Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ 6

Sáng kiến kinh nghiệm
Học sinh càng được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì phẩm
chất và năng lực của cá nhân càng sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện. Tính
năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải
được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
-Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng truyền
đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu
mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ môn). Ngày nay, cùng với tri
thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm cho học sinh nắm vững và sử dụng các
phương pháp bộ môn. Điều đó có ý nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả
trong tương lai.
-Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa trong
dạy học. Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giống nhau, việc
phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để đảm bảo sự phát
triển tối ưu cho mỗi học sinh.
-Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn koa học thực nghiệm.
Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn.
Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạy người”. Tất
nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà trường. Trong nhà trường
cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên dạy học là hoạt động chủ yếu.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
-Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cố gắng đổi mới
và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nội dung giáo dục trong nhà
trường. Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạy học thì chưa có sự quan tâm đầy đủ,
phương pháp dạy học chưa được đổi mới tương xứng.
-Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp và chất lượng
dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, học sinh giỏi. Ở những giáo
viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theo hướng hiên đại. Về cơ bản giảng
dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS hiện nay, trình độ chung của học sinh còn thấp, học
sinh chưa biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã được học vào cuộc sống hoặc chỉ vận
dụng kiến thức một cách đơn giản, máy móc…
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
1. Các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Vật lí 6:
Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học
trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thực hiện kết
hợp một số giải pháp sau đây:
1.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm:
Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó học sinh
trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và
được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau giữa các thành viên
để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm.
Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm
Bước 1: Làm chung cho cả lớp
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ
cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
Bước 2: Hoạt động nhóm
Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác. Thành viên
trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến , phân công nhóm sau đó từng thành viên làm việc theo
sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần thiết. Giáo viên giám sát
sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh.
Bước 3:Thảo luận, tổng kết trước cả lớp
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, giáo viên tổ chức cho học sinh ở các nhóm khác
nhận xét, đánh giá và giáo viên xác nhận lại khi cần thiết. Giáo viên tổng kết, chốt lại
những điểm quan trọng sau khi các nhóm đã báo cáo xong. Cuối cùng giáo viên động
viên, khen ngợi các nhóm cũng như các cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán
những cá nhân và nhóm chưa hoạt động tích cực.
Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các công
việc sau:
*Tổ chức nhóm:
+Quy mô nhóm:
Mỗi nhóm nên có từ 3 đến 6 học sinh. Nhóm 3 đến 4 học sinh là nhóm nhỏ, thích
hợp với các hoạt động giải bài tập rèn luyện kĩ năng hay thực hành trong lớp. Với nhóm
nhỏ, các em thảo luận, đề ra được quyết định nhanh hơn, giáo viên quản lí các thành
viên trong nhóm dễ dàng hơn, nhưng việc bao quát các nhóm phức tạp hơn, việc theo
dõi hoạt động và thời gian để các nhóm trình bày kết quả phải nhiều hơn vì có nhiều
nhóm hơn.
Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công cụ lớn,
phức tạp như thực hành thí nghiệm. Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinh cảm giác vui, hồ
hởi và niềm tin vào sự thành công. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các thành viên trong
nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận hơn. Giáo viên khó khăn hơn trong
việc quản lí các thành viên trong nhóm lớn nhưng dễ dàng bao quát chung các nhóm
hơn và thời gian để các nhóm trình bày kết quả cũng ít hơn.
+Phân công nhiệm vụ trong nhóm:
Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm, báo cáo viên
và các thành viên còn lại. Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều khiển nhóm, thư
kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm. Các thành viên còn lại
trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào hoạt động của nhóm theo sự phân
công của nhóm trưởng.
Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần có đầy đủ các
thành phần như trên. Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởng nhóm để triển khai
hoạt động của nhóm. Các thành phần trong một nhóm cũng cần thực hiện luân phiên,
các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau thực hiện các vai trò đó để đều có cơ hội
rèn luyện về mọi mặt như nhau.
*Các kiểu chia nhóm:
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
Chia nhóm theo trình độ học sinh. Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào các
nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có cả học sinh
giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh trong một nhóm có khả
năng học tập tương đối như nhau). Với nhóm nhiều trình độ các em học yếu có cơ hội
học hỏi các em học khá, giỏi. Ngoài những cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách
chia nhóm dựa trên sự tương đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ
các dụng cụ cho các nhóm thực hành có hiệu quả.
*Giao nhiệm vụ cho nhóm:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện. Sau khi giao nhiệm vụ cho
các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh đã hiểu được nhiệm vụ
của mình chưa. Có thể thực hiện đều này bằng cách hỏi một vài nhóm trưởng cũng như
một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõ nhiệm vụ của mình. Giáo viên cũng
cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoàn thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt
động, thời gian từ 5 đến 7 phút.
*Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:
Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh theo các chú
ý sau:
-Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn thông qua
các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp.
-Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn nắn.
Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời. Dù là khuyến khích hay nhắc nhở
học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợp tác, tạo niềm tin cho
học sinh.
*Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện lên
trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như đứng tại chỗ hay lên
bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu
một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát, nhận xét, bổ sung. Sự nhận xét, bổ
sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm
và sự gắn kết của cả lớp trong mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập. Sau khi mỗi nhóm
đã trình bày và có sự nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý
kiến của mình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp.
Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên tổng
kết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và nhận xét, động
viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những khiếm khuyết đã
mắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động nhóm.
1.2/ Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:
Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sử dụng các
vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ thể hóa cái nhìn
trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc phục khó khăn ban đầu,
tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách hiệu quả, nhanh chóng.
Phương pháp trực quan thường được sử dụng trong việc dạy và học môn Vật lí. Nhất
là đối với bậc trung học cơ sở, giáo viên cần sử dụng các vật thật, mô hình hay tranh vẽ
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm
để minh hoạ cho các bài học thêm sinh động.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 5 “ Khối lượng – đo khối lượng” trong chương trình Vật lí 6, để
giúp học sinh hiểu thêm một số dụng cụ dùng để đo khối lượng thường dùng trong đời
sống, giáo viên cần dùng một số tranh vẽ sau:
Cân y tế Cân tạ Cân đòn Cân đồng hồ
Ví dụ 2: Bài 13: “Máy cơ đơn giản”. khi dạy bài học này, giáo viên cần đưa một số
tranh ảnh minh họa cho học sinh thấy được một số máy cơ đơn giản thường dùng là mặt
phẳng nghiêng, đòn bẩy và ròng rọc.
1.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình huống
hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học sinh chưa giải
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm
đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ thấy có triển vọng tự giải
đáp được nếu tích cực suy nghĩ.
Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề,
điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để
giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và đạt được
những mục tiêu học tập khác.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:
-Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông báo
tri thức dưới dạng có sẵn.
Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức
và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải là nghe thầy
giảng một cách thụ động.
-Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá trình
phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triển khả năng tiến
hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới.
Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiện hoặc hòa
nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làm các bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
-Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra. Học sinh có
thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề.
-Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đề được đặt
ra.
-Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.
Bước 2:Tìm giải pháp
-Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết
và cái phải tìm. Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặc điểm hoặc tính
chất thích hợp.
-Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giải quyết vần
đề một cách hiệu quả.
Bước 3: Trình bày giải pháp
Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn
đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại
vấn đề. Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõ ràng, mạch lạc, logic.
Ví dụ: Biết 10dm
3
có khối lượng 15kg
a) Tính thể tích của 1 tấn cát.
b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m
3
Hoạt động của giáo viên và học sinh Thực hiện lời giải
Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt học
sinh làm bài tập theo trình tự các bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm
Em hãy cho biết đề bài đã cho những đại
lượng nào?
+HS: Đề bài cho biết khối lượng và thể tích
của cát.
-GV: Bài toán yêu cầu tính những đại lượng
nào?
+HS: Bài toán yêu cầu tính thể tích và trọng
lượng của cát
-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài, giáo
viên theo dõi
Bước 2:Tìm giải pháp
-GV: Bài toàn cho biết thể tích và khối lượng
của cát, ta tính được đại lượng liên quan nào?
+HS: Ta tính được khối lượng riêng của cát
-GV: Em hãy cho biết công thức tính khối
lượng riêng?
+HS: Khối lượng riêng được xác định theo
công thức
m
D =
V
-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng của
cát, các em tính thể tích của cát dựa vào công
thức biến đổi
m
V=
D
với m = 1tấn = 1000kg
Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán
-GV: Em hãy cho biết công thức tính trọng
lượng của cát?
+HS: Công thức tính trọng lượng là
P = 10m
-GV: Muốn tính được trọng lượng của một
đóng cát có thể tích 3m
3
, trước hết ta phải tính
được khối lượng của cát. Vậy khối lượng của
cát được tính theo công thức nào?
+HS: Khối lượng của cát được tính theo công
thức m = D.V
-GV: Sau khi các em tính được khối lượng
của cát, ta áp dụng lại công thức P=10m sẽ
tính được trọng lượng của cát.
Bước 3: Trình bày giải pháp
Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo viên,
học sinh trình bày bài toán một cách chi tiết,
cụ thể.
-GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời.
Cho biết
V = 10dm
3
= 0,01m
3
m = 15kg
V = ? Khi m = 1tấn = 1000kg
P = ? Khi V = 3m
3
Khối lượng riêng của cát là
3
m 15
D = 1500(kg/m )
V 0,01
= =

a) Thể tích của một tấn cát là:
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm
3
m 1000
V= 0,667(m )
D 1500
= =

b)Trọng lượng của một đóng cát
3m
3
là:
Khối lượng của 3m
3
cát là:
m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg)
Trọng lượng của 3m
3
cát là:
P = 10.m = 10.4500 = 45000 (N)
Đáp số: a) V = 4500 (kg)
b) P = 45000 (N)
1.4/ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp:
Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm. Các tri thức Vật lí là sự khái quát hóa các
kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời sống. Không có thí
nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư duy để tiếp nhận tri thức
mới. Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến học sinh về bản chất là áp đặt.
Chính cách dạy chay là một trong những nguyên nhân của tình trạng chất lượng học tập
bộ môn còn thấp và cũng đồng thời là sự tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và
cuộc sống.
Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm chứng
minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh động hơn, hiệu
quả hơn.
Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế. Để thực hiện các thí nghiệm
trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy cần thực hiện các
bước sau:
+ Chủ động và có kế hoạch làm đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học: Cùng
với việc lập kế hoạch dạy học, giáo viên phải tính đến các điều kiện cụ thể trong nhà
trường mà xây dựng kế hoạch làm và sử dụng trang thiết bị dạy học phù hợp.
+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực
hiện các thí nghiệm chứng minh.
1.5/ Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng,
phân tích các kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên quan…để đi đến tri
thức mới.
Để tổ chức tốt cho học sinh làm việc trên lớp một cách chủ động, tích cực, đúng
hướng…vai trò tổ chức của giáo viên thể hiện chủ yếu qua hệ thống câu hỏi:
+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic và theo
nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…
+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các em cần tự
mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…để nắm vững
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
được bản chất và quy luật của chúng. Nếu học sinh không tự làm được theo các yêu cầu
đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ thể và chi tiết hơn.
+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được năng lực của
mọi đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá - giỏi trả lời những câu hỏi chung, khái
quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết hơn. Có thể trong thời
gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưng giáo viên cần phải làm như vậy
để rèn luyện thói quen cho học sinh.
+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể cả các
câu hỏi gợi ý chi tiết. Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn.
1.6/ Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:
Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học. Nó giúp học sinh hoàn thiện tri thức
mới và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết các nhệm vụ thực tiễn. Qua luyện tập,
giáo viên tiếp nhận thông tin ngược từ học sinh để bổ sung những tri thức còn thiếu, uốn
nắn những sai lầm thường mắc phải.
Nội dung luyện tập phải được lựa chọn ưu tiên cho học sinh trung bình: Tương ứng
với yêu cầu tối thiểu của bài học, có tác dụng chuẩn bị cho học sinh học bài và làm bài ở
nhà. Tuy vậy, không thể bỏ qua những đối tượng khá, giỏi. Nên có những bài tập có yêu
cầu cao hơn cho các em này. Khâu luyện tập cần được dành thời gian hợp lí, tốt nhất là
khoảng 10 phút cho mỗi tiết học. Coi trọng những bài tập có nội dung thực tế, gắn với
đời sống để giúp học sinh biết vận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ hàng
ngày.
Nói chung học sinh phải được tạo điều kiện để làm việc một cách độc lập, đặc biệt
trong giai đoạn luyện tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài học. Mọi cuộc trao đổi thảo
luận, mọi chỉ dẫn hay nhận xét, đánh giá của giáo viên, chỉ có hiệu quả cao khi học sinh
đã được chuẩn bị và có sự chứng kiến của giáo viên.
1.7 / Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh:
Để hỗ trợ và thực hiện tốt các giải pháp trên. Phiếu học tập được thiết kế cho từng
tiết học. Nội dung của phiếu bao gồm:
-Các câu hỏi hoặc những chỉ dẫn cho học sinh quan sát và ghi lại các kết quả thí
nghiệm.
-Hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh phân tích hiện tượng, vận dụng các kiến thức
có liên quan…để đi đến tri thức mới.
-Các bài luyện tập.
Sử dụng phiếu học tập cho mỗi bài dạy cụ thể sẽ có tác dụng:
-Tiết kiệm được thời gian để giáo viên truyền đạt các yêu cầu hoặc hướng dẫn
đối với học sinh.
-Tăng cường tính độc lập trong khi làm việc của mỗi học sinh.
-Nhịp độ và khối lượng công việc làm được tùy thuộc vào năng lực của mỗi học
sinh. Bằng cách này quá trình học tập của học sinh từng bước được cá nhân hóa.
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
-Trong thời gian đầu, giáo viên có thể thu “phiếu học tập” sau tiết học để xem
xét, đánh giá hoạt động của từng học sinh và của tập thể học sinh. Từ đó có biện pháp
uốn nắn, chấn chỉnh hoặc điều chỉnh cho hợp lí và có hiệu quả hơn.
Tóm lại, Các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học vật lí nêu trên nhằm đạt được
ba yêu cầu sau:
- Học sinh phải được quan sát các hiện tượng vật lí một cách trực tiếp đúng theo
nguyên tắc sư phạm.
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn cho các em tự phân tích, lí giải…để qua đó nắm
được bản chất, quy luật của hiện tượng.
- Học sinh được luyện tập vận dụng phương pháp và tri thức mới vào giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể - trước hết là trong các bài tập, sau đó là trong đời sống.
Chính trong quá trình hoạt động một cách tích cực, chủ động để chiếm lĩnh tri thức
trên, các năng lực và phẩm chất nhân cách của các em được hình thành và phát triển.
MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA
Sau đây là một số ví dụ minh họa việc vận dụng kết hợp một số giải pháp trên vào
trong bài dạy cụ thể của chương trình Vật lí 6
Ví dụ 1: Bài lực đàn hồi
* Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
-Nhận biết được vật đàn hồi (qua sự đàn hồi của lò xo).
-Trả lời đặc điểm của lực đàn hồi.
-Rút ra được nhận xét về sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào độ biến dạng của vật
đàn hồi.
2. Kỹ năng:
-Lắp được thí nghiệm chứng minh lò xo là một vật có tính chất đàn hồi.
-Nghiên cứu hiện tượng để rút ra quy luật về sự biến dạng và đặc điểm của lực
đàn hồi.
3. Thái độ: Có ý thức tìm tòi quy luật vật lý qua các hiện tượng tự nhiên.
*Thí nghiệm:
Dụng cụ: Chuẩn bị cho mỗi nhóm học sinh
Một giá treo, một lò xo, một thước có độ chia đến mm
Ba quả nặng giống nhau, mỗi quả có khối lượng 50g
Bước 1: Đo chiều dài tự nhiên của lò xo khi chưa kéo dãn (chiều dài tự nhiên của lò xo):
l
0
Bước 2: Móc quả nặng vào đầu dưới của lò xo. Đo chiều dài l
1
của lò xo khi bị biến
dạng.
Bước 3: Tính trọng lượng của quả nặng và ghi vào ô tương ứng.
Bước 4: Đo lại chiều dài của lò xo khi bỏ quả nặng ra. So sánh l
0
và l
1.
Bước 5: Móc thêm 2, 3 quả nặng 50g vào vào đầu dưới của lò xo và làm tương tự như
trên.
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
*Hệ thống câu hỏi: Từ kết quả thí nghiệm hãy cho biết chiều dài của lò xo khi bỏ hết
quả nặng ra và so sánh với chiều dài tự nhiên của lò xo?
Giáo viên đặt các câu hỏi hướng dẫn học sinh:
-Trọng lượng của các quả nặng tương ứng được móc vào lò xo được xác định
như thế nào?
-Đặt thước đo như thế nào để đo chiều dài của lò xo chính xác?
-Số chỉ trên thước đo khi móc các quả nặng tương ứng vào lò xo có giá trị như
thế nào so với chiều dài tự nhiên ban đầu của lò xo?
-Khi bỏ các quả nặng ra chiều dài của lò xo như thế nào so với chiều dài ban
đầu của lò xo?
Học sinh làm thí nghiệm, thu thập kết quả ghi vào ô tướng ứng trong phiếu học tập
của nhóm:
Số quả nặng 50g
được móc vào lò xo
Tổng trọng lượng
của các quả nặng
Chiều dài của lò xo Độ biến dạng của
lò xo
0 0 (N) l
0
=……(cm) 0 (cm)
1 quả nặng ……… (N) l =……(cm) l - l
0
=……(cm)
2 quả nặng ……… (N) l =……(cm) l - l
0
=……(cm)
3 quả nặng ……… (N) l =……(cm) l - l
0
=……(cm)
Sau khi học sinh thảo luận, tính toán chiều dài của lò xo tương ứng trong từng bước
thí nghiệm cụ thể, ghi vào phiếu học tập của nhóm, giáo viên chốt lại cho học sinh thấy
được rằng khi bỏ các quả nặng ra khỏi lò xo thì chiều dài của lò xo trở lại vị trí ban đầu.
Từ đó có thể kết luận rằng, lò xo là một trong những vật có tính chất đàn hồi.
*Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi cho học sinh tham gia trả lời
1. Lực đàn hồi là gì? Đặc điểm của lực đàn hồi?
2. Nêu ví dụ về một số vật có tính chất đàn hồi?
3. Lực đàn hồi phụ thuộc như thế nào vào độ biến dạng của lò xo?
4.Các lực nào sau đây là lực đàn hồi?
A. Lực hút của trái đất lên các vật
Giáo viên: Dương Thị Ánh Hồng Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét