Nhưng như đã nói ở trên, sự cách biệt này không quan trọng lắm vì Việt Nam mơl
bắt đầu có chính sách thu hút FDI từ cuối năm 1987 và Nhật chỉ thực sự bắt đầu
đầu tư ở Vlệt Nam từ năm 1993.
• Tình hình FDI tại VN
Ba đặc trưng của FDI tại Việt Nam
Thứ nhất, vốn đăng ký của các dự án FDI giám liên tục từ năm 1997. Đặc
biệt vốn đăng ký năm 1999 chỉ bằng 40% năm trước và tụt xuống trở lại mức năm
1991. Vốn đăng ký năm 2000 đạt 19 tỉ USD, tăng 21% so với nam trước và do đó
về hình thức đã chấm dứt được khuynh bướng giảm liên tục vừa đề cập Tuy nhiên,
trong năm 2000 có dự án khai thác khí đốt Nam Côn Sơn rất lớn, chỉ một dự án
nầy đã chiếm hơn phân nứa toàn bộ vốn đăng ký của năm này. Do đó, về thực
chất, chưa cỏ một sự xoay chiều trong FDI tại Việt Nam.
So sánh vốn thực hiện của FDI tại các nước châu á (xem báng) cho thấy vốn
thực hiện FDI tại Việt Nam mấy năm gần đây chưa giảm nhiều vì nhờ kết quả của
vốn đăng ký trong những năm trước đó nhất là những năm từ 1996 trở vế trước:
Tuy nhiên, với khuynh hướng giám nhanh và liên tục trong vốn đăng ký những
năm gần đấy, vốn thực hiện trong những năm sau sẽ giảm trầm trọng. "Trong bản
dự tháo Báo cáo chính tri của Đại hội IX sắp tới: trong kế hoạch năm năm lần thứ
bảy (200l-2005), Việt Nam dự kiến sẽ cần mỗi năm 11,2 ti USD vốn FDI, bằng
18 – 19 % tổng vốn đầu tư (tý lệ này tương đương với tỷ lệ của mấy năm gần đây).
Với tình huống vừa đề cập, Việt Nam rất có khả năng không đạt được mục tiêu
này.
Thứ hai, FDI vào Việt Nam cho đến nay tập trung vào. các ngành khai thác
dầu khí, xây dựng, bất động sản (khách sạn nhà cao tầng ), du lịch , còn các dự
án phát triển công nghiệp thì còn ít. Tính đến cuối tháng 6-2000, công nghiệp chỉ
chiếm 30% trong tống kim ngạch FDI đã được đăng kỷ cho đến thời điểm đó, và
hơn nữa trong đó hơn hai phần ba là các ngành công nghiệp nặng là những ngành
cần được bảo hộ, chú yếu sán xuất cho thị trường trong nước và ít tạo ra công ăn
việc làm (xem bảng). Trong thời kỳ đầu của quá trình thu hút FDI, khuynh hướng
tập trung vào các ngành phi công nghiệp cũng thấy có ở kinh nghiệm tại các nước
khác như Trung Quốc. Lý do là các nhà đầu tư nước ngoài muốn nhanh chóng thu
hồi vốn trong một thị rường còn rủi ro, chưa ổn định về hành lang pháp lý và cơ sở
hạ tầng. Một lý do nữa là trong giai đoạn đầu có nhiều nhu cầu đầu tư vào các
ngành khách sạn, dịch vụ, thông tin đề xây dựng cơ sớ hạ tầng phục vụ cho phát
triển sán xuất kinh doanh (mà có thể gọi chung là business infrastructure-
Bảng 2: Dòng chảy FDI vào các nước Châu á
đây, FDI tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa chuyền sang giai đoạn tập trung vào
ngành công nghiệp. Thời kỳ FDI tập trung vào business infrastructure tại Việt
Nam có thể nói là chấm dứt khoáng năm 1995-1996, nhưng sau đó thay vì FDI
triển khai mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp, nhất là các ngành phát huy được
lợi thế so sánh của Việt Nam, thì ngược lại, như đã thấy ở trên, FDI giảm mạnh và
liên tục. Trước nhu cầu cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, đế thú hút lao động dư
thừa hiện nay và trước nhu cầu cần du nhập nhiều công nghệ, vốn và tri thức quản
lý, kinh doanh đề ngày càng có nhiều hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị
trường thế giới, tình hình gần đây là đáng lo ngại vì sẽ ảnh hưởng đến chiến lược
công nghiệp hoá sắp tới nếu không sớm có biện pháp đề khởi động một sự chuyển
dịch cá lượng và chất của FDI tại Việt Nam.
Đặc trưng thứ ba cửa FDI tại Việt Nam gần đây là ngày càng có nhiều dự án
100 % vốn nước ngoài, và các dự án liên doanh thì ngày cảng ít đi. Nếu chia 13
năm (1988-2000) thu hút FDI thành 3 giai đoạn thì thấy như sau: Nếu trong giai
đoạn 1988-1992, số dự án 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 12% tổng số dự án
được cấp giấy phép, thì tý lệ này táng lên 38% trong giai đoạn 1993- 1996 và !ên
tới 64% trong giai đoạn gần đây nhất. Riêng trong năm 2000, tỷ lệ này là 78%, số
dự án án 100% vốn nước ngoài lên tới con số 286, gấp 4, 5 lần số dự án liên
doanh.(tác giả tính từ tư liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư): Ngoài ra, nhiều dự án
nguyên là liên doanh đã xin chuyển sang hình thức 100 % vốn nước ngoài. Các
trường hợp này bắt đầu từ năm 1997 (chi tính đen cuối tháng 4- 1999 đã có 39 dự
án như vậy) và tăng nhanh trong những năm gần đây.
* Liên doanh (Joint Venture) : người đầu tư và vốn là nước ngoài hợp tác
với cơ quan Nhà nước, người đầu tư và vốn trong nước.
* Đầu tư trực tiếp trong nước : người đầu tư và vốn là nước trong nước.
b) Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn
không là 1 chủ thể
•
Viện trợ phát triển chính thưc ODA ( Official Development
Assistant)
ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng
viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho
các nước đang và kém phát triểnđược các các cơ quan chính thức của chính phủ
trung ương và điạ phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức
liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu
cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết
tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận
và hổ trợ vốn ký kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởi công pháp
quốc tế.
Theo cách thức hoàn trả ODA có ba loại:
+ Viện trợ không hoàn lại
Là loại ODA mà bên nước nhận không phải hoàn lại, nguồn vốn nầy nhằm
để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thoả thuận trước giữa các
bên. Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhà
nước, dược cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Viện trợ không hoàn lại chiếm 25% tổng số ODA trên thế giới và được ưu
tiên cho những dự án về các lãnh vực như y tế, dân số, giáo dục, môi trường
+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi)
Vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng
ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới. Nó không
được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các
dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp, thủy
lợi, năng lượng làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các
điều kiện ưu đãi bao gồm:
• Lãi suất thấp
• Thời gian trả nợ dài
• Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ
+ ODA cho vay hỗn hợp
Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và tín
dụng ưu đãi.
* Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao BOT (Built-Operation-Transfer)
Do thiếu vốn nên Chính Phủ có thể kêu gọi các công ty bỏ vốn xây dựng trước
(Built) thông qua đấu thầu, sau đó khai thác vận hành một thời gian (Operation) và
sau cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho nhà nước sở tại. Hình thức nầy cũng
được sử dụng ở VN, nhưng sau một thời gian có nhười ta có chung một nhận xét
là thường các dự án dạng BOT giá thành thường được đẩy lên cao hơn thực tế
nhiều do phía đầu tư biết rằng bên đối tác thiếu vốn để xây dựng để phát triển cơ
sở hạ tầng và có quá nhiều nước đang phát triển cần vốn.
c) Các phân loại đầu tư khác
• Phân theo nhóm
Dựa vào vốn đầu tư, ngành nghề kinh tế mà các dự án đầu tư có thể phân
thành ba nhóm A B C (chi tiết xem phần phụ lục trong phụ lục1)
• Phân loại theo trình tự lập và trình duyệt dự án
Theo trình tự lập và trình duyệt dự án được phân ra làm 2 loại:
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần IV của chương nầy)
+ Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần V của chương nầy)
Tùy theo qui mô của đầu tư mà phải tiến hành nghiên cứu hai hoặc một bước trong
trình tự nầy.
3. Các giai đoạn đầu tư
a) Chuẩn bị đầu tư
Nội dung công tác đầu tư bao gồm các bước sau :
1. Nghiên cưú sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
2. Tiến hành tiếp cận, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn
cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét các khả năng có thể huy
động nguồn vốn đề đầu tư và lựa chọn hình thức để đầu tư
3. Lập dự án đầu tư
4. Thẩm định dự án để quyết định đầu tư
b) Thực hiện đầu tư
Nội dung thực hiện dự án đầu tư bao gồm:
1. Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt
nước, mặt biển, thềm lục điạ)
2. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
3. Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật, ước
tính khối lượng công trình
4. Thẩm định thiết kế công trình
5. Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
6. Xin giấy phép xây dựng và khai thác tài nguyên (nếu có)
7. Ký kết hợp đồng với Nhà nước để thực hiện
8. Thi công xây lắp công trình
9. Theo dõi việc thực hiện, kiểm tra các hợp đồng
c) Đưa dự án vào khai thác sử dụng
Nội dung công việc phải thực hiện khi kết thúc xây dựng bao gồm :
1. Bàn giao công trình
2. Kết thúc xây dựng
3. Bảo hành công trình
4. Vận hành dự án
II. CHI PHÍ
Chi phí liên quan trực tiếp đến giá thành, lãi lổ của dự án và đôi khi nó là yếu tố
quyết định đến qui mô dự án. Chi phí không phải luôn được biểu thị qua giá cả thị
trường mà có lúc nó còn mang một ý nghĩa khác
1. Chi phí và sản lượng
Trong chi phí và sản lượng chúng ta có các dạng chi phí sau :
- Chi phí cố định (fixed cost) là chi phí mà xí nghiệp nhất thiết phải tiêu tốn
ngay cả khi không sản xuất gì cả. Ví dụ như nhà xưởng, tiền thuê đất
- Chi phí biến đổi (variable cost) là loại chi phí tăng lên cùng với mức tăng
của sản lượng
- Tổng chi phí (total cost) bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi
- Chi phí tới hạn (marginal cost) là luợng chi phí gia tăng để sản xuất thêm
một đơn vị sản phẩm
2. Chi phí thời cơ
Chi phí thời cơ (opportunity cost) là giá trị kinh tế thật sự của một tài
nguyên dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó . Giá trị đó biểu thị bằng lợi
ích thu được nếu ta đem tài nguyên trên để sản xuất ra một loại hàng hóa khác. Ví
dụ như thay vì sản xuất ra một chiếc xe hơi chúng ta lại làm ra một máy công cụ
chẳng hạn. Trong ước tính chi phí thời cơ, cần phải phân ra 2 loại tài nguyên : tài
nguyên có thể
thay thế được và tài nguyên không thể thay thế được
Có thể phân thành 2 nhóm gía thời cơ: giá có thị trường và giá không có thị
trường.
* Giá thời cơ có thị trường là giá cả của thị trường trong một thị trường
canh tranh. Ví dụ người mua trả giá cho một tấn than là 1.50; 1.51; 1.52 triệu $, thì
người bán sẽ chọn giá 1.52 triệu $ (giá cao nhất) để bán. Trong trường hợp nầy giá
thời cơ cho 1 tấn than (cơ hội tốt thứ hai đã bỏ qua) là 1.51 triệu $
* Giá thời cơ không có thị trường là giá cả được tính toán cho loại tài
nguyên thứ 2. Ví dụ một sinh viên nếu đi làm thay vì đi học thì có thể thu được là
2 triệu $ /năm, nhưng nếu đi học thì sẽ tốn 1 triệu $ /năm. Như vậy chi phí thời cơ
cho việc đi học là 3 triệu $ /năm.
* Chi phí thời cơ và việc sử dụng vốn
Việc sử dụng vốn cũng được xem như là một giá thời cơ khi đem vốn dùng trong
các dự án khác nhau, người ta thường dùng một giá thời cơ để so sánh
3. Chi phí chìm
Chi phí chìm (sunk cost) là những chi phí không thu lại được do những quyết
định sai lầm trong quá khứ. Loại chi phí nầy không được đưa vào trong tính toán
dự án.
4. Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán
Chi phí tiền mặt (cash cost) bao gồm tiền phải chi trả và số nợ gia tăng
Chi phí bút toán (book cost) là loại chi phí chỉ ghi trong sổ sách chớ không
có trong thực tế. Ví dụ các khỏan tính khấu hao cho đầu tư vốn dùng trong việc
tính thuế.
III. DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Khái niệm 1 dự án đầu tư
- Dự án đầu tư : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng
hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng,
cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một
khoảng thời gian xác định.
Một dự án có thể xác định theo nhiều cách. Các dự án có thể là do các bộ
ngành hữu quan đề xuất , có thể bắt nguồn từ quá trình xây dựng các kế hoạch
kinh tế quốc gia hay các doanh nghiệp tư nhân hoặc nhà nước cũng có các dự án
đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn trước khi thực hiện .
Khi thực hiện một dự án bao giờ cũng có sự mâu thuẩn tiềm ẩn giữa về lợi
ích giữa những người thực hiện dự án và toàn xã hội. Lý do là lợi ích của dự án và
các chương trình công cộng chỉ tập trung cho một bộ phận dân chúng. Chẳng hạng
như, một đập thủy lợi chỉ giúp ích cho một nhóm hộ nông dân trong vùng ảnh
hưởng của đập mà thôi. Nói một cách khác một dự án đầu tư chỉ giúp ích cho một
bộ phận cộng đồng nào mà thôi. Những đối tượng do nhận biết lợi ích do dự án
mang lại cho mình nên có xu hướng ủng hộ mạnh mẽ. Đồng thời nếu các chi phí
của dự án được cung cấp phần lớn bằng tiền ngân sách chung của chính phủ, là
kinh phí được phân bố rộng rãi cho toàn xã hội, thì sẽ không có một nhóm người
nào thấy mình phải chịu phần lớn gánh nặng chi phí của dự án. Kết quả có thể
đoán trước được là những người được hưỡng lợi từ dự án có xu hướng tạo thành
một nhóm lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ dự án, trong khi có nhóm người thua thiệt (là
những người gánh chịu chi phí dự án) lại quá phân tán và những mất mát cá nhân
trong số họ quá nhỏ , nên họ không thể trở thành đối trọng có hiệu quả để chống
lại nhóm đối tượng hưởng lợi mang tính tập trung cao.
Nói cụ thể 1 dự án có thể chi phí cao 100% trong khi mức lợi ích chỉ là 50%
nếu xét trên toàn xã hội, nhưng nếu nhóm hưởng lợi chỉ chiụ 5% mức tổng chi phí
của dự án, họ sẽ thấy đó là 1 dự án vô cùng tốt và sẽ gây áp lực mạnh mẽ để dự án
được thực hiện. Chính vì vậy mà chúng ta cần sớm có hệ thống thẩm định dự án
tốt nhằm bảo vệ tốt lợi ích của cả quốc gia.
Tuy nhiên câu chuyện không chỉ dừng tại đó bởi trong thực tế cũng có các áp lực
ủng hộ dự án và các chương trình phát sinh từ chính trong bộ máy chính quyền .
Các bộ ngành chức năng thường đệ xuất các dự án và việc họ coi trọng các dự án
mà họ nghĩ là phục vụ cho lợi ích chung, cũng là một điều tự nhiên và phù hợp.
Tuy nhiên sự hăng hái của các quan chức nầy chưa đủ bảo đảm là các dự án mà họ
đề xuất thực sự có hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội. Chúng ta cần các qui trình
thẩm định chính thức, vì hệ thống nầy sẽ giúp chúng ta tránh được những lưạ chọn
đầu tư sai lầm. Chỉ có những suy nghĩ ảo tưởng mới khiến chúng ta cho rằng nhiệt
tình của các cơ quan trong chính quyền, của các quan chức đối với dự án mà họ
xây dựng và đệ trình lại không là nguyên nhân đáng kể có thể đưa đến sai lầm
2. Phân loại
Các dự án đầu tư có thể phân loại dựa theo các căn cứ sau đây :
1. Căn cứ nguồn tài lực khan hiếm của dự án
2. Số vốn đầu tư
3. Sự tác động của các dự án đầu tư khác đến lợi ích thu được tư dự án đầu tư
được xem xét.
Một số dự án có thể tự đứng vững 1 cách độc lập. Loại dự án khác chỉ có thể
thành công khi có thêm các dự án đầu tư khác yểm trợ. Loại thứ 3, các dự án vô
tác dụng nếu có các dự án cạnh tranh khác được thông qua.
* Dự án đầu tư phụ thuộc và dự án đầu tư độc lập
- Dự án độc lập về mặt kinh tế
Dự án đầu tư A không phụ thuộc (độc lập) dự án B về mặt kinh tế khi thoả 2
điều kiện :
1. Dự án A phải có tính khả thi về mặt kỹ thuật mặc dù dự án B có được
chấp thuận hay không
2. Lợi ích thần dự kiến của dự án A không bị chi phối bổi sự chấp thuận dự
án B hay không
- Dự án phụ thuộc về mặt kinh tế
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 tăng lên thì dự
án 2 được coi như là bổ sung cho dự án1.
Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 giảm xuống thì dự
án 2 được coi như là thay thế cho dự án 1
- Dự án loại trừ nhau
Trường hợp dự án 1 bị loại hoàn toàn khi dự án 2 được thông qua thì 2 dự án được
gọi là loại trừ nhau
4. Hình thức lợi ích thu được
5. Các lợi ích gia tăng do chi phí thấp (tăng hiệu quả)
6. Bộ phận chức năng liên quan chặt chẻ đến dự án đầu tư.
Ví dụ: công ty dầu mỏ có thể phân loại dự án đầu tư theo các hoạt động : tìm kiếm
thăm dò, khai thác, vận chuyển
7. Phân loại ngành nghề theo lãnh vực kinh doanh
8. Múc độ cần thiết của dự án
* Phân loại theo qui mô (Xem phần Phụ lục cuả Phụ lục 1)
Tuỳ theo tính chất, hình thức, quy mô người ta phân thành 3 nhóm chính : A, B, C
và qui định quyền hạn, và cấp chính quyền xét duyệt
* Dự án tạo thu nhập
Mục tiêu chính của dự án nầy là tạo ra lợi nhuận
* Dự án phát triển
Mục tiêu chính của loại dự án nầy là tạo ra sự phát triển của 1 vùng, 1 miền hoặc
của 1 quốc gia
3. Các đặc điểm của dự án
Các đặc điểm cuả một dự án như sau:
• Dự án là một công việc không thường kỳ
Bảng 1: So sánh dự án với công việc thường nhật
Dự án Công việc định kỳ
Điều ngoại lệ của các chức năng thơng
thường
Định rò trong công việc thường kỳ
Các hoạt động cuả dự án có liên quan
nhau
Các hoạt động không liên quan nhau
Mục tiêu và hạn chót là cụ thể Mục tiêu và hạn chót là chung chung
Kết quả (output) phải rỏ ràng Không có kết quả nào được định rỏ
• Các hoạt động cuả dự án có liên quan nhau
Các hoạt động cuả dự án phải liên quan với nhau theo một trật tư thời gian nhất
định, chẳng hạn như một công việc chỉ có thể bắt đầu khi một số công việc khác
đã kết thúc hoặc có những mốc thời gian của các giai đoạn chính cuả dự án.
• Mục tiêu và hạn chót là cụ thể
Một dự án phải có một mục tiêu rỏ ràng và cụ thể, hơn nữa nó phải có hạn chót
(deadline)
• Kết quả (output) phải rỏ ràng
Các kết quả phải thể hiện rỏ những mục tiêu cuả dự án
Ba điều kiện ràng buộc cuả dự án là ngân sách; kết quả; thời hạn
H.1: Ba điều kiện ràng buộc cuả một dự án
Kết quả
Ngán saïch
Thåìi hạn
4. Các yếu tố dẫn đến thành công cuả một dự án
Hai thành phần dẫnđến thành công cuả một dự án là xác định và giám sát
Xác định bao gồm:
• Mục đích
Bao gồm các ý nghiã sau: Điều mong đợi là gì; tại sao phải thực hiện dự án nầy và
các kết quả đạt được phải là như thế nào?
• Nhiệm vụ
Các dự án lớn có thể chia nhỏ ra nữa không, nhiệm vụ cuả các thành viên trong dự
án là như thế nào, việc phối hợp các thành viên như thế nào?
• Lịch trình
Hạn chót là thời điểm nào? Với hạn chót là mhư thế, hàng loạt các hạng mục nhỏ
hơn nữa phải được sắp xếp, duy trì và lập lịch trình như thế nào? Công tác lập lịch
trình hợp lý hàng tuần cho các công việc là điều then chốt cho việc đáp ứng cho
hạn chót dài hạn.
• Ngân sách
Dự án nầy cần phải chi phí bao nhiêu? Liệu có phải đầu tư tiền vào nghiên cứu,
thiết bị sản xuất, khuyến mâi hoặc thăm dò thị trường hay không? Cần lập kế
hoạch cho khoản chi tiêu nào và cần dành bao nhiêu tiền dự phòng để dự án kết
thúc thành công.
Giám sát bao gồm:
• Đội ngũ
Là nhà quản lý dự án bạn phải thiết lập một đội ngũ như thế nào cho phù hợp với
công việc. Bạn không thể xây dựng đội ngũ cho dự án khi bạn chưa biết mục đích,
lịch trình và ngân sách cuả dự án đó.
• Điều phối
Một dự án theo đúng bản chất cuả nó, đòi hỏi một sự quản lý thống nhất. Một hội
đồng hay một ủy ban sẽ không hoạt động tốt được nếu hội đồng hay ủy ban đó quá
dân chủ. Cho nên với tư cách là nhà quản lý dự án, bạn có trách nhiệm điều phối
các hoạt động cuả từng thành viên cuả đội ngũ dự án.
• Theo dõi
Lịch trình và ngân sách cuả bạn chỉ có thể hoàn thành nếu bạn có khả năng phát
hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục chúng; giao việc cho người khác hoặc
thiết lập hệ thống giám sát vẫn chưa đủ. Còn phải theo dõi các chỉ số đẻ có thể
giúp bạn theo dõi dự án có theo đúng lịch trình hay đúng ngân sách hay không và
liệu mục đích trong toàn bộ dự án có đạt được hay không.
• Hành động
Nếu thấy các vấn đề nảy sinh, bạn phải có hành động khắc phục chúng. Chẳng hạn
như nếu đội ngũ dự án không thực hiện đúng lịch trình, bạn phải đẩy mạnh tiến độ
cuả lịch trình. Nếu ngân sách bị vượt trội thì các khoản chi cần được khống chế và
mức dộ bội chi trong tương lai không thể xảy ra hoặc phải giảm xuống. Điều đó
chỉ có thể có được nếu bạn bám sát các vấn đề trước khi chúng vuột khỏi tầm tay
bạn
• Hoàn tất
Ngay cả khi một dự án được quản lý tốt và giữ đúng lịch trình đến 99% thời hạn
mà không có bước cuối cùng này thì bạn cũng không thực hiện đúng hạn chót.
Đôi khi một dự án được điều hành tốt cũng trở nên khó hoàn tất. Báo cáo cuối
cùng, kết luận cuối cùng, các cam kết trên giấy tờ thường là phần khó khăn nhất
cuả dự án. H.2 Tóm tắt các năng lực của người điều hành dự án
5 Các năng lực của người điều hành dự án
a. Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo
b. Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết
c. Có năng lực điều phối các nguồn đa dạng
d. Kỹ năng truyền đạt và thủ tục
e. Năng lực giao phó và theo dõi công việc
f. Độ tin cậy
a) Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo
Khi tìm kiếm môt nhà quản lý dự án có khả năng, người ta thường tìm người
có năng lực biểu lộ được năng lực tổ chức và lãnh đạo những người khác. Người
được chọn sẽ thành công trong việc chọn một dự án phức tạp, vì ông ta đã biểu lộ
những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết.
b) Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét