Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần phương nam, Chi nhánh đống đa

Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
dân chủ yếu là lao động thủ công, sử dụng lao động của gia đình mình, lấy công
làm lãi.
- Đối với các hộ sản xuất trong các lĩnh vực kinh doanh khác nh: Dịch vụ, chế
biến, sản xuất công cụ nhỏ, vận chuyển nhỏ nhng nhìn chung còn hạn chế về vốn
và quy mô, công nghệ còn nhiều bất cập, trình độ quản lí cha cao, cha có định h-
ớng rõ ràng, thu nhập thấp.
1.1.3-Vai trò của kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trờng
Cùng với kinh tế cả nớc, nông nghiệp nông thôn nớc ta trải qua thời kì kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp trong suốt một thời gian dài nông nghiệp là sự độc
tôn của hai thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể với
các mô hình nông, lâm trại trạm, hợp tác xã nông nghiệp (Tập đoàn sản xuất ). ở
giai đoạn này kinh tế hộ bị xem nhẹ.
Từ năm 1986 với nghị quyết của Đại hội Đảng VI chuyển nền kinh tế từ
kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Bắt đầu từ chỉ thị
100 của Ban Bí Th đến nghị quyết 10 của Bộ chính trị năm 1988, kinh tế hộ đã dần
dần trở lại vị trí xứng đáng của nó và đợc thừa nhận là một thành phần kinh tế tự
chủ hoàn toàn bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Chính đợc thừa nhận là một chủ thể hàng hoá ở nông thôn nên kinh tế hộ đã
có dịp phát huy u điểm của mình, sử dụng triệt để những tiềm năng về đất đai lao
động.Tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh và là động lực để chuyển dịch
nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp tiểu nông, tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng
hoá đóng góp 90% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp, trong đó 97% giá trị sản
phẩm ngành chăn nuôi và rau quả với một số kết quả đáng kể nh: năm 1998 so với
năm 1985 diện tích cà phê tăng gấp 2,27 lần, diện tích cao su 1,45 lần, diện tích
chè 1,30 lần, diện tích mía 2,1 lần, đàn gia súc liên tục tăng đàn bò tăng 22 lần,
lợn tăng 47 lần
Nh vậy nền kinh tế hộ đã và đang đóng góp vai trò hết sức quan trọng trong
đời sống kinh tế xã hội nông thôn. Mô hình kinh tế hộ sản xuất không những giải
quyết đợc mâu thuẫn vốn có của bản thân nó mà còn góp phần giải quyết đợc
nhiều mặt còn hạn chế trong nền kinh tế xã hội đất nớc mà Đảng và Nhà nớc ta
đang quan tâm khắc phục.
*Sử dụng hợp lí nguồn nhân lực góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
5
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
Dân số nớc ta đông lại tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn. Ruộng đất đợc
chia cho các hộ ngày càng thu hẹp, nông dân không có điều kiện sử dụng máy
móc, thiết bị nh ở các nớc có nền kinh tế phát triển mạnh. Với diện tích đợc chia
mỗi hộ luôn sử dụng triệt để nguồn lao động của mình để canh tác, những lao
động chính khoẻ mạnh sẽ chịu trách nhiệm làm những công việc nặng nhọc, còn
những công việc cần đến sự khéo léo thì đa số là các chị em phụ nữ trong gia đình
từ việc cấy cày đến việc thu hoạch phơi khô. Nh vậy kinh tế hộ gia đình đã giải
quyết việc làm tại chỗ cho các thành viên trong gia đình.
Đối với các hộ cá thể các hộ làm nghề phụ, nghề thủ công truyền thống
Công việc cũng có thể đợc chia cho tất cả các thành viên trong gia đình cùng tham
gia, ngời có kinh nghiệm thì trực tiếp chỉ đạo dạy cho các con cháu để tiếp thu và
phát huy đợc kinh nghiệm sản xuất của gia đình.
Sự tồn tại của kinh tế hộ sản xuất có ý rất tích cực cả về kinh tế và xã hội.
Kinh tế hộ giúp giải quyết đợc việc làm tại chỗ, khiến ngời lao động yên tâm làm
việc, giải quyết các bức xúc về việc làm ở khu vực nông thôn.
* Sử dụng và khai thác hợp lí có hiệu quả quỹ đất, tài nguyên công cụ lao
động sẵn có
Do quỹ đất chia cho mỗi hộ là rất thấp, trung bình mỗi hộ chỉ đợc khoảng
5000 đến 7000 m
2
. Do đó hộ sản xuất luôn tìm mọi cách để sao cho sử dụng quỹ
đất đó một cách hiệu quả nhất, nhiều hộ sản xuất đã tích tụ vốn đầu t mua sắm
trang thiết bị máy móc để sản xuất kinh doanh dịch vụ chế biến nông sản (làm đất,
làm thuỷ lợi, say xát, chế biến nông sản ) đầu t vào chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
hải sản với quy mô lớn. Một số hộ đã trao đổi, quy hoạch ruộng đất cho liền vùng,
liền thửa tiện cho việc cang tác hoặc khai thác quỹ đất hiệu quả hơn hoặc làm
trang trại chăn nuôi trâu, bò, lợn, thả cá
Ngoài ra nhiều hộ ở vùng trung du do đó họ phát triển nghề nuôi ong lấy
mật cũng mang lại hiệu quả rất cao, hoặc trồng cây dợc liệu, trồng thảo quả, trồng
cây cảnh, làm nghề dịch vụ nh tăm tre, mây tre đan, đồ gỗ phục vụ nhu cầu đa
dạng của xã hội.
Kinh tế hộ không chỉ sử dụng khai thác hiệu quả tài nguyên, quỹ đất mà
còn tích cực trong việc bảo vệ, tôn tạo phát triển nguồn tài nguyên đó, hàng năm
có hàng ngàn ha đất hoang đợc khai thác, phục hồi đất đợc cải tạo. Rừng đợc bảo
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
6
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
vệ trồng mới, đất nông nghiệp đợc cải tạo.Kinh tế hộ còn góp phần bảo vệ phát
triển nguồn gen quý của sinh vật nớc ta.
* Hộ sản xuất có khả năng thích ứng cao với kinh tế thị trờng, góp phần thúc
đẩy phát triển hàng hoá ở nông nghiệp nông thôn
Với quy mô nhỏ không cồng kềnh nh kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể.
Kinh tế hộ linh hoạt hơn, dễ thích ứng hơn trong kinh tế thị trờng. Với môi trờng
tự do kinh doanh của kinh tế thị trờng và tự nhận biết mình khó có khả năng so
sánh với các thành phần kinh tế khác về vốn, trình độ công nghệ nên các hộ sản
xuất biết căn cứ vào điều kiện sẵn có của mình và thế mạnh sẵn có của địa phơng
và sự làm chủ về t liệu sản xuất để từ đó sắp xếp điều chỉnh cơ cấu cây trồng vật
nuôi cho phù hợp với nhu cầu của thị trờng, biến những sản phẩm của mình thành
hàng hoá có sức tiêu thụ trên thị trờng. Thế mạnh sẵn có của hộ đó là nguồn nhân
lực, đó là kinh nghiệm lao động sản xuất từ bao đời nay, đó là việc sản xuất hàng
thủ công mĩ nghệ gia truyền, đó là nguồn lợi riêng biệt từ khí hậu, chất đất để
phát triển các loại cây, con đặc sản mà các vùng miền khác không có đợc, các hộ
sản xuất cũng dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với yêu cầu thị tr-
ờng.
Nh vậy: Kinh tế hộ sản xuất đã góp phần đa dạng hoá các mặt hàng nông
sản, lâm sản, thủ công mỹ nghệ chất lợng sản phẩm ngày càng đợc nâng cao,
tạo nên những sản phẩm có nét riêng, độc đáo góp phần đa nền kinh tế sản xuất
nông nghiệp nông thôn lên nền sản xuất hàng hoá, ổn định đời sống ngời dân.
* Kinh tế hộ gia đình góp phần khôi phục và phát triển nghề truyền thống
Nét độc đáo của nông thôn Việt Nam là ở bất cứ đâu, bất cứ địa phơng nào
cũng có nghề truyền thống.Qua hai cuộc chiến tranh một số nghề truyền thống đã
bị mai một có nghề co cụm lại rồi mất hẳn, có nghề trụ lại đợc nhng phát triển sản
xuất cầm chừng, đơn lẻ. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng nghề truyền thống đ-
ợc khôi phục và phát huy, nhiều nghệ nhân đã trở lại với nghề để chỉ đảo hớng dẫn
truyền thụ lại kinh nghiệm cho lớp con cháu phát huy và sáng tạo. Với tính độc
đáo tinh tuý sản phẩm truyền thống đợc làm ra từ những bàn tay tài hoa, khéo léo
của ngời thợ thủ công nên mang lại giá trị kinh tế cao, sản xuất và đa đi tiêu thụ
không những ở trong nớc và đợc tiêu thụ trên khắp thế giới. Bản thân làng nghề đã
trở thành những điểm đến du lịch của nhiều du khách, thu hút đợc nhiều lao động,
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
7
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
tạo đợc nhiều công ăn việc làm, đời sống lao động ở các làng nghề trở nên ổn
định, kinh tế khá giả giúp những con em trong làng nghề yêu nghề truyền thống,
gắn bó quê hơng hơn. Nhờ sự hồi sinh và phát triển của những ngành nghề truyền
thống tạo ra sự phân công lại lao động trong nông nghiệp nông thôn, tăng thu nhập
cho ngời dân, duy trì bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất
1.2.1-Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời sở hữu sang
ngời sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lợng giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu.
1.2.2-Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất
Việt nam là một nớc nông nghiệp. Dân số tập trung đông và chủ yếu vào
các vùng đồng bằng trồng lúa nớc trong khi diện tích đất nông nghiệp đang dần bị
thu hẹp, hiện tại bình quân 1 lao động là 1.520m
2
. Với điều kiện thị trờng nông
lâm hải sản đang phát triển nh nớc ta hiện nay thì thu nhập do sản xuất nông
nghiệp đối với hộ sản xuất còn thấp. Canh tác trên phần đất ít ỏi đôi khi không đủ
đáp ứng nhu cầu lơng thực cho bản thân gia đình họ.
Để giúp hộ sản xuất nói riêng và ngời lao động nói chung. Nhà Nớc đã có
những chính sách hỗ trợ về vốn kịp thời đó là việc đầu t vốn trực tiếp cho hộ sản
xuất của các ngân hàng: NHNo&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội ra đời đã
đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ sản xuất, giải quyết công ăn việc làm,
tăng thêm thu nhập, ổn định đời sống, giúp cho sản xuất nông nghiệp nông thôn đi
lên sản xuất hàng hoá, thay đổi bộ mặt nông thôn.
- Tín dụng ngân hàng đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu vốn hộ sản xuất.
Để tái sản xuất mở rộng thì vốn là yếu tố quan trọng đóng vai trò tiên quyết,
đối với hộ sản xuất trớc đây vấn đề thiếu vốn ảnh hởng rất lớn đến việc áp dụng
khoa học kĩ thuật vào sản xuất, tăng quy mô sản xuất, các hộ làm kinh tế vờn đồi
trồng cây ăn quả, cây công nghiệp cần vốn để cải tạo vờn, trang trại, khai thác đất
trồng mới, có hộ cần vốn để mở rộng diện tích trang trại, có hộ cần vốn sản xuất
kinh doanh tổng hợp, vận chuyển, chế biến hàng hoá nông nghiệp, xuất khẩu ra thị
trờng nớc ngoài.
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
8
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu đó hệ thống tài chính tín dụng nông thôn, đặc biệt là
NHNo&PTNT đã đáp ứng kịp thời đầy đủ vốn phục vụ cho các hộ sản xuất nông,
lâm, ng diêm nghiệp đồng thời tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi trong dân c phục vụ nhu cầu vốn cho tín dụng nông nghiệp nông thôn.
Nh vậy trong điều kiện ngân sách cân đối vốn cho nông nghiệp nông thôn
còn hạn chế thì tín dụng Ngân hàng đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ vốn
để các hộ có điều kiện phát huy tiềm năng của mình.
- Tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy manh quá trình tận dụng, khai thác, phát
triển tiềm năng đất đai và lao động.
Do điều kiện kinh tế của mỗi hộ là khác nhau, có nhiều hộ do đất đai không
đủ nhu cầu sản xuất cho các lao động trong hộ nên hộ chuyển sang kinh doanh
nghề phụ, buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công. Trong khi đó một số hộ lại có nhu
cầu mở rộng đất đai canh tác trên quy mô lớn. Tín dụng ngân hàng giúp các hộ có
thể trao đổi, chuyển nhợng với mục đích sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn.
Cũng nhờ đồng vốn tín dụng các hộ có điều kiện đầu t vào mua sắm trang thiết bị
nh máy cày, máy tuốt, máy say sát, máy nghiền thức ăn gia súc mua phân bón,
thuốc trừ sâu để cải tạo đất, làm giầu chất dinh dỡng cho đất, bảo vệ mùa màng,
nhờ đó năng suất sử dụng đất cao hơn.Trên cùng một thửa ruộng hộ có thể thâm
canh xen canh, gối vụ, năng suất lao động từ đó mà tăng lên.
Đối với những hộ làm nghề thủ công, vốn tín dụng giúp họ có thể tiến hành
sản xuất, chế biến hàng thủ công mỹ nghệ với quy mô lớn hơn. Do đó cần tuyển
thêm lao động, tạo việc làm tại chỗ, nâng cao chất lợng hàng hoá, đa dạng hàng
hoá tiêu thụ không những trong nội địa mà còn xuất khẩu cạnh tranh đợc với hàng
hoá các nớc khác trên thế giới.
Nh vậy nhờ có đồng vốn tín dụng mà hộ sản xuất đã có điều kiện sử dụng
hiệu quả hơn tiềm năng đất đai và con ngời, tăng năng suất lao động giải quyết
việc làm cho ngời lao động, ổn định cuộc sống.
- Tín dụng ngân hàng giúp các hộ biết hạch toán kinh tế, nâng cao trình độ sản
xuất, trình độ quản lí, làm quen với nền kinh tế thị trờng, với sản xuất hàng hoá
hiện đại.
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
9
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
Với việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, nhận thức của hộ sản xuất đợc
nâng lên rõ rệt. Nếu nh khi sản xuất tự làm, tự bỏ vốn và tự thu nhập thì hộ không
cần hoặc có quan tâm đến hiệu quả chỉ là cần đủ ăn. Nhng khi tiếp cận với vốn tín
dụng ngân hàng đòi hỏi hộ sản xuất phải quan tâm hơn đến việc đầu t của mình
vào đâu, vào mục đích gì để đem lại hiệu quả hơn vừa có lãi vừa hoàn trả đợc vốn
tín dụng cho ngân hàng vừa có quy mô sản xuất tăng lên. Đây là một bài toán cha
có lời giải mà đòi hỏi mỗi hộ, mỗi thành viên trong hộ cùng phải quan tâm, vừa
phải có kiến thức làm kinh tế đổi mới, tiếp thu nhanh tiến bộ kĩ thuật, vừa đảm bảo
quản lí tốt đồng vốn, sử dụng tốt đồng vốn tín dụng để chu kì sau mở rộng hơn chu
kì trớc. Đồng thời chất lợng sản phẩm phải cao hơn, có đủ sức cạnh tranh trên thị
trờng.
- Tín dụng ngân hàng góp phần khôi phục phát triển ngành nghề truyền thống,
du nhập nghề mới tạo thêm việc làm cho ngời lao động.
Nhờ có vốn tín dụng các hộ sản xuất các mặt hàng mang tính đặc sản, độc
đáo của từng địa phơng nh rợu cần, nón lá, quạt giấy, bánh đa , miến Khôi phục
nghề trạm khảm, khai thác đá để làm tợng tạo không khí làm việc sôi nổi ở thôn
quê.
- Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng một thị trờng tài chính nông thôn
lành mạnh, đa dạng.
Trớc đây ở nông thôn do thị trờng tài chính cha phát triển, đồng vốn không
có nên ngời nông dân khi cần vốn phải đi vay với lãi suất cao, phần đông các hộ
không có vốn đầu t vào các hoạt động kinh doanh kiếm lời. Từ khi có vốn tín dụng
ngân hàng đáp ứng đợc nhu cầu vốn đến tận từng hộ nông dân, các hộ phấn khởi
và tin tởng vào đồng vốn của ngân hàng, nhờ có đồng vốn tín dụng các hộ làm ăn
có hiệu quả hơn trong thị trờng tài chính ở nông thôn hình thành và phát triển lành
mạnh, góp phần tích cực trong việc xây dựng nông thôn giầu đẹp.
- Tín dụng ngân hàng với việc mang lại hiệu quả kinh tế đã góp phần mang lại
hiệu quả xã hội.
Với hoạt động tín dụng hộ sản xuất ở nông thôn đã có điều kiện tiếp cận với
vốn ngân hàng cùng với chính sách quan tâm giúp đỡ về vốn và đất đai của Nhà n-
ớc, ngời dân yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của mình, có
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
10
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
điều kiện học hỏi, mở mang kiến thức, giải quyết đợc việc làm, tăng thêm thu
nhập, ổn định cuộc sống.
1.3-Chất lợng tín dụng đối với hộ sản xuất
1.3.1-Khái niệm
Chất lợng tín dụng là tính hiệu quả của dự án, phơng án sản xuất kinh
doanh, dịch vụ xin vay, chính là khả năng sinh lời của khoản vay mà ngân hàng
cho hộ sản xuất vay để thực hiện phơng án, dự án sản xuất kinh doanh đó.
Chất lợng tín dụng này có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển của kinh tế hộ và
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lợng tín dụng hộ sản xuất bao gồm cả việc mở rộng và nâng cao chất l-
ợng tín dụng hộ sản xuất.
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lợng cho vay hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trờng, chất lợng tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng nh sức mạnh của kinh tế quốc gia.
- Đối với hộ sản xuất: Nâng cao chất lợng cho vay là việc sử dụng vốn tín
dụng có hiệu quả đem lại doanh thu, bù đắp chi phí trong đó có cả chi phí trả lãi
ngân hàng và có lãi. Từ đó hộ sản xuất phấn khởi, tự tin vào khả năng làm kinh tế,
có lợi nhuận để mạnh dạn đầu t mở rộng sản xuất.
- Đối với ngân hàng: Chất lợng cho vay tốt thì việc thu hồi vốn đúng hạn tạo
điều kiện quay vòng vốn, kinh doanh phát triển, đem lại lợi nhuận cao, ngân hàng
có điều kiện cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng và hoàn thiện hơn.
- Đối với nền kinh tế: Mỗi hộ gia đình là một hạt nhân của nền kinh tế,
chính vì vậy mà mỗi hạt nhân có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh sẽ góp phần
vào việc tích luỹ cho Nhà nớc, góp phần tăng thêm thu nhập cho nền kinh tế, đảm
bảo nền móng vững chắc cho sự phát triển kinh tế của đất nớc.
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng cho vay đối với hộ sản xuất
* Chỉ tiêu 1:
Tổng doanh số cho vay HSX trong kỳ
Mức vay của 1 HSX =
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
11
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
Tổng số HSX vay vốn trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi đợt của hộ sản xuất. Số tiền vay càng
cao chứng tỏ hiệu quả cho vay tăng lên, thể hiện mức sản xuất cũng nh quy mô
hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng lên.
* Chỉ tiêu 2:
Nợ quá hạn HSX
Tỷ lệ NQH của HSX = *100%
Tổng d nợ HSX
Chỉ tiêu này đánh giá đợc chất lợng tín dụng của một ngân hàng thơng mại.
Để đảm bảo đợc thu hồi vốn đúng hạn càng lớn thì tỷ lệ nợ quá hạn sẽ thu nhỏ lại.
Nhờ có chỉ tiêu này ngân hàng sẽ có phơng án kịp thời, thích hợp cho giai đoạn
tiếp theo.
* Chỉ tiêu 3:
Vòng quay tín dụng Doanh số thu nợ HSX trong kỳ
HSX = * 100%
D nợ bình quân hộ sản xuất
Vòng quay vốn tín dụng càng lớn chứng tỏ việc sử dụng vốn vay của hộ sản
xuất có hiệu quả, chỉ tiêu này cho ta thấy đợc vốn tín dụng đầu t đúng đối tợng và
đạt hiệu quả hay không.
* Chỉ tiêu 4:
D nợ cho vay bình quân
Hiệu quả sử dụng vốn = * 100%
Nguồn vốn huy động bình quân
Với mục đích chính là ngân hàng huy động vốn để cho vay.Do đó cần xem
xét hiệu quả sử dụng vốn ngân hàng thông qua mối quan hệ giữa nguồn vốn huy
động và nguồn vốn cho vay. Vốn huy động sau khi trừ đi phần dự trữ theo tỷ lệ
quy định các ngân hàng đầu t cho sản xuất càng cao càng tốt. Do đó tín dụng ngân
hàng đợc coi là hiệu quả khi có hiệu suất sử dụng vốn cao, an toàn.
* Chỉ tiêu 5:
Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Tỷ lệ thu nợ = 100%
Doanh số cho vay hộ sản xuất.
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
12
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
Đây là một trong những chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả tín dụng đối với hộ sản
xuất. Hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng hộ sản xuất nói riêng
chứa đựng nhiều rủi ro đó là một thách thức đối với sự tồn tại của ngân hàng. Do
đó việc thu hồi gốc và lãi đúng hạn là hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định hiệu
quả tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất.
* Chỉ tiêu 7:
Tổng giá trị tài sản bị rủi ro trong kì
Tỷ lệ rủi ro tín dụng = *100%
Tổng giá trị các món cho vay trong kì.
Hoạt động tín dụng hộ sản xuất chứa rủi ro chỉ tiêu này phản ảnh mức độ
rủi ro của đồng vốn tín dụng.Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ đồng vốn tín dụng
hiệu qảu càng cao.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hởng đến chất lợng tín dụng ngân hàng
1.3.4.1 Nhân tố khách hàng
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt vì hàng hoá của
ngân hàng là loại hàng hoá dịch vụ vô hình, sự thành công của quan hệ tín dụng
phụ thuộc vào đối tác, đặc biệt là đạo đức của khách hàng vay vốn. Trớc hết hiệu
quả tín dụng hộ sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của hộ mà cụ thể là khả
năng làm kinh tế, năng lực của bản thân hộ sản xuất, nếu hộ biết tính toán, có kinh
nghiệm về kinh tế thị trờng, biết cung cấp những sản phẩm thị trờng cần thì chắc
chắn hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ đem lại hiệu quả kinh tế và trả nợ ngân
hàng gốc và lãi đúng hạn. Ngợc lại thì ảnh hởng bất lợi cho ngân hàng và nguy cơ
rủi ro xảy ra.
1.3.4.2 Nhân tố ngân hàng
Lãnh đạo ngân hàng cần đa ra chính sách cho vay hộ hợp lí để giúp các hộ
sản xuất dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Đồng thời cũng giúp cán bộ tín
dụng dễ dàng hơn khi tiếp xúc với hộ sản xuất, tạo điều kiện cho vốn tín dụng đợc
hộ sản xuất sử dụng hiệu quả. Chính sách của ngân hàng bao gồm huy động vốn,
các chế độ tín dụng, nguyên tắc cho vay, các quy định về bảo đảm tiền vay, chiến
lợc sản phẩm dịch vụ, chiến lợc khách hàng, quy trình xét duyệt cho vay Chính
sách vay vốn đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, sẽ xác định đúng phơng hớng hoạt
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
13
Khoa Tài Chính Ngân Hàng

Luận văn tốt nghiệp
động tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng thực hiện tốt công việc của mình, nâng cao
chất lợng cho vay hộ sản xuất.
1.3.4.3 Nhân tố khách quan
Bởi hộ sản xuất nông, lâm, ng, diêm nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên. Nếu thời tiết thiên nhiên u đãi sẽ tạo thuận lợi cho hộ sản xuất thu đợc
hiệu quả cao.Nếu đất đai, thổ nhỡng phù hợp với cây trồng vật nuôi sẽ tạo thuận
lợi cho hộ sản xuất. Ngoài ra chính sách của Nhà nớc trong việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vật nuôi cho phù hợp với điều kiện từng địa phơng và tạo điều kiện
thuận lợi cho hộ sản xuất tiếp cận nhanh với đồng vốn ngân hàng sẽ tạo điều kiện
cho hộ sản xuất làm kinh tế hiệu quả hơn.
SV: Trần Thị Tâm MSV: 04D07445NB
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét