1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất quản lý của Công ty Cổ
phần tư vấn xây lắp và thương mại Thăng Long
1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất
CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CÔNG TY
GIÁM ĐỐC
P.Giám Đốc Tài Chính P.Giám Đốc Kỹ Thuật
Phòng
Tổ
chức -
Hành
chính
Phòng
Tài
chính-
kế toán
Phòng
kinh tế
-kế
hoạch
Phòng
Kỹ
thuật-
Thi
công
Các
- Xưởng
trực thuộc
- Đội sản
xuất
Các
- BHĐ dự án
- BCH công
trình
HĐ QUẢN TRỊ
ĐHĐ CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM
SOÁT
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
1.3.2.1. Đại hội đồng quản trị
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết
định các vấn đề liên quan tới phương hướng hoạt động, vốn điều lệ, nhân sự Hội
đồng quản trị, Ban kiểm soát và những vấn đề khác được quy định trong Điều lệ.
1.3.2.2. Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị do Đại Hội đồng cổ đông bầu ra, là tổ chức quản lý cao nhất
của Công ty giữa hai kỳ họp Đại Hội đồng cổ đông thường niên. Hội đồng quản trị
bầu ra chủ tịch Hội đồng quản trị và bổ nhiệm Giám đốc, người chịu trách nhiệm
trước pháp luật và Hội đồng quản trị về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty
để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm
quyền của Đại hội đồng cổ đông.
1.3.2.3. Ban kiểm soát
Ban kiểm soát do Đại Hội đồng cổ đông bầu ra, có trách nhiệm kiểm tra báo cáo
tài chính hàng kỳ, xem xét các báo cáo của Công ty về các hệ thống kiểm soát nội
bộ và các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền được quy định trong Điều lệ.
1.3.2.4. Phòng Giám đốc và 2 phó Giám đốc
Bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, các nhiệm
vụ được truyền từ trên xuống. Trong đó Giám đốc do chủ công ty đảm nhiệm.Các
chỉ thị của giám đốc được truyền xuống cho 2 phó Giám đốc là phó Giám đốc Tài
chính và phó Giám đốc kỹ thuật. Hai phó Giám đốc đảm nhiệm hai lĩnh vực khác
nhau và bổ trợ cho nhau trong mỗi nhiệm vụ.Các chỉ thị lại được truyền xuống cho
các phòng ban xử lý.
1.3.2.5. Các phòng ban chức năng của Công ty
- Phòng Tài chính – Kế toán gồm có một Kế toán trưởng,được bổ nhiệm theo ý
kiến của Giám đốc Công ty, và một số kế toán viên như: kế toán tổng hợp, kế toán
thanh toán, kế toán vật tư, thủ quỹ làm công tác nghiệp vụ theo sự phân công điều
hành trực tiếp của Kế toán trưởng.
Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc
Công ty về công tác tài chính kế toán, tổ chức hướng dẫn và chỉ đạo toàn bộ hoạt
động tài chính kế toán của Công ty và các đơn vị trực thuộc. Phòng có chức năng
kiểm tra giám sát công tác tài chính kế toán, xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm
và dài hạn theo kế hoạch sản xuất của Công ty, trình Giám đốc Công ty phê duyệt.
Phối hợp với các phòng chức năng khác của Công ty để xây dựng cơ chế khoán, lập
kế hoạch về chỉ tiêu tài chính trên cơ sở kế hoạch của Công ty gửi Phòng Kinh tế –
Kế hoạch để tổng hợp báo cáo.
- Phòng Kinh tế – Kế hoạch có cơ cấu gồm một trưởng phòng và một số cán bộ,
kỹ sư làm các công việc chuyên môn nghiệp vụ theo sự phân công của Công ty và
chịu sự điều hành trực tiếp của trưởng phòng.
Phòng Kinh tế – Kế hoạch có chức năng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc
trong lĩnh vực kinh tế hợp đồng, kế hoạch sản xuất, thiết bị xe máy thi công, cung
ứng vật tư, tổ chức quản lý hệ thống kho tàng của Công ty. Chủ trì lập các dự án
đầu tư xây dựng, đầu tư mua sắm trang thiết bị vật tư, là đầu mối giao dịch và thực
hiện các thủ tục thương thảo, soạn thảo hợp đồng. Là đầu mối trong công tác tiếp
thị, tìm kiếm công việc, tham gia làm hồ sơ dự thầu, đấu thầu, kiểm tra dự toán thiết
kế, dự toán thi công của đơn vị thi công. Tham gia xây dựng đơn giá tiền lương với
công nhân tại các công trình, xây dựng định mức và đơn giá đối với các công tác
đặc biệt phát sinh trong quá trình thi công.
- Phòng Kỹ thuật – Thi công có một trưởng phòng và một số cán bộ, kỹ sư làm
những công việc có tính chất chuyên môn nghiệp vụ theo sự phân công và điều
hành trực tiếp của trưởng phòng. Phó giám đốc Công ty được phân công chỉ đạo và
kiểm tra các hoạt động của phòng.
Phòng Kỹ thuật – Thi công có chức năng tham mưu cho Giám đốc trong công
tác quản lý xây lắp, giám sát chất lượng công trình, quản lý kỹ thuật, tiến độ, biện
pháp thi công và an toàn lao động. Là đầu mối tiếp nhận các thông tin thay đổi công
nghệ, áp dụng tiến bộ Khoa học kỹ thuật. Phối kết hợp với Phòng Tổ chức Hành
chính về việc đào tạo thi nâng bậc cho công nhân. Phòng Kỹ thuật – Thi công chủ
trì cùng các bộ phận khác để giải quyết tai nạn nếu xảy ra, phối hợp cùng Phòng
Kinh tế – Kế hoạch tham gia lập hồ sơ dự thầu và đấu thầu, thực hiện việc kiểm tra
khối lượng dự toán, quyết toán của các đơn vị trực thuộc, kiểm tra công tác chuẩn bị
mặt bằng thi công của các đơn vị, thựa hiện nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản
vẽ thi công các công trình.
- Phòng Tổ chức Hành chính có cơ cấu gồm một trưởng phòng và một số cán bộ
nhân viên làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo sự phân công của Công ty và
chịu sự điều hành quản lý trực tiếp của trưởng phòng.
Phòng Tổ chức Hành chính có chức năng tham mưu giúp cho Giám đốc Công ty
trong lĩnh vực quản lý nhân sự, sắp xếp tổ chức, quản lý bồi dưỡng cán bộ , thực
hiện các chế độ chính sách của nhà nước đối với người lao động. Thực hiện chức
năng lao động tiền lương và quản lý hành chính văn phòng của Công ty. Phối hợp
với Phòng Tài chính – Kế toán xây dựng các định mức lao động, đơn giá tiền lương,
quỹ tiền lương, các quy chế phân phối tiền lương và tiền thưởng theo quy định của
nhà nước và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xây dựng chương
trình thanh tra, kiểm tra nội bộ, theo dõi tiếp nhận và xử lý các đơn khiếu nại tố cáo.
Phòng Tổ chức Hành chính là thường trực trong công tác tiếp dân, thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ chính trị nội bộ, tổ chức tiếp các đoàn thanh tra, kiểm tra những lĩnh vực
liên quan đến chức năng của phòng.
1.3.2.6. Các đơn vị sản xuất và ban điều hành
Nhiệm vụ chính của các xưởng là tổ chức sản xuất, cung cấp các sản phẩm cho
khách hàng và Công ty thực hiện thi công các công trình xây lắp, các dự án đầu tư.
Nhiệm vụ chính của các đội thi công là thực hiện thi công xây lắp các công
trình của Công ty, đảm bảo chất lượng công trình, hoàn thành đúng theo tiến độ
dưới sự điều hành của Ban giám đốc trên cở sở nguồn cấu kiện của các xưởng sản
xuất cung cấp.
Các Ban điều hành dự án có nhiệm vụ là nhận chỉ thị trực tiếp từ Giám đốc và
truyền xuống các bộ phận dưới.Bên cạnh đó còn giám sát và chỉ huy trong các quá
trình thi công.
PHẦN 2
THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY LẮP VÀ
THƯƠNG MẠI THĂNG LONG
2.1. Một số kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần
đây
Bảng biểu 01: Bảng kết quả kinh doanh của Công ty ( 2006 – 2008 )
(Đơn vị tính: 1000đ)
STT Các chỉ tiêu
Năm
2006 2007 2008
1 Doanh thu 12.000.000 20.020.000 25.000.000
2 Vốn 5.000.000 10.000.000 10.000.000
4 Nộp ngân sách 126.000 576.800 700.000
5 Lợi nhuận sau
thuế
324.000 1.483.200 1.800.000
6 Thu nhập bình
quân
7.000 9.840 8.400
Nhận xét: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
- Thông qua một số chỉ tiêu về kết quả kinh doanh trên ( từ năm 2006 – 2008 ) ta
thấy tình hình hoạt động kinh doanh của công ty khá tốt.Dẫn tới doanh thu và lợi
nhuận của công ty tăng lên không ngừng, thu nhấp của người lao động cũng ở mức
khá cao. Cho thấy công ty đang trên đà phát triển mạnh mẽ.
- Đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2007 doanh thu của công ty đã tăng trên 60% (
khoảng 66,83%) trong khi đó vốn của công ty năm 2006 là 5 tỷ đến năm 2007 tăng
lên 10 tỷ ( tăng 50%) dẫn tới lợi nhuận sau thuế tăng lên rất cao từ 324.000.000vnđ
lên tới 1.483.000.000vnđ tăng khoảng trên 300% cho thấy hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty trong giai đoạn 2006 – 2007 rất tốt dẫn tới thu nhập bình quân
của người lao động cũng tăng khoảng 40,1%. Do vậy mà nộp ngân sách của công ty
tăng lên trên 200% góp phần xây dựng đất nước.
- Tuy nhiên đến giai đoạn 2007 -2008 do tình hình khủng hoảng kinh tế trên toàn
thế giới do đó mà doanh thu của công ty tăng chậm so với giai đoạn 2006 – 2007
nhưng vẫn đảm bảo ở mức tăng 24,87% trong khi vốn của công ty trong năm 2008
vẫn giữ ở mức 10 tỷ như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vẫn đạt
hiệu quả cao đã vượt qua được trở ngại của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Lợi
nhuận sau thuế trong giai đoạn 2007 – 2008 giảm mạnh so với giai đoạn 2006 -
2007 nhưng vẫn tăng ở mức 21,4% và nộp ngân sách cũng tăng từ 576.800.000vnđ
đến 700.000.000 khoảng 21%.
2.2 – Nguồn vốn
Bảng biểu 02: NGUỒN VỐN (2006 – 2008)
( đơn vị tính 1000vnđ )
STT Các chỉ tiêu Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
1 Vốn kinh doanh 5.682.000 2.202.600 6.902.907
2 Vốn nợ 7.000.000 10.000.000 10.000.000
3 Tổng vốn 12.682.000 12.202.600 16.902.907
Nguồn: Báo cáo tài chính (Phòng kế toán)
Nhận xét: nguồn vốn của công ty
- Từ bảng số liệu 02 ta có thể thấy nguồn vốn kinh doanh của công ty luôn được
tăng lên qua các năm, cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty ngày mở rộng.
Giai đoạn từ 2006 – 2007 nguồn vốn tăng từ 7 tỷ vnđ đến 10 tỷ vnđ, mức tăng
khoảng 43% cho thấy được quy mô cũng như hoạt động kinh doanh của công ty
đang phát triển và ngày mở rộng. Tuy nhiên đến năm 2008 thì nguồn vốn kinh
doanh của công ty vẫn ở mức 10 tỷ vnđ. Hoạt động của công ty đã có sự đình trệ
trong giai đoạn 2007 – 2008 nguyên nhân do khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong
giai đoạn này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của công ty. Để đảm bảo
nguồn tài chính cho thi công công ty thực hiện vay vốn để khắc phục tình trạng
thiếu vốn và để hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo hiệu quả.
- Với nguồn vốn nợ, công ty nhằm đảm bảo hoạt động tài chình cho các hạng
mục công trình và hoạt động của công ty diễn ra được tốt hơn. Nguồn vốn nợ của
công ty trong năm 2007 thấp hơn nhiều so với năm 2006 và năm 2008 cho thấy
được hiệu quả hoạt động sản xuất trong năm 2007 cụ thể chính ở bảng 01. Trong
năm 2008 chính bởi khủng hoảng kinh tế, giá nguyên vật liệu bất ổn do vậy để hoạt
động của công ty được đảm bảo công ty đã tăng nguồn vốn nợ lên tơi
6.902.907.000vnđ tăng hơn so với năm 2007, trên 200% và tăng hơn so với năm
2006 khoảng 21,5%.
- Tuy nhiên với nguồn vốn không lớn như vậy cũng gây ra một số khó khăn nhất
định như khó mở rộng quy mô hoạt động của công ty. Sản phẩm xây lắp được tiêu
thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính
chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ. Nếu bị ứ đọng vốn ở công
trình và không thu hồi kịp thòi dẫn tới tình trạng thiếu vốn cho các hoạt động khác
của công ty và khả năng cạnh tranh của công ty với các đối thủ cạnh tranh khác là
không cao.
2.3. Cơ cấu tài sản lưu động
Bảng biểu 03: VỐN LƯU ĐỘNG (2006 – 2008)
( đơn vị tính 1000vnđ )
TT Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số tiền
Tỉ
trọng
Số tiền
Tỉ
trọng
Số tiền
Tỉ
trọng
Tổng tài sản lưu động 5.682.000 100 2.202.600 100 6.920.907 100
I Vốn bằng tiền 1.420.500 25 594.702 27 1.647.175 23.8
1 Vốn tiền mặt 502.000 226.832 430.545
2 Vốn tiền gửi ngân hàng 918.500 367.870 1.216.630
II Các khoản phải thu 2.102.340 37 780.001 38,5 2.422.317 35
1 Phải thu khách hàng 900.512 302.345 1.374.923
2 Phải thu nội bộ 378.979 206.148 172.831
3 Trả trước cho người bán 706.344 126.450 720.106
4 Phải thu khác 85.466 54.940 53.555
5 Dự phòng các khoản phải
thu khó đòi
31.039 90.118 100.902
III Hàng tồn kho 1.619.370 28,5 572.676 26 1.730.226 25
1 NVL tồn kho 606.372 73.432 612.350
2 CCDC tồn kho 258.557 190.119 351.215
3 Chi phí sản xuất dở dang 331.001 251.077 312.357
4 Hàng gửi đi bán 423.440 58.048 454.304
IV Vốn lưu động khác 539.790 9,5 176.208 8.5 1.121.186 16.2
Nguồn: Báo cáo tài chính (Phòng kế toán)
Nhận xét về nguồn vốn lưu động của Công ty
Qua số liệu ở bảng 03 ta nhận thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty đã chuyển biến tốt bởi số tài sản lưu động của Công ty trong năm
2008 so với năm 2006 đã được huy động tăng thêm 21.8%. Tuy nhiên, nếu
so sánh với năm 2007 thì lại có một sự sụt giảm lớn, do chịu nhiều tác động
của nền kinh tế thế giới.
* Lượng vốn bằng tiền của Công ty chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài
sản lưu động chiếm 25% trong năm 2006 và 23,8% ở năm 2008. Lượng vốn
bằng tiền của Công ty chiếm tỷ trọng lớn điều này chứng tỏ Công ty rất chủ
động trong việc kinh doanh và khả năng thanh toán. Song điều này sẽ gây
lãng phí vốn và phát sinh khoản chi phí cơ hội giữ tiền, khi đó Công ty nên
sử dụng số tiền dư thừa đó thực hiện đầu tư có tính chất tạm thời hay ngắn
hạn để có thể thu được lợi nhuận cao hơn thay vì gửi số tiền đó vào ngân
hàng với lãi suất thấp.
* Năm 2008, các khoản phải thu chiếm 35% (tăng hơn 15% so với
năm 2006). Nguyên nhân chính là do hàng bán cho khách hàng chưa thanh
toán.
Do đặc trưng của ciệc kinh doanh mà chủ yếu là xây dựng, khách
hàng không trả hết tiền hàng trong một lần mà thường nợ lại Công ty. Nên
tăng doanh thu cũng dẫn đến việc tăng các khoản phải thu của Công ty. bên
cạnh đó việc các khoản phải thu tăng và chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu tài
sản lưu động chứng tỏ vốn của Công ty bị các đơn vị khác chiếm dụng
nhiều. Doanh nghiệp nên quản lý tốt các khoản phải thu để vừa khuyến
khích được người mua hàng, vừa tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn.
* Hàng tồn kho trong năm 2006 chiếm tỉ trọng 28,5% trong tổng tài
sản lưu động, năm 2008 đã giảm xuống còn 25%. Hàng tồn kho có thể chuẩn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét