Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Công ty hợp danh

A/ Mở đầu
Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nước ta từ tập trung bao cấp sang
phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo nên bước ngoặt lớn trong
sự đi lên của nền kinh tế đất nước, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự
chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề cho công cuộc công nghiệp hóa
– hiện đại hóa hiện nay.
Hiện nay, nước ta trong nền kinh tế hội nhập thế giới, việc kinh doanh ngày
càng phát triển, nhu cầu mở rộng quy mô, phạm vi kinh doanh dẫn đến nhu cầu
cần có sự góp sức, kinh nghiệm, khả năng, vốn liếng của nhiều người hơn. Những
nhà đầu tư riêng lẻ bắt đầu tìm cách liên kết kinh doanh để nhanh chóng tập hợp
một số vốn lớn để phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất – kinh doanh, có thể
giảm chi phí sản xuất thu lợi nhuận cao hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn, bên
cạnh đó các nhà đầu tư có thể phân tán rủi ro. Công ty là mô hình kinh doanh
nhiều chủ bắt đầu được ra đời. Một trong những công ty đó là công ty hợp danh.
Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sử loài
người. Tuy nhiên, loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam
chưa lâu. Lần đầu tiên loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là ở Luật Doanh
nghiệp năm 1999. Những quy định hiện hành về công ty hợp danh tập trung trong
Luật Doanh nghiệp 2005. Để hiểu rõ về loại hình công ty này em xin bình luận các
quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh.
B/ Nội dung
I/ Bình luận các quy định về thành viên công ty hợp danh.
1/ Thành viên hợp danh.
Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh. Theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005, thành viên hợp danh phải là
cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công
ty.
Như vậ, trước hết thành viên hợp danh của công ty hợp danh theo pháp
luật Việt Nam chỉ có thể là cá nhân. Điều này khác với các quy định của một số
1
nước như Anh, Pháp, Mỹ thì thành viên hợp danh có thể là cá nhân hoặc pháp
nhân.
Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, thành viên hợp danh phải có
trình độ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề hoặc bằng cấp, nghiệp vụ nhất định.
Chẳng hạn như công ty hoạt động trong những ngành nghề như dịch vụ pháp lý,
khám chữa bệnh, dược phẩm, kiểm toán…
Theo khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005, các đối tượng sau đây
không thể trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh:
-Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
-Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
-Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở
hữu nhà nước;
-Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị
mất năng lực hành vi dân sự;
-Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề
kinh doanh;
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các hoạt động
kinh doanh nhân danh công ty, đồng thời phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới
đối với các nghĩa vụ của công ty. Theo Điều 134 Luật doanh nghiệp 2005, thành
viên hợp danh có quyền như một chủ công ty thực sự. Đi đôi với các quyền năng
ấy là một chế độ trách nhiệm vô hạn mà loại thành viên hợp danh phải chịu khi
thực hiện các hoạt động nhân danh công ty. Thành viên hợp danh phải chịu trách
nhiệm về các hoạt động của công ty kể từ khi đăng ký vào danh sách thành viên
công ty, bất kể thành viên đó có trực tiếp tham gia vào các hoạt động phát sinh đó
hay không, trừ trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thỏa thuận
khác (khoản 3 Điều 139 Luật doanh nghiệp 2005). Ngay cả khi đã chấm tư cách
thành viên công ty hợp danh thì trong thời hạn hai năm, thành viên hợp danh vẫn
2
phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ
của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên (khoản 5 Điều
138 Luật doanh nghiệp 2005).
Xuất phát từ vai trò quan trọng của thành viên hợp danh đối với công ty
hợp danh cùng với chế độ trách nhiệm vô hạn của loại thành viên này mà pháp
luật đã có một số quy định hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh, bao
gồm:
-Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc làm
thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí
của các thành viên hợp danh còn lại;
-Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân
danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty
đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
-Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ
phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận
của các thành viên hợp danh còn lại (Điều 133 Luật doanh nghiệp 2005).
Như vậy, thành viên hợp danh có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại cũng
như hoạt động của công ty hợp danh. Điều này cũng lý giải vì sao việc thay đổi
thành viên hợp danh lại phải tuân thủ quy định khắt khe của pháp luật. Công ty
hợp danh muốn tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới phải được ít nhất ba
phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận, nếu Điều lệ công ty không có
quy định khác.
Theo Điều 138 Luật doanh nghiệp 2005, tư cách thành viên hợp danh chấm
dứt trong các trường hợp:
-Tự nguyện rút vốn khỏi công ty. Trước đây, thành viên hợp danh muốn rút
ra khỏi công ty là rất hạn chế và khó khăn vì loại thành viên này có vai trò quan
trọng trong công ty hợp danh và việc rút ra này kéo theo sự thay đổi về cơ cấu tổ
chức, nhân sự cũng như thay đổi bộ máy quản lý điều hành của công ty hợp danh.
Quy định như vậy gây cho các thành viên hợp danh những khó khăn trở ngại
3
trong việc thay đổi môi trường đầu tư kinh doanh, họ không được linh hoạt trong
việc thay đổi, chuyển hướng đầu tư vào mô hình có lợi. Luật doanh nghiệp 2005
đã cho phép thành viên hợp danh được quyền tự nguyện rút vốn. Song, việc tự
nguyện rút vốn của các thành viên hợp danh cũng chỉ được coi là hợp lệ khi được
ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận, nếu Điều lệ công ty
không có quy định khác.
-Chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Trường hợp này, người thừa kế
của thành viên hợp danh bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được hưởng
phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của
thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được hội
đồng thành viên chấp thuận (điểm h khoản 1 Điều 134 Luật doanh nghiệp 2005).
Quy định này cho thấy, người thừa kế của thành viên hợp danh không đương
nhiên trở thành thành viên hợp danh mà phải có sự đồng ý của hội đồng thành
viên công ty hợp danh thì người thừa kế mới trở thành thành viên hợp danh.
-Bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất
năng lực hành vi dân sự. Khi thành viên hợp danh đã bị Tòa án tuyên bố mất tích
thì đương nhiên tư cách thành viên hợp danh của thành viên đó bị chấm dứt.
Thành viên hợp danh là người quản lý công ty nên khi bị hạn chế hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì tư cách thành viên phải chấm dứt. Trong trường hợp này,
phần vốn góp của thành viên đó được hoàn trả công bằng và thảo đáng.
-Bị khai trừ khỏi công ty. Các trường hợp khai trừ thành viên hợp danh
được quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật doanh nghiệp 2005. Nếu Điều lệ công ty
không quy định thì thành viên hợp danh bị khai trừ khi được sự chấp thuận của ít
nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh.
-Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
Bên cạnh các vấn đề nêu trên, luật pháp một số nước đề cao vai trò và tư
cách thành viên hợp danh thông qua việc quy định tất cả các thành viên hợp danh
đều có tư cách thương nhân hay thương gia. Nghĩa là họ có quyền hoạt động
thương mại một cách độc lập, nhân danh chính bản than mình hoặc nhân danh
công ty hợp danh. Vấn đề này tuy không được đề cập trong Luật doanh nghiệp
4
1999 cũng như Luật doanh nghiệp 2005 nhưng theo cách tiếp cận của các văn
bản này thì chỉ có công ty hợp danh mới được công nhận là chủ thể kinh doanh,
được quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh, còn thành viên hợp danh chỉ có
quyền đại diện công ty hợp danh để tiến hành các hoạt động kinh doanh vì lợi ích
công ty mà thôi. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật doanh nghiệp
2005 cũng quy định, thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân
hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh
của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. Như vậy, có
thể hiểu, chỉ có công ty hợp danh mới có tư cách thương nhân theo pháp luật Việt
Nam.
Nghiên cứu và phân tích một số vấn đề cơ bản về thành viên hợp danh cho
thấy, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh có vai trò quan trọng, có quyền
quản lý và thực hiện một số hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, đồng thời
với quyền hạn đó là chế độ trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với các nghĩa vụ của
công ty hợp danh.
2/ Thành viên góp vốn.
Công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty. Khác với thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không nhất thiết phải
là cá nhân, các tổ chức cũng có thể trở thành thành viên góp vốn trong công ty
hợp danh. Điều kiện để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh cũng
đơn giản hơn rất nhiều so với điều kiện để trở thành thành viên hợp danh. Mọi tổ
chức, cá nhân đều có thể trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh, trừ
các trường hợp sau:
-Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ tranh nhân dân Việt Nam sử dụng
tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình;
-Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật về cán bộ, công chức.
5
Thành viên góp vốn trong công ty hợp danh không có quyền tham gia quản
lý và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Điều này là hợp lý bởi trong công
ty hợp danh, thành viên hợp danh phải gánh chịu chế độ trách nhiệm liên đới và
vô hạn. Do đó, mọi kết quả hoạt động kinh doanh của công ty đều ảnh hưởng rất
lớn đến loại thành viên này, nếu người quản lý, điều hành không cẩn trọng dẫn
đến công ty phá sản thì các thành viên hợp danh rất dễ bị khánh kiệt gia sản. Vì
vậy, hơn ai hết, thành viên hợp danh phải có quyền quản lý điều hành công ty.
Như vậy, họ sẽ có trách nhiệm và cẩn thận hơn trong công việc kinh doanh của
công ty. Ngược lại, thành viên góp vốn là những người chịu trách nhiệm hữu hạn,
mọi nghĩa vụ của công ty cho dù thế nào thì họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm
trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty mà thôi. Nếu cho loại thành viên
này được quyền quản lý cũng như hoạt động nhân danh công ty thì rất có thể sẽ
gây ảnh hưởng tới thành viên hợp danh và bê thứ ba giao dịch vì họ sẽ ít cẩn
trọng như loại thành viên hợp danh trong công việc. Cũng do tính chất và vai trò
này của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh mà pháp luật không buộc họ
phải có chứng chỉ hành nghề hoặc phải qua đào tạo về ngành nghề thuộc lĩnh vực
hoạt động của công ty.
Ngoài đặc điểm trên thì thành viên góp vốn cũng có một số quyền và nghĩa
vụ khác được quy định trong Điều 140 Luật doanh nghiệp 2005, như: quền tham
gia họp, thảo luận và biểu quyết tại hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung
Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về
tổ chức lại và giải thể công ty; được chia lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp, quyền
được cung cấp các thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của công ty…
Ngoài ra, thành viên góp vốn cũng được quyền chuyển nhượng phần vốn góp của
mình tại công ty cho người khác mà không phải chịu quy chế quản lý khắt khe như
đối với thành viên hợp danh.
Qua việc nghiên cứu quy chế thành viên công ty hợp danh chúng ta thấy,
công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam hiện hành có hai loại thành viên là
thành viên hợp danh với đặc trưng cơ bản là quyền quản lý, điều hành, nhân danh
công ty và phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty và
thành viên góp vốn với đặc trưng là chế độ trách nhiệm hữu hạn, không có quyền
quản lý điều hành công ty.
6
II/ Quy định về vốn trong công ty hợp danh.
Theo khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005, tài sản góp vốn có thể là tiền
Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ
công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
Công ty hợp danh là một loại hình công ty đối nhân, vì vậy yếu tố nhân thân
có vai trò chủ đạo. Do đó, khác với loại hình công ty đối vốn, phần vốn góp vào
công ty thường thể hiện dưới dạng vật chất như tài sản, tiền bạc thì đối với công
ty hợp danh, phần vốn góp của thành viên hợp danh ngoài yếu tố vật chất đó còn
bao gồm cả yếu tố phi vật chất như: uy tín nghề nghiệp, kinh nghiệm, danh tiếng
hay bí quyết công nghệ… và những yếu tố này gắn liền với nhân thân của họ.
Ngoài loại vốn góp đặc biệt này của thành viên hợp danh thì công ty hợp danh còn
có phần vốn góp mang tính truyền thống của thành viên góp vốn. Vốn của các
thành viên được tập hợp và ghi vào điều lệ công ty tạo thành vốn điều lệ của công
ty. Vốn điều lệ của công ty hợp danh trong một số ngành nghề, theo quy định của
pháp luật không được thấp hơn vốn pháp định.
Điểm đáng lưu ý là công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ
loại chứng khoán nào để huy động vốn trong công chúng, do đó trong quá trình
hoạt động, công ty hợp danh chỉ có thể tăng vốn điều lệ bằng cách tăng vốn góp
của các thành viên công ty hoặc kết nạp thành viên mới vào công ty theo quy định
của pháp luật và điều lệ công ty.
Tài sản của công ty hợp danh không chỉ có vốn điều lệ mà bao gồm: tài sản
góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty; tài sản tạo
lập được mang tên công ty; tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do các
thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động kinh doanh
các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty do các thành viên hợp danh
cá nhân thực hiện; các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp cũng có sự khác nhau giữa thành viên
hợp danh và thành viên góp vốn. Trong công ty hợp danh, phần vốn góp của
thành viên hợp danh thường gắn với nhân thân của họ, do vậy việc chuyển
7
nhượng laoij vốn góp của thành viên này là tương đối khó khăn, bởi lẽ: nếu tự do
chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh thì cũng đồng nghĩa với
một sự thay đổi cơ cấu nhân sự và các thành viên hợp danh cũ có thể sẽ phải chấp
nhận một thành viên mới mà họ không quen biết, như vậy sẽ làm thay đổi bản
chất đối nhân của công ty hợp danh. Tuy nhiên, pháp luật vẫn không cấm tuyệt
đối sự thay đổi này mà chỉ hạn chế nó bằng việc quy định cho phép thành viên
hợp danh được quyền nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại
công ty nếu được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại (khoản 3
Điều 133 Luật doanh nghiệp 2005). Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tính
chất đối nhân tương đối của công ty hợp danh ở Việt Nam đồng thời mở rộng
quyền tự do kinh doanh, tự do chuyển đổi môi trường đầu tư có lợi hơn cho các
thành viên hợp danh. Đối với vốn góp của thành viên góp vốn thì được tự do
chuyển nhượng vì việc chuyển nhượng này không làm thay đổi tính chất cũng như
bộ máy quản lý công ty.
III/ Quy định về quản lý giám sát nội bộ công ty hợp danh.
Cơ quan quản lý cao nhât của công ty hợp danh chính là Hội đồng thành
viên. Theo khoản 1 Điều 135 Luật doanh nghiệp 2005, cơ cấu Hội đồng thành viên
bao gồm tất cả các thành viên. Các thành viên hợp danh có quyền thảo luận,
quyết định mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên. Đối với thành
viên góp vốn, tuy được tham gia vào cơ quan quản lý cao nhất của công ty nhưng
thực chất lại không có quyền quản lý, điều hành công ty mà chỉ được tham gia
thảo luận và biểu quyết những vấn đề về sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; sửa đổi,
bổ sung quyền, nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại, giải thể công ty và
các vấn đề khác của điều lệ có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ
(điểm a khoản 1 Điều 140 Luật doanh nghiệp 2005).
Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng
thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nếu điều lệ công ty
không có quy định khác. Các chức danh này ở công ty hợp danh về bản chất khác
so với ở các công ty khác, ở công ty hợp danh, thành viên hợp danh được bầu làm
Giám đốc, Tổng giám đốc không có quyền cao hơn các thành viên hợp danh khác.
Giám đốc, Tổng giám đốc công ty hợp danh chỉ làm nhiệm vụ phân công, phân
8
phối, điều hòa công việc giữa các thành viên hợp danh; điều hành công ty theo sự
phân công, phân nhiệm hoặc ủy quyền của Hội đồng thành viên. Giám đốc công ty
hợp danh không có quyền tự quyết định bất cứ một vấn đề gì nếu không thông
qua Hội đồng thành viên của công ty. Ngay cả việc đại diện cho công ty trong quan
hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên
đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác thì đơn
giản cũng chỉ vì Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đó
cũng chính là thành viên hợp danh của công ty.
Hội đồng thành viên có thể được triệu tập theo quyết định của Chủ tịch Hội
đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trình tự, thể thức
họp được quy định tại Điều 136 Luật doanh nghiệp 2005. Hội đồng thành viên có
quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Nếu điều lệ công ty
không quy định thì khi quyết định những vấn đề quan trọng phải được ít nhất ba
phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Đối với các vấn đề khác ít quan
trọng hơn thì chỉ cần ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh chấp thuận,
tỉ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định. Mỗi thành viên hợp danh có một phiếu
biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại điều lệ công ty.
Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều
hành hoạt động hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh
trong việc thực hiện công việc hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên
thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó. Trong điều hành hoạt động kinh
doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức
danh quản lý và kiểm soát công ty. Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh
cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo
nguyên tắc đa số. Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi
hoạt động kinh doanh ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty đều không
thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành
viên còn lại chấp thuận.
Như vậy, việc quản lý, giám sát nội bộ cũng như cơ chế điều hành của công
ty hợp danh về thực chất đều nằm trong tay các thành viên hợp danh. Tuy rằng
luật quy định cho phép thành viên góp vốn cũng được tham gia vào Hội đồng
9
thành viên – cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty hợp danh nhưng
thực chất việc quyết định các vấn đề của công ty lại thuộc về các thành viên hợp
danh thông qua những quy định về tỷ lệ tối thiểu số thành viên hợp danh biểu
quyết các vấn đề của công ty hợp danh.
IV/ Quy định về thành lập công ty hợp danh.
Trình tự thành lập công ty hợp danh tương tự như trình tự thành lập doanh
nghiệp nói chung. Người thành lập công ty hợp danh phải lập và nộp đủ hồ sơ
đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu
trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với công ty hợp danh bao gồm:
-Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh;
-Dự thảo điều lệ công ty;
-Danh sách thành viên, bản sao chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng
thực cá nhân hợp pháp khác của mỗi thành viên;
-Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối
với công ty hợp danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật
phải có vốn pháp định;
-Chứng chỉ hành nghề của thành viên hợp danh và cá nhân khác đối với
công ty hợp danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có
chứng chỉ hành nghề.
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh
doanh và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm
việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
thì thông bằng văn bản cho người thành lập công ty biết. Thông báo phải nêu rõ lý
do và yêu cầu sửa đổi bổ sung.
Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều
24 Luật doanh nghiệp 2005. Cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính
hợp lệ của hồ sơ khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nội dung giấy
10
chứng nhận đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều 25 Luật doanh nghiệp
2005. Kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty hợp
danh có tư cách pháp nhân và được quyền hoạt động kinh doanh, trừ ngành nghề
kinh doanh có điều kiện. Đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện, công ty chỉ
được hoạt động kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, công ty hợp danh phải đăng trên mạng thông tin công ty của cơ quan đăng
ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số
liên tiếp về các nội dung chủ yếu của công ty mình như: tên doanh nghiệp; địa chỉ
trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện; ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ,
nơi đăng ký kinh doanh. Trong trường hợp thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh,
công ty hợp danh phải công bố nội dung thay đổi đó trong thời hạn và theo
phương thức như đối với lần đầu công bố.
V/ Quy định về giải thể công ty.
Công ty hợp danh có thể bị giải thể trong các trường hợp sau:
-Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty mà không có
quyết định gia hạn. Công ty hợp danh được ra đời do sự thỏa thuận của các thành
viên. Sự tồn tại của công ty hợp danh vì thế cũng phụ thuộc vào sự thỏa thuận
này, biểu hiện tối cao của sự thỏa thuận này chính là điều lệ của công ty. Một
trong những nội dung cơ bản của điều lệ công ty là thời hạn hoạt động của công
ty. Do vậy, khi thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ đã kết thúc thì công ty bị giải
thể, nếu muốn tiếp tục hoạt động thì các thành viên công ty hợp danh phải gửi
quyết định gia hạn đến cơ quan có thẩm quyền để được gia hạn hoạt động.
-Theo quyết định của tất cả thành viên hợp danh. Trường hợp giải thể này
là một hình thức giải thể tự nguyện theo ý chí của các thành viên hợp danh khi
thấy sự tồn tại của công ty hợp danh không còn có lợi. Quy định này bảo đảm cho
các nhà đầu tư quyền tự do kinh doanh và tự do tổ chức, quản lý, đinh đoạt
doanh nghiệp theo pháp luật. Quy định này cũng cho thấy vai trò của thành viên
hợp danh rất được đề cao. Trong công ty hợp danh, thành viên hợp danh có toàn
quyền quyết định sự tiếp tục tồn tại hay không tồn tại của công ty, trong khi đó ý
chí của thành viên góp vốn phải phụ thuộc vào quyết định của thành viên hợp
11
danh, mặc dù quyền biểu quyết của họ được ghi nhận tại điểm a khoản 1 Điều
140 Luật doanh nghiệp 2005.
-Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật
doanh nghiệp 2005 trong thời hạn sáu tháng liên tục. Luật doanh nghiệp 2005 quy
định công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh và có thể có thành
viên góp vốn. Như vậy, theo quy định, công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành
viên hợp danh trong quá trình hoạt động, nếu không có ít nhất hai thành viên hợp
danh thì đồng nghĩa với việc công ty bị giải thể. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt
động, sự biến đổi về số lượng thành viên là không thể tránh khỏi, vì vậy pháp luật
cho phép doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh nói riêng được tồn tại
trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày không còn đủ thành viên tối thiểu.
-Bị thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh. Đây là trường hợp giải thể bắt buộc
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh do cơ quan có nhà nước có thẩm quyền cấp cho công ty nhằm chứng
nhận tư cách chủ thể kinh doanh của công ty hợp danh, đó là tấm giấy thông hành
để công ty hợp danh thực hiện các hoạt động của mình trong mối quan hệ với
Nhà nước và với công chúng. Bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có
nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanh của công ty
hợp danh, buộc công ty hợp danh phải giải thể.
Thủ tục giải thể công ty hợp danh được pháp luật quy định tại Điều 158
Luật doanh nghiệp 2005, cụ thể gồm các bước:
-Bước 1: Thông qua quyết định giải thể công ty. Đây là bước đầu tiên để
tiến hành thủ tục giải thể công ty hợp danh. Ở giai đoạn này, Hội đồng thành viên
sẽ họp, thảo luận và biểu quyết về quyết định giải thể công ty. Quyết định được
thông qua khi có ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận, nếu
điều lệ công ty không có quy định khác. Quyết định giải thể công ty phải có các nội
dung chủ yếu như: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; lý do giải thể; thời hạn,
thủ tục thanh lý hợp đồng; phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
lao động…
12
-Bước 2: Thanh lý tài sản của công ty. Ở giải đoạn này, nếu như điều lệ công
ty quy định thành lập tổ chức thanh lý tài sản thì tổ chức này sẽ làm nhiệm vụ kê
biên và thanh lý các tài sản của công ty hợp danh. Nếu điều lệ công ty không quy
định thì Hội đồng thành viên công ty hợp danh có thể trực tiếp tổ chức thanh lý
tài sản của công ty mình.
-Bước 3: Gửi quyết định giải thể và thông báo giải thể. Trong thời hạn bảy
ngày làm việc, kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải được gửi đến cơ
quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích
liên quan, người lao động trong công ty và phải được niêm yết công khai tại trụ sở
chính và chi nhánh của công ty. Đối với trường hợp mà pháp luật yêu cầu phải
đăng báo thì quyết định giải thể công ty phải được đăng ít nhất trên một tờ báo
viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp. Quyết định giải thể phải được gửi cho
các chủ nợ kèm theo thông báo về phương án giải quyết nợ.
-Bước 4: Thanh toán nợ của công ty. Các khoản nợ của công ty được thanh
toán theo thứ tự sau:
a/ Phí phá sản;
b/ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao
động đã ký kết;
c/ Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách
chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi
chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để
thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ
của mình theo tỉ lệ tương ứng.
Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể công ty, phần còn
lại thuộc về các thành viên công ty hợp danh.
Như vậy, thứ tự thanh toán nợ của công ty hợp danh khi giải thể đã được
pháp luật quy định rõ rang. Tuy vậy, một số vấn đề đặt ra là trong trường hợp
công ty hợp danh bị giải thể, nếu tài sản của công ty không đủ để thanh toán nợ
13
thì thành viên hợp danh phải dùng toàn bộ tài sản của mình để thanh toán nốt
cho các chủ nợ của công ty; nhưng mặt khác pháp luật cũng không cấm các thành
viên hợp danh có những giao dịch của riêng mình, nghĩa là, bản thân mỗi thành
viên hợp danh đều có quyền ký kết hợp đồng nhân danh bản thân mình và như
vậy họ hoàn toàn có khả năng tạo ra các khoản nợ của riêng họ với các chủ nợ của
chính họ mà không liên quan gì đến công ty hợp danh. Trong trường hợp này, tài
sản của thành viên hợp danh sẽ được thanh toán theo thứ tự nào, giả sử trong
trường hợp thời điểm công ty hợp danh giải thể cùng thời điểm với các khoản nợ
của riêng thành viên hợp danh cũng đến hạn phải trả?
-Bước 5: Cơ quan đăng ký kinh doanh nhận hồ sơ đầy đủ về giải thể doanh
nghiệp từ người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh và xóa tên công ty
hợp danh trong sổ đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ
ngày thanh toán hết các khoản nợ của công ty hợp danh, người đại diện theo
pháp luật của công ty hợp danh phải gửi hồ sơ giải thể công ty hợp danh đến cơ
quan đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên công ty hợp danh trong sổ đăng
ký kinh doanh. Đây là hành vi pháp lý sau cùng chấm dứt sự tồn tại của công ty
hợp danh với tư cách là một chủ thể kinh doanh.
C/ Kết luận
Qua nghiên cứu và bình luận về các quy định trong Luật doanh nghiệp 2005
về công ty hợp danh nhận thấy đây là loại hình công ty có những đặc thù so với
các loại hình công ty khác, việc nhận thức và sự chú ý của xã hội tới loại hình công
ty này còn khá mơ hồ. Ngay cả quy định của pháp luật cũng chưa bao quát hết xu
hướng vận động và phát triển của loại hình công ty này qua việc thường xuyên
sửa đổi, bổ sung những quy định về công ty hợp danh. Vì vậy, việc hoàn thiện các
quy định về cơ cấu tổ chức điều hành, hoạt động, xác định tư cách pháp lý…cho
công ty hợp danh là một vấn đề cơ bản và cần thiết nhằm tạo lập một môi trường
khinh doanh ổn định, đặc biệt là môi trường pháp lý cho hoạt động của loại hình
doanh nghiệp này có điều kiện phát huy hết những ưu thế của nó.
14

Xem chi tiết: Công ty hợp danh


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét