín dụng (trả tiền, hoặc chấp
nhận, hoặc chiết khấu) để cho một bên thứ ba (người hưởng lợi thứ hai) sử dụng
số tiền của L/C, hoặc yêu cầu chia nhỏ số tiền của L/C ra thành nhiều phần cho
nhiều bên thứ ba (nhưng vẫn là người hưởng lợi thứ hai) mỗi người sử dụng một
phần. Một L/C chỉ có thể chuyển nhượng khi ngân hàng mở ghi rõ trong L/C là
“có thể chuyển nhượng”.
Loại thư tín dụng này có những điểm đáng lưu ý như sau:
+ Thủ tục phí và lệ phí của ngân hàng phát sinh từ việc chuyển nhượng
thông thường do người hưởng lợi thứ nhất chịu trừ khi có sự thoả thuận khác.
+ Một L/C chuyển nhượng chỉ có thể được chuyển nhượng một lần, trừ
khi có sự quy định khác trong L/C này. Vì vậy, L/C không thể được chuyển
nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho bất kỳ người hưởng lợi
thứ ba nào, nếu không có chỉ dẫn nào trong L/C về khả năng chuyển nhượng lại
hoặc tiếp tục chuyển nhượng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Sự chuyển nhượng phải được thực hiện theo L/C gốc. Việc chuyển
nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua bán cũng được chuyển nhượng.
Người hưởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chính với nhà xuất
khẩu.
+ Trường hợp người thừa hưởng thứ ba không giao hàng hay không giao
đúng hàng, chứng từ không hoàn hảo thì người hưởng lợi thứ nhắt phải chịu
trách nhiệm về phía bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký.
- Thư tín dụng giáp lưng (Back To Back Letter Of Credit).
Sau khi nhận được L/C do nhà nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất
khẩu căn cứ vào nội dung của L/C này để dùng chính L/C này đem thế chấp mở
một L/C khác cho người hưởng khác với nội dung gần giống L/C ban đầu. L/C
được đem đi thế chấp gọi L/C gốc. L/C sau được gọi là L/C giáp lưng, người xin
mở L/C giáp lưng là người trung gian.
Nói chung, L/C giáp lưng có nội dung tương tự như L/C gốc , ngoại trừ
một số điểm sau:
+ Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn số chứng từ của L/C gốc.
+ Trị giá của L/C giáp lưng phải ít hơn trị giá của L/C gốc. Khoảng giá trị
chênh lệch này trả cho chi phí mở L/C giáp lưng và trả hoa hồng cho nhà trung
gian.
+ Thời gian giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn của L/C gốc.
Yêu cầu khi sử dụng loại L/C này là nhà xuất khẩu phải đảm bảo tính
thống nhất giữa những điều khoản của L/C giáp lưng và L/C gốc. Nếu người
cung cấp hàng hoá hoặc cung cấp tài chính không đáp ứng được điều kiện thuận
lợi cho nhà xuất khẩu thì nhà xuất khẩu phải liên hệ ngay với nhà nhập khẩu để
người này điều đình với ngân hàng chỉnh lại các điều khoản trong L/C gốc cho
phù hợp. Thủ tục thực hiện L/C giáp lưng rất phức tạp. Ngoài ra, L/C giáp lưng
không thể chuyển nhượng, L/C gốc và L/C giáp lưng phải được thực hiện thông
qua một ngân hàng trực tiếp cho nhà xuất khẩu.
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit).
Đây là loại L/C được phát hành theo yêu cầu của nhà xuất khẩu cho người
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thụ hưởng là nhà nhập khẩu, tương ứng với L/C đã được nhà nhập khẩu mở
trước đó cho người thụ hưởng là nhà xuất khẩu. Trên nguyên tắc, để ràng buộc
nghĩa vụ đối ứng của nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu thì L/C được phát hành
cho nhà xuất khẩu thụ hưởng (gọi là L/C mở trước) sẽ chỉ có hiệu lực khi nào
nhà xuất khẩu đã mở ra một L/C đối ứng (gọi là L/C mở sau) cho nhà nhập khẩu
thụ hưởng. Vì thế, thông thường trong L/C mở trước phải được ghi rõ cụm từ:
“L/C này chỉ có giá trị khi người thụ hưởng mở lại một L/C đối ứng với nó để
cho người mở L/C này thụ hưởng”. Tương tự như vậy, trong L/C đối ứng do nhà
xuất khẩu mở cho nhà nhập khẩu, cũng phải ghi rõ cụm từ: “L/C này đối ứng
với L/C số…… mở ngày…… qua ngân hàng………”.
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, người ta nhận thấy L/C đối ứng
thường được sử dụng trong trường hợp thực hiện mua bán hàng hoá theo
phương thức hàng đổi hàng (Barter); hoặc trong giao dịch quốc tế mà người bán
đồng thời là người mua và ngược lại; hoặc trong trường hợp gia công hàng hóa
quốc tế giữa hai doanh nghiệp ở hai nước khác nhau.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Rerolving letter of Credit).
Đây là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của
nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì lại tự động có giá trị như cũ và tiếp tục được
sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định, cho đến khi tổng giá
trị hợp đồng được thực hiện.
Loại L/C tuần hoàn thường được sử dụng trong trường hợp giữa nhà xuất
khẩu và nhập khẩu có quan hệ mua bán lâu dài, thường xuyên, ổn định hoặc đối
với những mặt hàng được mua bán thường xuyên, định kỳ, số lượng lớn và được
giao nhiều lần. Việc sử dụng L/C tuần hoàn có những thuận lợi rất lớn đối với
nhà nhập khẩu như không bị ứ đọng vốn, giảm được chi phí mở L/C nhiều lần.
Còn đối với nhà xuất khẩu, họ không phải chờ đợi L/C mới, đồng thời khi giao
hàng có thể nhận được ngay tiền trong cùng một L/C.
Thực tiễn giao dịch quốc tế cho thấy, khả năng tuần hoàn của loại thư tín
dụng này có thể được thực hiện theo 3 cơ chế như sau:
+ Cơ chế tuần hoàn tự động: Theo cơ chế này, nếu L/C đã mở nhưng bị
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét