Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Phật giáo ở Huế và sự ảnh hưởng của Phật giáo đến con người Huế

MỞ ĐẦU

Phật giáo là một tơn giáo gắn bó với Việt Nam trong một thời gian
dài của lịch sử dân tộc. Vào thời Nhà Lý và Nhà Trần, Phật giáo trở thành
quốc đạo và trong thời kỳ đó Việt Nam đã đạt được những thành tựu rực
rỡ về mọi mặt kinh tế - chính trị - văn hố - xã hội - qn sự. Trong lần đi
thực tập tại Huế lần này, em đã có dịp tìm hiểu về Huế, con người Huế,
đặc biệt em đã có thời gian và điều kiện để mở rộng tri thức của mình về
Phật giáo ở Huế. Trong bài báo cáo thực tập này em sẽ nói về Phật giáo ở
Huế và sự ảnh hưởng của Phật giáo đến con người Huế.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

1
I. PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO
VIỆT NAM.
Đạo phật có nguồn gốc ở Ấn Độ cổ đại, người sáng lập là Tất Đạt
Đa (Siddhartha), họ Gơtoma (Gautama), sinh khoảng năm 563 trước Cơng
ngun ở kinh thành Kapilavastu (chân núi Hymalaya về phía nam, nay
thuộc miền Nam nước Nêpan, giáp phía bắc Ấn Độ) , là thái tử con vùa
Tịnh Phạn. người đời tơn xưng ơng là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni).
Ơng mất năm 483 trước Cơng ngun, thọ 80 tuổi.
Khi Tất Đạt Đa ra đời, xung quanh ơng là một xã hội nhiều đau khổ,
biết bao nhiêu con người là nạn nhân của chế độ đẳng cấp dã man, của
thiên tai qi ác. Lúc đó Ấn Độ đã có nhiều loại tư tưởng vf tơn giáo, như
đạo Vêda (đạo Phệ Đà) thờ nhiều thần, đạo Bà La Mơn (Brátman) thờ một
thần, đạo Jâim chủ trương tu khổ hạnh v.v… Đạo Phật của Tất Đạt Đa ra
đời là một sự phản ứng có tính chất bác bỏ đối với chế độ đẳng cấp khắc
nghiệt đương thời, đối với đạo Bà La Mơn nghiệt ngã và đối với phương
pháp tu hành khổ hạnh của Jana, Đồng thời là sự khẳng định một đạo lý,
một đường hướng cứu khổ mới cho con người.
Sinh thời, Phật Thích Ca khơng viết sách, ơng chỉ rao giảng bẳng
miệng. Các kinh, luật, luận của Phật giáo lưu truyền ở đời là do nhiều thế
hệ học trò của ơng căn cứ vào lời dạy được lưu truyền mà biên tập thành.
Vì vậy trong đó xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về sự tu hành và
đắc đạo. Chủ yếu có hai tơng phái lớn là Tiểu Thừa (Hinayana - cỗ xe
nhỏ) và Đại Thừa (Mahayana - Cỗ xe lớn). Tiểu Thừa còn gọi là Phật giáo
ngun thuỷ (Thérevada), dựa sát vào văn bản kinh điển, chủ trương giác
ngộ cho bản thân mình, chỉ thờ có Phật Thích Ca và tu đến bậc La Hán
(Arhat). Đại Thừa chủ trương tự giác và giác tha, khơng cố chấp vào kinh
điển, thờ nhiều Phật và tu đến bậc Bồ Tát trước khi thành Phật. Ngồi ra
còn có tơng phái Kim Cang Thừa (Vadshrayana), còn gọi là Mật Tơng,
chủ trương kết hợp phù chú, bùa linh với giáo lý để giải thốt.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

2
Khi Phật Thích Ca còn tại thế, Đạo của ơng đã được nhiều người ở
dọc sơng Hồng, thuộc miền trung và bắc Ấn Độ tin theo. Sau khi ơng mất,
đạo đó được truyền bá mạnh mẽ. Đến thế kỷ III trước Cơng ngun thì
phát triển đến đỉnh cao nhất. Lúc đó ở Ấn Độ có đến 8 vạn chùa thsản
phẩm. Nhưng đến thế kỷ V sau Cơng ngun, Phật giáo bị Ấn Độ giáo tấn
cơng, sau đó bị Hồi giáo triệt phá. Từ thế kỷ XII về sau, Phật giáo chỉ còn
là một di tích, một tơn giáo nhỏ ở Ấn Độ.
Đạo Phật truyền bá ra ngồi biên giới Ấn Độ từ rất sớm, ở thế kỷ III
trước Cơng ngun dưới sự chỉ đạo của vua Ấn là Asoka, nhiều tăng đồn
đã đi ra nước ngồi truyền bá Phật giáo. Về phía nam, Phật giáo truyền
đến các nước Srilânghiên cứu, Mianma, Thái Lan, Lào, Cămpuchia,
Inđơnêxia. Người ta gọi là Phật giáo Nam Tơng và đặc trưng của nó là
theo dòng Tiểu Thừa. Về phía Bắc, Phật giáo truyền đến Nêpan, các nước
Trung Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Người ta gọi đó
là Phật giáo Bắc Tơng và đặc trưng của nó là theo dòng Đại Thừa. Cũng
về phía Bắc, phái Kim Cang Thừa lưu truyền ở Tây Tạng, Mơng cổ,
Xibia. Khác với gốc của nó là Ấn Độ, Phật giáo ở các nước trên ngày
càng phát triển và đã trở thành quốc giáo ở một số nước.
Đạo Phật truyền vào Trung Quốc khoảng đầu thế kỷ I sau Cơng
ngun và qua con đường “tơ lụa” xun Trung Á. Các nhà sư Ấn Độ và
Trung á theo chân các đồn người bn bán đi đến Trung Quốc truyền
đạo. Dòng đạo truyền vào Trung Quốc là dòng Đại Thừa. Các tơng phái
Phật giáo Ấn Độ như Mật Tơng, Tịnh độ Tơng, v.v… đều dược người
Trung Quốc các thời chấp nhận và lưu truyền. Song phát triển ở Trung
Quốc là các Tơng phái ít nhiều được người Trung Quốc gia cơng xây
dựng, đó là Phsản phẩm Tướng Tơng (Duy Thức Tơng), Thiên Thai Tơng,
Hoa Nghiêm Tơng và đặc biệt là Thiền Tơng, Phép thiền định trong thiền
tơng vốn có từ Ấn Độ, nhưng Thiền Tơng với một hệ thống giáo lý của nó
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

3
lại là sản phẩm riêng của Trung Quốc. Về sau ở Trung Quốc nói đến Phật
là nói đến Thiền.
Phật giáo tuy trải qua nhiều giai đoạn phát triển, có nhiều tơng phái
khác nhau và lưu hành ở nhiều quốc gia khác nhau ở châu Á, nhưng nó
vẫn là nó. Bởi vì ở nó có những chủ trương và quan điểm cơ bản mà bất
cứ tơng phái nào, bất cứ quốc gia nào cũng đều phải dựa vào để truyền bá.
Quan niệm về thế giới, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh, bao
gồm cả vũ trụ, trời đất và con người, tuy lớn nhỏ khác nhau, chủng loại
khác nhau, nhưng đều là một, đều ln vận động và biến đổi, ở đó khơng
có điểm bắt đầu (vơ thuỷ), cũng khơng có điểm kết thúc (vơ chung), ở đó
biến đổi xảy ra nhanh như trong chớp mắt (sát na), nên khơng có gì là
thường còn, là cố định, là có thể gọi nó là nó, vì nó có đó nhưng rồi
khơng có, còn đó nhưng rồi mất đó (vơ thường). Con người cũng vậy, ở
trong dòng chảy khơng ngừng, nên khơng có cái gì gọi là bản thân ta (vơ
ngã). Mặt khác, biến đổi đó khơng phải là do bên ngồi đưa tới, mà là do
bên trong, do sự vận động tự thân, do lẽ nhân dun bên trong tác động,
và luật nhân quả nội tại quy định, ở đó với bất cứ một vật nào ở vào một
giai đoạn nào của q trình, cũng đều là kết quả của giai đoạn trước là
ngun nhân của giai đoạn sau (nghiệp). Biến đổi đó còn diễn ra trong các
nơi gọi là cõi phàm và siêu phàm mà sự chuyển từ cõi này sang cõi khác
như vòng bánh xe quay mãi khơng thơi (ln hồi) v.v…
Quan niệm về nhân sinh. Đạo Phật cho đời người là khổ, nỗi khổ ở
mỗi người là đầy nước mắt, ở nhân loại là biến nước mắt; “nước mắt
chúng sinh còn nhiều hơn nước các đại dương cộng lại”. Khổ đó khơng
phải là do sản phẩm bức giai cấp, sản phẩm bức dân tộc mà ra, mà là do
có bản thân con người. Khổ đó là do con người có sinh thì có già, bệnh và
chết, do mong muốn mà khơng được, do thương u mà phải xa lìa nhau,
do ghét nhau mà phải ở gần nhau, do ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
che lấp trí tuệ (khổ đế), do tích tập thói xấu và dục vọng (tập đế), do sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

4
thay đổi, do ở trong vòng ln hồi. Muốn thốt khổ thì phải tu luyện, phải
trừ bỏ dục vọng (diệt đế), phải từ bi, nhẫn nhục, hỷ xả (vui vẻ hy sinh
thân mình), phải nhận thức được tâm Phật, phải theo tâm con đường đúng,
v.v… (đạo đế). Và mục đích của tu luyện là giải thốt, là thốt ra khỏi
vòng ln hồi sinh tử, là đạt tới một mục tiêu lý tưởng mà mỗi một tơng
phái Phật giáo có một cách nói riêng. Với Phật giáo nói chung là lên tới
cõi Niết Bàn, nơi tịch diệt, nơi khơng còn biến hố, khơng còn sướng vui
cũng như khổ đau; với Tịnh Độ Tơng là về được nước Phật, là sang tới
Tây Phương cực lạc, hoặc Tịnh Thổ, với Thiền Tơng là nhận thức được
tâm là Phật , v.v…
Thế giới quan và nhân sinh quan trên của Phật giáo đối với người
Việt đầu thời Bắc Thuộc, lúc còn đang tin ở sức mạnh của ơng Trời, tin ở
quyền năng của thần núi, thần sơng, v.v… còn đang trong xã hội ngun
sơ và khép kín, thì đó là một hiện tượng xa lạ. Thế giới quan nhân sinh
quan đó lại được truyền vào bởi các nhà sư Ấn Độ và Trung Á, những
người có hình thể và vóc dáng khác người mình, thì sự xa lạ đó lại càng
tăng lên gấp bội. Thế nhưng Phật giáo vẫn có thể làm quen và xâm nhập
đất Việt. Lý do đầu tiên của sự kiện đó khơng phải là sự un thâm trong
giáo lý nhà Phật, mà là những hành vi của người truyền đạo. Các nhà sư
nước ngồi bằng thái độ từ bi, nhẫn nhục, khơng nề hà trong việc cưu
mang người, thành thật cứu vớt người, dùng thuốc trị bệnh cho người ốm
đau (các nhà sư lúc bấy giờ thường là thầy thuốc), v.v, đã tác động và
cảm hố được người Việt, rồi từ đó dắt dẫn họ vào làm quen với nội dung
giáo lý. Người việt chấp nhận giáo lý Phật là ở bước sau. Và đến lượt
mình, giáo lý phát huy tác dụng. Ở đây, trong bước này, chính sự un
thâm của giáo lý mới là điều kiện làm cho Phật giáo tồn tại lâu dài ở Việt
Nam.
Chùa chiến sau này mọc khắp nơng thơn, đồng bằng, trung du, đồi
núi đất Việt, và những tín đồ thành kính lâu đời là những người nơng dân
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

5
chất phác. Những địa bàn và những người đầu tiên tiếp thu Phật giáo ở
Việt Nam lại khơng phải là những nơi ấy và những con người ấy, mà là đơ
thị và những con người bn bán. Chính đơ thị mới là nơi diễn ra sự tiếp
xúc, nơi nhà sư các phương trời theo chân các nhà bn đến tìm hiểu và
truyền đạo. Ở Việt Nam lúc bấy giờ là Luy Lâu, trị sở đồng thời là nơi đơ
hội của đế quốc phong kiến Hán ở Giao Châu. Chính các nhà bn bán xứ
do nghề nghiệp của mình, mới có điều kiện tiếp xúc với người phương xa,
mới dễ chấp nhận những điều xa lạ với mình. Điều này ít nhiều có thể
thấy được qua câu chuyện dã sử có tính chất dân gian lưu truyền qua các
đời. Đó là chuyện Nhất dạ Trạch (Đầm Nhất Dạ). Chuyện kể rằng vào
thời Hùng Vương, vợ chồng Tiên Dung, Chử Đồng Tử mở qn chợ, lập
phố xá, và Tiên Dung khun Chử Đồng Tử đi theo một người bn nước
ngồi đến một đảo ngồi biển, Chử Đồng Tử được nhà sư trên đảo truyền
đạo cho.
Ngồi ra, tiếp thụ Phật giáo đầu tiên là nhà bn, nhưng hiểu được
đầy đủ Phật giáo lại là người trí thức. Chính người trí thức Việt Nam
đương thời là người nắm được cả phần lễ nghi và phần tư tưởng của Phật
giáo. Bởi vì Phật giáo, ngồi lễ nghi ra, còn là một hệ thống quan điểm lý
luận mà chỉ người có kiến thức mới hiểu được. Người trí thức đương thời
là người Hán học. Biết chữ Hán họ mới đọc được kinh, kệ dịch ra Hán
Văn, và nhờ chữ Hán họ mới có điều kiện học chữ Phạn (Sankrit) để đọc
các sách kinh, luật, luận bằng ngun bản, để hiểu được Phật giáo từ gốc
của nó.
Việt Nam giáp với Biển Đơng, nằm trên con đường thuỷ thơng
thương giữa đồng và tây, giữa bắc và nam, là khu trung độ giữa hai nền
văm minh lớn: Ấn Độ và Trung Hoa. Việt Nam lại là địa đầu phía nam
của đế quốc phong kiến Hán lúc bấy giờ, là nơi xuất phát đi về phía nam
của nhiều đồn sứ giả, của nhiều nhà bn Trung Hoa. Vị trí thuận lợi đó
khiến nó có thể du nhập Phật giáo sớm. Điều này cộng với một vài tư liệu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
gián tiếp đã khiến Nguyễn Lang cho rằng: “Trung tâm Phật giáo Luy Lâu
(Việt Nam - TNN) được thành lập sớm hơn các trung tâm Lạc Dương và
Bành Thành (Trung Quốc- NTT) và như thế là đã được hình thành vào
thượng bán thế kỷ thứ nhất của Tây Lịch”. Minh Chi, cũng cho rằng “Việt
Nam ngay từ thời rất xưa đã được các cao tăng Ấn Độ đến truyền giáo
trực tiếp và thời điểm đó có thể là xưa hơn thời điểm Phật giáo vào miền
Nam Trung Hoa khá nhiều”. Nhưng chứng cứ xác thực ghi trong chính sử
thì thời điểm đó muộn hơn.
Truyện “Sĩ Nhiếp” trong Tam quốc chí ghi, mỗi khi Sĩ Nhiếp ra vào
thì: “Uy nghi đủ hết, đánh chng khánh, thổi kèn sáo, xe ngựa đầy
đường, người Hồ (chỉ người Ấn Độ và người Trung Á. Ở đây chỉ các nhà
sư người Ấn Độ hoặc Trung Á - NTT) theo hai bên xe thắp hương, thường
có đến mấy chục”. Truyện nhà sư Thơng Biện trong thiền uyển tập anh
ghi nhà sư này trả lời câu hỏi của Phù Cảm Linh Nhân hồng thái hậu thời
Trần về Phật giáo vào nước ta, nói: “Hai tơng phái (Giáo Tơng và
thiềnTơng) đến nước ta đã lâu. [Giáo tơng] thì bắt đầu từ Mâu Bác,
Khương Tăng Hội” . Các nhân vật Sĩ Nhiếp, mâu Bắc, Khương Tăng Hội
đều là người cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III. Như vậy Phật giáo xuất hiện ở
nước ta được ghi rõ ràng trong sử sách là vào cuối thế kỷ II sau Cơng
ngun.
Cơng lao đầu tiên tỏng việc truyền bá Phật giáo vào Việt Nam là
thuộc các nhà sư Ấn Độ, Trung Á và Trung Quốc. Các nhà sư Ấn Độ
Trung Á thì theo thuyền bn xun đại dương đến. Các nhà sư Trung
Quốc thì đi đến bằng đường bộ hoặc đường biển và thực hiện việc giao
lưu trong lãnh thổ của đế quốc phong kiến Hán. Nhưng trong thực tế cũng
có sự đóng góp nhiều mặt của các nhà sư Việt Nam. Trong đó có người
giữ vai trò cầu nối giữa Phật giáo Nam Á và Phật giáo Trung Hoa, như
nhà sư Vận Kỳ đã đem bản dịch Kinh A Hàm do hai nhà sư Trí Hiền
(người Ba Lăng) và nhà sư Hội Ninh (Trung Quốc) cùng dịch ở đất Ba
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
Lăng, Nam Hải, về dâng cho vua Đường ở Trường An. Có người đạo hạnh
nổi tiếng cả Việt Nam và Trung Hoa như nhà sư Thích Tuệ Thắng. Ơng
trụ trì chùa Tiên Châu Sơn (thuộc tỉnh Hà Bắc, Việt Nam ngày nay) sau
thái thú Nam Hải là Lưu Hội mời về trụ trì chùa U Thê, (Trung Quốc).
Nhà sư “Thường che dấu tài năng, hiện ra như người ngu. Người ở lâu
đều coi trọng, kẻ tu hành đều tơn kính ca ngợi”. Có người thơng thạo
Phạn ngữ và kinh điển, góp phần chú giải ngay trên đất nước của Phật,
như Thiền Sư Đại Thặng Đăng lúc ở Đơng Ấn Độ “học thơng Phạn ngữ,
giải luận Dun sinh (Nidanasastra) và các kinh điển khác”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
II. PHẬT GIÁO HUẾ.
1. Sự truyền bá Phật giáo vào Huế.
Phật giáo có mặt trên đất Huế vào đời vua Trần Nhân Tơng. Vào lúc
đó, ở vùng Trung Nam Bộ là đất của người Chăm. Để giữ vững hồ khí
của nước ta và nưcớ Chăm, tránh cảnh chiến tranh, vua Trần Nhân Tơng
đã gả cơng chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân. Vua Chế Mân đã cắt hai
châu Ơ và lý làm q cưới cho cơng chúa Huyền Trân. Như vậy hai châu
Ơ và Lý là thuộc sở hữu của nhà Trần. Khi đó, nhu cầu đi khai khẩn đất,
mở rộng phạm vi ảnh hưởng của văn hố Việt đến hai châu này là rất cần
thiết. Và người đi đến hai châu này chính là những người dân đi làm kinh
tế mới. Họ đến đâu thì họ mang những tín ngưỡng, tơn giáo, văn hố
phong tục của họ tới đó.
Mặt khác, dưới đời Lý, Trần, Phật giáo là quốc giáo do đó những
người dân này đi tới dâu, thì họ mang theo trong mình những gì gần với
tâm, thức Phật giáo tới đó. Bên cạnh đó khi họ đi tới hai châu này thì
những người thầy của họ cũng đi theo và vì Tăng xuất hiện đầu tiên tại
Thuận Hố đời Trần là Điều Ngự Giác. Hồng Tử là Trần Nhân Tơng, sau
đó điều thêm các vị tăng khác vào để làm chỗ dựa về mặt tâm linh cho
quần chúng.
2. Đặc điểm của Phật giáo Huế:
Như vậy Phật giáo được truyền bá vào Huế từ đời Vua Trần Nhân
Tơng. Do đó Phật giáo Huế mang những đặc điểm của Phật giáo đời Trần
bên cạnh những đặc điểm cảu Phật giáo Việt Nam nói chung.
2.1. Đặc điểm nổi bật của Phật giáo đời Trần chính là tư tưởng của
Trần Nhân Tơng và thiền phái Trúc Lâm.
-1299 vua Trần Nhân Tơng xuất gia tại chùa Hoa n núi n Tử,
là Trúc Lâm, Đầu Đà được nhận là người truyền thừa chính thức của phái
n Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ nổi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
tiếng của phái n Tử. Thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân
gian, một ơng vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Ngun. Một
ơng vua đã đem hồ bình thịnh trị về cho nhân dân, một ơng vua như thế
đi xuất gia sẽ gây nên một tiếng vang lớn và khiến mọi người tỏng nước
hướng về ngọn núi n Tử. Vì vậy đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên
kết tồn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Phong trào
Phật giáo nhập thế gọi là Trúc Lâm n Tử được hưng thịnh cho đến giữa
thế kỷ 14. Sau đó phong trào yếu dần. Từ đây thiếu sự nâng đỡ của những
ơng vua Phật tử.
Tháng 3 năm 1301, Trần Nhân Tơng đi Chiêm Thành để quan sát
Phật giáo tại đây. Vua đi với tư cách là một du tăng, có một số tăng sĩ tuỳ
tùng. Vua đã lưu lại đây cho đến tháng 11 mới về. Chế Mân đã tiếp xúc
với một vị du tăng Việt Nam, một người có thế lực rất lớn của nước Việt
Nam. Vua Trần Nhân Tơng hứa sẽ gả cơng chúa cho vua Chăm. Vì mục
đích xây dựng tình hồ hảo giữa hai nước. Hai châu, Ơ, Lý là sính lễ của
vua Chăm. Vào năm 1307 được đổitên là Thuận và Hố…
+ Giáo lý của Phật giáo đời Trần của thiền phái Trúc Lâm chủ
chương đình chỉ phiền não tứơc tiên, phù hợp với truyền thống “ngũ đình
tâm qn” của thiền học ngun thuỷ.
+ Trúc Lâm rất ý thức về tính cách vơ thường của cuộc sống và thảo
thức thực hiện sự giải thốt đạt đạo theo Trúc lâm phải được thực ngay
trong hiến này. Thân mạng và cuộc đời là vơ thường đời người như một
mùa xn sẽ qua.
+Trong lời mở đầu của Trúc Lâm ta thấy vua nói đến thể tính giác
ngộ. Có sẵn nơi mọi người và đến ngun tắc tự tính giác ngộ ấy bằng
phương pháp khơng truy tầm tức là khơng đối tượng hố tư tính giác ngộ
ấy để chạy theo đuổi bắt (có ý đi tìm đạo thì khơng bao giờ thấy đạo).
Đây là những điều mà Trúc Lâm tâm đắc từ Tuệ Trang thương sỹ. Cuối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
bài phú “Cư Trần lạc Đạo”. Trúc Lâm nhắc lại ngun tắc khơng truy tầm
này.
“Cư Trần lạc đạo thả tuỳ dun
Cư tắc san hề khơn tất miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vơ tâm, mạc vẫn thiền”.
Dịch
“Cư Trần lạc đạo hãy thả tuỳ dun
Hễ đói thì ăn, mệt thì nghỉ
Châu báu đầy nhà đừng chạy kiếm
Vơ tâm đối cảnh hỏi chi thiền”.
Bí quyết của Trúc Lâm là làm cho tâm hồn khơng vướng bận nghĩa
là khơng bị ràng buộc bởi thành bại và bởi sự dồn chứa kiến thức đạt tới
tâm trạng tự do ấy, là đạt tới sự an ẩn thật sự. Cõi cực lạc khơng cần phải
đi tìm ở tận Tây phương mà chỉ cần tìm ở sự gạn lọc tự tâm. Chính ngay
trên chỗ đứng này mà ta phải thực hiện, tính rạng rỡ của tâm bởi vì tự tính
ấy, khơng khác gì với đức phật A Di đà trong bài phú chữ Nơm “Cư Trần
lạc Đạo”…
2.2. Phật giáo Huế còn có ảnh hưởng bởi thiền phái Vơ Ngơn
Thơng.
-Thiền phái này chấp nhận lời giải thích của thiền phái Nam Tơng
bên Trung Hoa về lịch sử của thiền học. Theo giải thích này, tâm truyền
của ngũ Tổ Hồng Nhân đã được trao truyền cho lục tổ Huệ Năng, còn
thiền sư Thần Tú ở Bắc Tống khơng đại diện được cho truyền thống thiền
học Bồ Đề Đạt Ma…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
-Thiền phái Vơ Ngơn Thơng nhấn mạnh thuyết đốn ngộ, chủ trương
con người có thể trong một giây lát đạt được quả vị giác ngộ, khỏi cần đi
qua nhiều giai đoạn tiệm tiến.
-Thuyết đốn ngộ được căn cứ trên quan niệm tâm địa mà vơ ngơn
thơng nhắc tới Chữ địa ở đây có nghĩa là đất. Kinh “Tâm địa Qn” nói:
“Các pháp thiện, ác, ngũ thú hữu học, vơ học, độc giác, bồ tát và Như lai
đều từ nơi tâm sinh khởi, cũng như các loại ngũ cốc và ngũ quả từ đất
mọc lên, cho nên nói là tâm địa”. Tâm địa là bản ngun của vạn pháp thì
một khi khai thơng được tâm địa, trí tuệ giác ngộ tự nhiên giác ngộ, tự
nhiên xuất hiện. Đó là ý của Bách Trượng trong câu nói “tâm địa nhược
thơng, tuệ nhật tự chiếu”. Vơ ngơn Thơng trước khi tịch đã nhắc lại lời
của thiền sư Nam Nhạc (677 - 744) cho Cảm thành nghe: “Tất cả các pháp
từ tâm sinh, nếu tâm khơng sinh thì làm sao pháp đứng vững được.
Nếu đạt được tâm địa thì hồn tồn tự do. Đó là căn bản lời tun
bố “tức tâm tức phật”. Nếu đạt ngộ thì tâm là Phật, Pháp là Phật, tất cả
những gì từ tâm địa phát sinh đều là Phật, còn nếu khơng đạt ngộ thì tức
là ngoảnh lưng lại với tất cả mọi thực tại giác ngộ. Sự giác ngộ bản tâm là
căn bản của mọi biến cải. Từ thế kỷ thứ ba Tăng Hội đã nêu lên tính cách
thiết yếu của Tâm học và của sự giác ngộ tự - tâm như đường lối duy nhất
để chứng đạo. Để thực hiện sự chứng ngộ này. Phái Ngơ Ngơn Thơng
nhấn mạnh đến ngun tắc “vơ đắc”.
-“Vơ đắc” cũng là phương pháp thiền qn trong đó người hành giả
khơng chạy theo một đối tượng gọi là sự giác ngộ. Ở đây thiền qn,
khơng có người trao truyền và kẻ được trao truyền. Ở đây cũng khơng có
chủ thể thiền qn và đối tượng thiền qn. Chủ thể và đối tượng là một
giác ngộ cũng giống như một khả năng chiếu rọi sẵn có trong một bức
gương, khơng cần phải đi tìm ngồi tự tâm mình. Nếu có sự tìm đuổi tức
là còn bị giam hãm trong thế giới nhị ngun. Bản chất của giác ngộ là
khơng có cá tính độc lập (khơng), khơng có hình thể để nhận biết (vơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
tướng), khơng thể theo đuổi và nắm bắt (vơ tác), “khơng”, “vơ tướng” và
“vơ tác” được gọi là ba cánh cửa giải thốt trong đạo Phật. (tam giải thốt
mơn).
2.3. Phật giáo Huế có đặc điểm của tịnh độ giáo.
-Tịnh độ giáo chủ trương niệm Phật để đạt vãng sanh vào nước Cực
lạc của Phật A Di Đà.
-Sách “Thiền uyển tập Anh”, ngồi việc nhắc đến tượng đồng A Di
Đà được Khơng Lộ thực hiện, cần có nói đến thiền sư Tịnh Lực như một
người đã đắc được pháp “niệm Phật mà hồn thành được thiền định”.
Ơng dạy đệ tử là “khơng nên cầu sự chứng ngộ bên ngồi” và nếu muốn
diệt trừ các ác nghiệp thì nên áp dụng phương pháp niệm tụng bằng cả
tâm lẫn miệng”.
2.4. Phật giáo Huế có chịu ảnh hưởng của thiền phái Tỳ Ni Đa lưu
Chi:
-Thiền phái này bắt nguồn từ tư tưởng Bát Nhã, Tam Luận và Hoa
Nghiêm, có khuynh hướng thiên về mật giáo theo tinh thần bất lập văn tự
nhưng vẫn chú trọng sự nghiên cứu kinh luận, chủ trương thực tại siêu
việt khơng hữu, chú trọng việc truyền thụ tâm ấn, có khuynh hướng nhập
thế giúp dân và biết sử dụng các thuật phong thủy sấm vĩ. Thiền phái Tỳ
Ni Đa lưu chi hầu như chỉ chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ mà ít chịu
ảnh hưởng Trung Hoa. Đây là một thiền phái rất có tính cách dân tộc Việt
Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo vừa biểu
lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ.
2.5. Phật giáo Huế chịu ảnh hưởng của mật giáo.
-Mật giáo là giai đoạn phát triển thứ ba của tư tưởng Phật giáo đại
thừa ở Ấn Độ (giai đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ hai là Duy
Thức).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
-Mật giáo bắt nguồn từ tư tưởng thâm sâu của Bát Nhã, đồng thời
cũng bắt đầu từ những tín ngưỡng dân gian Ấn Độ. Về phương diện này,
Mật giáo chấp nhận sự có mặt của những thần linh được thờ phụng trong
dân gian, và như thế khiến cho đạo Phật phát triển rộng trong sinh hoạt
quần chúng, khuynh hướng này rất phù hợp với sinh hoạt tín ngưỡng và
phong tục của người dân, vì vậy Mật giáo đã trở nên một yếu tố khá quan
trọng trong sinh hoạt thiền mơn.
-Đứng về phía phương diện tư tưởng, Mật giáo là một phản ứng đối
với khuynh hướng q thiên trong tri thức và nghiên cứu các hệ thống Bát
Nhã và Duy Thức. Theo Mật giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những thế lực
siêu nhiên; nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể
đi rất mau trên con đường giác ngộ hành đạo, khỏi phải đi tuần tự từng
bước. Sự giác ngộ có thể thực hiện trong giây phút hiện tại. Sự sử dụng
thế lực của thần linh, sự sử dụng thần chú, ấn quyết và các hình ảnh Man
Đà La có thể hỗ trợ đắc lực cho thiền quan hành đạo.
2.6. Phật giáo Huế chịu ảnh hưởng của Phái Thảo Đường:
-Có khuynh hướng thiên trọng trí thức và văn chương, thiền phái
Thảo Đường khơng cắm rẽ sâu được trong quần chúng và ảnh hưởng chủ
yếu đến một số trí thức có khuynh hướng văn học. Thiền phái này có ảnh
hưởng về mặt học tập rất lớn.
3. Ảnh hưởng của Phật giáo đến con người Huế.
-Tư tưởng thiền, trầm lắng, sâu thẳm, có mà như khơng, khơng mà
như có đã thấm vào trong xương, trong tuỷ của người Huế cho nên, nó đã
tạo ra cái đức tính điềm tĩnh, cái sâu lắng, trầm tư của người Huế. Tinh
thần thiền học của Phật giáo đã gạn lọc và khiến cho Huế biết gạn lọc rất
kĩ khi tiếp nhận những cái từ bên ngồi.
-Tịnh độ cũng ảnh hưởng đến con người Huế. Tịnh độ khơng phải là
niệm Phật để cầu sinh về cảnh giới của đức Phật A Di Đà mà ý nghĩa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét