Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

341 Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu


5
Bảng 2.32: Bảng so sánh giá bán FOB giữa sản phẩm Bát Tràng và Thái Lan…
Bảng 2.33: Bảng so sánh một số yếu tố sản xuất chính giữa Việt Nam – Trung
Quốc – Tháilan – Malaysia ………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.34: Các phương thức tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp sản xuất –
kinh doanh gốm mỹ nghệ ……………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.35: Mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.36: Kết quả hồi quy đối với mô hình lý thuyết bằng phương pháp Enter…
Bảng 2.37: Chỉ tiêu tổng hợp của mô hình hồi quy (b)……………………………………………………
Bảng 2.38: Bảng phân tích kết quả hồi quy ( a)……………………………………………………….……….
Bảng 2.39: Giá trò trung bình của các biến đònh lượng trong hàm hồi quy………………
Bảng 2.40: Cơ cấu các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu……………………….……………
Bảng 2.41: Công nghệ sản xuất ………………………………………………………………………………….……………
Bảng 3.1: Những điều nhà nhập khẩu kỳ vọng từ đó khuyến khích nhà nhập
khẩu tiếp tục nhập khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong tương lai………………………………
Bảng 3.2: Những nguồn thông tin quảng bá giúp khách hàng biết đến và quyết
đònh mua gốm mỹ nghệ của Việt Nam …………………………………………………………………………………
114

115

120

124
125
126
126
130
130
131

136

155











6
LỜI MỞ ĐẦU
1 – Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Gốm mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng đặc biệt phản ánh văn hóa truyền
thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Gốm mỹ nghệ Việt Nam đã được thò trường
nước ngoài ưa chuộng, điều đó phản ánh qua kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
cao từ 22,4 triệu USD kim ngạch xuất khẩu năm 1995 đã tăng liên tục và đạt mức
147,5 triệu USD vào năm 2004. Thò trường xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ cũng
không ngừng được mở rộng từ chỗ chỉ xuất khẩu theo Nghò đònh thư vào các thò
trường Xã hội Chủ nghóa trong thời kỳ bao cấp, ngày nay gốm mỹ nghệ Việt Nam
đã xuất hiện tại hầu hết các thò trường lớn có yêu cầu cao, như: Hoa Kỳ, Châu Âu,
Nhật Bản, các nước Trung Đông và Bắc Mỹ vv. Nhờ sự phát triển tích cực này đã
thu hút đầu tư mở rộng sản xuất một cách mạnh mẽ tại các vùng sản xuất lớn như tại
Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vónh Long vv, và đã tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu gốm mỹ nghệ còn có ý nghóa quan
trọng là quảng bá văn hoá truyền thống của Việt Nam trên trường quốc tế và là cầu
nối giao lưu văn hoá với các dân tộc khác trên thế giới, giúp Việt Nam nhanh chóng
hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, ngành gốm Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại được sản xuất bởi các đối thủ cạnh tranh lớn, như: Trung Quốc, là nước có
kỹ thuật sản xuất cao và thương hiệu đã được khẳng đònh, Thái lan, Malaysia,
Indonesia …vv , là những quốc gia cũng có ngành sản xuất gốm phát triển, đã thâm
nhập và thiết lập được mối quan hệ thương mại rộng tại các thò trường lớn như Châu
Âu, Hoa Kỳ trước chúng ta khá lâu. Vì vậy, sự phát triển của ngành gốm mỹ nghệ
Việt Nam tuy phát triển mạnh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất
nước và sự phát triển hiện nay cũng chưa bền vững do những yếu tố bất cập trong
nội bộ ngành, hơn nữa chúng ta cũng chưa tạo ra được một dòng gốm mang đậm nét
văn hoá Việt Nam để có thể khẳng đònh một thế đứng vững chắc trên thò trường. Là

7
một người có thời gian lâu dài gắn bó với lónh vực sản xuất, kinh doanh xuất khẩu
gốm mỹ nghệ, tác giả nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do khả
năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trên
thò trường xuất khẩu. Do đó, với hoài bão ứng dụng những kiến thức đã tiếp thu từ
nhà trường và những kinh nghiệm, hiểu biết quý giá đúc kết từ thực tiễn công tác
liên tục hơn 20 năm điều hành sản xuất, kinh doanh xuất khẩu gốm mỹ nghệ, để xây
dựng và đề xuất những giải pháp cấp thiết góp phần làm gia tăng khả năng cạnh
tranh cho ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu khả
năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu” làm
đề tài nghiên cứu cho luận án tiến só của mình.
2 – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu :
Trên thực tế căn cứ theo công năng và những đặc tính lý hoá, có nhiều loại
sản phẩm gốm và sứ khác nhau, nhưng nhận thấy gốm mỹ nghệ là ngành hàng có
tiềm năng, lợi ích xuất khẩu cao của Việt Nam nên luận án chỉ nghiên cứu về gốm
mỹ nghệ. Trên 3 cấp độ cạnh tranh là khả năng cạnh tranh quốc gia, khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Luận án nghiên cứu ở
cấp độ khả năng cạnh tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệViệt Nam.
Phạm vi nghiên cứu :
- Về không gian: Luận án không nghiên cứu tản mạn tại những đòa phương,
những làng nghề sản xuất gốm nhỏ lẻ rải rác nhiều nơi, mà chỉ tập trung nghiên cứu
thực đòa tại những vùng sản xuất chủ lực của Việt Nam, như: Bát Tràng, Bình
Dương, Đồng Nai, Vónh Long, vì ngành sản xuất gốm mỹ nghệ tại những đòa phương
này đã đóng góp tới hơn 95% kim ngạch xuất khẩu gốm của cả nước.
Song song với việc nghiên cứu sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ trong nước,
để có thể đònh vò được khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam, luận
án còn nghiên cứu và so sánh với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu tại nước ngoài,

8
như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, chứ không so sánh với tất cả các quốc gia
khác trên thế giới cũng có ngành sản xuất gốm mỹ nghệ phát triển.
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất – kinh doanh
xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong vòng 5 năm gần đây, kể từ năm 1999 đến
hết năm 2004.
3 – Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng và phạm vi đề tài, mục đích nghiên cứu của luận án bao
gồm :
* Hệ thống lại những học thuyết về cạnh tranh nhằm xác đònh sự cần thiết phải
nâng cao khả năng cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ
nghệ của một số quốc gia, như : Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia nhằm rút ra những
bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ Việt Nam để khẳng
đònh sự cấp thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.
* Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh và tác động của các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.
* Đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện hiện tại nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
4 – Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu các số liệu thứ cấp từ các tài liệu, như: niên
giám thống kê, số liệu thống kê từ Bộ Thương mại, từ các đòa phương, thông tin trên
internet, và các số liệu thông tin sơ cấp…vv. Tác giả đã vận dụng hệ thống các
phương pháp phân tích đònh tính kết hợp với đònh lượng và các phương pháp duy vật
biện chứng, logic hình thức, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp
khảo sát điều tra thực đòa, phương pháp chuyên gia để thu thập thông tin và phân
tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt
Nam.

9
Vì số liệu thứ cấp liên quan đến ngành gốm mỹ nghệ rất hạn chế, do đó để
thu thập thêm thông tin thực hiện nghiên cứu của mình, đích thân tác giả đã thực
hiện 3 cuộc khảo sát thực đòa một cách công phu ở trong và ngoài nước như sau:
1- Khảo sát tại Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia: Nhằm mục đích so sánh
khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam với các đối thủ chủ yếu và nghiên
cứu các kinh nghiệm của họ, tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát tại các công ty, xí
nghiệp sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ ở 3 quốc gia (phụ lục số 2), trong đó khảo
sát 12 đơn vò các tỉnh Quảng Châu, Phật Sơn, Triều Châu, Thẩm Quyến của Trung
Quốc; khảo sát 6 đơn vò tại các tỉnh Chonbury, Chan Lopburi, Lampang, Bangkok
của Thái Lan và 4 đơn vò tại tỉnh Ipoh – miền Bắc Malaysia.
2- Khảo sát tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh gốm mỹ nghệ trong nước:
Nhằm thu thập những số liệu, thông tin để có thể đánh giá khả năng cạnh tranh của
ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam hiện nay, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học
bằng bảng câu hỏi đối với 115 cơ sở sản xuất gốm mỹ nghệ trong nước (phụ lục số 3
và 4) tại các vùng sản xuất chủ lực là Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vónh
Long.
3- Khảo sát tại các thò trường xuất khẩu: Để đònh vò khả năng cạnh tranh của
gốm mỹ nghệ Việt Nam so với các đối thủ ngay tại thò trường xuất khẩu, tác giả đã
tiến hành trực tiếp thu thập đánh giá của hơn 112 nhà nhập khẩu trong các đợt tham
gia Hội chợ Thương mại tại Chicago, Frankfurt, Cologn, HongKong, Melbourn,
Birmingham, Tokyo, Osaka… và trong các cuộc đàm đàm phán trực tiếp với khách
hàng tại trong và ngoài nước. (phụ lục số 5 và 6)
5 – Những đóng góp khoa học mới của luận án

Cho đến nay, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề phát triển xuất khẩu gốm mỹ nghệ như sau :
1 - Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ : “Những giải pháp đẩy mạnh
xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam” do PGS. TS. Đòan Thò Hồng Vân làm chủ

10
nhiệm. Trong đó, trọng tâm nghiên cứu phân tích thực trạng sản xuất - xuất khẩu
gốm mỹ nghệ Việt Nam và xác đònh những nguyên nhân cơ bản kìm hãm tiềm năng
xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam từ đó đề ra những giải pháp nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu trong thời gian sắp tới.
2 – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh : “Nghiên cứu xây dựng chiến lược,
đề xuất giải pháp thực hiện chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Vónh
Long đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” do GS. TS. Võ Thanh Thu làm
chủ nhiệm đề tài, trong đó đã nghiên cứu và xây dựng các chiến lược nâng cao khả
năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ của tỉnh Vónh Long trong một loạt
chiến lược tổng thể nâng cao khả năng cạnh tranh các lực lượng kinh tế của tỉnh
Vónh Long đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
3 – Đề án Phát triển ngành gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vónh Long từ năm
2004 đến năm 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Vónh Long nghiên cứu. Nội dung chủ
yếu nghiên cứu những đặc điểm cụ thể về ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long, phân
tích các điểm yếu, điểm mạnh, thách thức để đề xuất những biện pháp phát triển
ngành gốm mỹ nghệ của riêng Tỉnh Vónh Long.
4 - Báo cáo Quy hoạch phát triển ngành gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng nai giai
đoạn 2001 – 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Đồng Nai soạn thảo. Báo cáo tập trung
phân tích sâu về những khó khăn và sự cạnh tranh ngành sẽ gặp phải trong tương lai
từ môi trường kinh doanh trong nước. Từ đó, xây dựng đònh hướng quy hoạch phát
triển chung cho ngành gốm đòa phương trong giai đoạn từ 2001-2010.
5 – Rất nhiều bài báo, tham luận được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
hoặc trên các tờ báo của Trung ương lẫn đòa phương liên quan phản ánh tình hình
sản xuất – xuất khẩu của ngành gốm của các đòa phương trên cả nước cũng như một
số khuynh hướng tiêu dùng mới, công nghệ mới vv
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu một số vấn đề đẩy mạnh
xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam thông qua những giải pháp tổng thể phù hợp với

11
trình độ thực tiễn của ngành gốm Việt Nam, nói chung và từng vùng sản xuất nói
riêng về công nghệ, nhân lực, vốn vv . Tuy nhiên, ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam
vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn về những thách thức
do cạnh tranh quốc tế gay gắt mà ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam đang đối phó cũng
như chưa được nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng những điểm yếu cụ thể trong sản xuất,
trong marketing xuất khẩu…vv đã làm cho khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ
Việt Nam kém hơn các đối thủ cạnh tranh.
Trên cơ sở nghiên cứu nhiều tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học và thực
tiễn để thực hiện các nội dung của đề tài đã xác đònh, có thể tóm tắt một số đóng
góp khoa học mới luận án sẽ làm phong phú hơn về lý luận và thực tiễn mở rộng thò
trường xuất khẩu qua việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ
như sau:
1 . Hệ thống các lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh,
các nhân tố ảnh hưởng… để làm rõ hơn những luận cứ khoa học về sự cần thiết phải
nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ nhằm giữ vững và mở rộng thò
trường xuất khẩu.
2 . Đánh giá được khả năng cạnh tranh và xác đònh được các nhân tố ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam.
3 . Nêu những bài học kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của các quốc
gia, như : Trung Quốc, Thailand, Malaysia, để ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam có thể
học tập nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
4 . Xây dựng những đònh hướng phát triển và những giải pháp cụ thể có tính khả
thi cao để có thể nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh, tận dụng những cơ hội
mới của hội nhập, đủ khả năng đối phó với cạnh tranh quốc tế nhằm củng cố thò
trường truyền thống và không ngừng mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm
mỹ nghệ Việt Nam.



12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
VÀ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM
_______________
Để phân tích mối quan hệ giữa khả năng cạnh tranh và tác động của nó đối
việc mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm mỹ nghệ, trước hết cần tìm hiểu
những khái niệm, những đònh nghóa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh
tranh, những yếu tố tạo nên cạnh tranh cũng như các áp lực tác động đến khả năng
cạnh tranh. Bên cạnh đó cần nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ chính các đối
thủ cạnh tranh là những nước trong khu vực và phân tích sự thiết yếu của việc nâng
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam. Từ những cơ sở
nghiên cứu trên đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm giữ
vững mở rộng thò trường xuất khẩu.
1.
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH.
1.1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ CẠNH TRANH, LI THẾ CẠNH TRANH, KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH
1.1.1 .1. Đònh nghóa về cạnh tranh
Theo đònh nghóa trong Đại Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh được đònh nghóa là
“tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần
hơn, phần thắng về mình” [45]
Theo Từ điển thuật ngữ Kinh tế học “cạnh tranh –sự đấu tranh đối lập giữa
các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên
cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được” [59]

13
Trong Đại Từ điển Kinh tế thò trường cũng đưa ra đònh nghóa: “cạnh tranh hữu
hiệu là một phương thức thích ứng với thò trường của xí nghiệp, mà mục đích là
giành được hiệu quả hoạt động thò trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm
đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và
thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vò sản xuất
cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất
trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý…” [63]
Paul Samuelson trong cuốn sách Kinh tế học về cạnh tranh cũng đònh nghóa:
“cạnh tranh đó là sự kình đòch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng
hoặc thò trường” [46]
Như vậy, từ những khái niệm “đấu tranh đối lập” hay “kình đòch” để diễn tả
mâu thuẫn đối kháng về lợi ích của các chủ thể khác nhau diễn ra trong nhiều hoàn
cảnh, nhiều thời kỳ khác nhau… và trong ngay xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, với
chủ trương biến “chiến trường thành thò trường” của các quốc gia trên thế giới, theo
tác giả: khái niệm cạnh tranh dùng để diễn tả mọi mối quan hệ tương tác mà các
chủ thể tham gia sử dụng nhằm cố gắng tìm kiếm lợi thế cho riêng mình.
1.1.1.2 . Lợi thế cạnh tranh

Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển: các yếu tố sản xuất như đất đai,
vốn, lao động, những yếu tố tài sản hữu hình là một nguồn lực quan trọng để tạo nên
lợi thế cạnh tranh. Adam Smith thì cho rằng: lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế
tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao nghóa là chi phí sản xuất
giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn
hoá sản xuất. [50]
David Ricardo cho rằng: lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế
tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào cả lợi thế tương đối tức là lợi thế so sánh và nhân
tố quyết đònh tạo nên lợi thế cạnh tranh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính
tương đối. Đối với quan điểm của Heckscher-Ohlin-Samuel thì lợi thế cạnh tranh là
do lợi thế tương đối về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động. Nhân

14
tố quyết đònh hình thành lợi thế cạnh tranh là chi phí về vốn và chi phí về lao
động.[18]
Theo Michael. E. Porter, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì
một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối
thủ cạnh tranh như: chất lượng sản phẩm dòch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật
chất, trang bò kỹ thuật.[75]
Theo tác giả : lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt hơn
so với đối thủ cạnh tranh (làm tốt hơn) hoặc làm những cái mình có mà đối thủ
không có (là những cái mà doanh nghiệp dùng để xây dựng chiến lược cạnh tranh),
nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu nhất đònh của mình.
1.1.1.3. Khả năng cạnh tranh

Theo đònh nghóa trong Đại Từ điển Tiếng Việt, khả năng cạnh tranh được
đònh nghóa là “khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa
cùng loại trên cùng một thò trường tiêu thụ” [45]
Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống thì
năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về
chi phí sản xuất và năng suất.
Quan điểm của lý thuyết tổ chức công nghiệp thì xem xét khả năng cạnh
tranh dựa vào khả năng sản xuất ra sản phẩm ở mức chi phí ngang bằng hay thấp
hơn mức chi phí bình quân của xã hội, đảm bảo đứng vững trước các đối thủ hay sản
phẩm thay thế.
Theo Michael.E. Porter thì cho rằng khả năng cạnh tranh là khả năng tạo
những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo tạo ra giá trò gia tăng cao phù hợp
với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận. [74]
Tóm lại, khả năng cạnh tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử
dụng các nguồn lực có giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực vv và các điều kiện
khách quan khác một cách có hiệu quả và sản xuất ra những sản phẩm có giá trò đặc

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét