Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại

Các quỹ của Ngân hàng thuộc sở hữu của chủ Ngân hàng. Nguồn hình thành
các quỹ naỳ là từ thu nhập của Ngân hàng. Tuy nhiên khả năng sử dụng các quỹ
này vào hoạt động kinh doanh thuỳ thuộc vào mục đích sử dụng quỹ.
1.2. Nguồn vốn đi vay:
Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của
khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cần thành tốn và chi cho khách hàng, các Ngân
hàng thương mại có thể đi vay ở Ngân hàng trung ương, ở các Ngân hàng thương
mại khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức ngồi nước, v.v… Vốn đi vay
chỉ chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn, nhưng nó
rất cần thiết và có vị trí quan trọng để bảo đảm cho Ngân hàng hoạt động kinh
doanh một cách bình thường.
Dưới đây sẽ xem xét các nguồn vay chủ yếu:
1.2.1. Vay của Ngân hàng trung ương:
Lẽ sống của Ngân hàng thương mại là nhận ký thác và cho vay, Ngân hàng
phải cho vay tới mức mà Ngân hàng trung ương cho phép để tối đa hố lợi nhuận.
Nhưng khơng phải lúc nào hoạt đọng của Ngân hàng cũng đều thuận lợi.
Ngân hàng trung ương là Ngân hàng của các Ngân hàng, là cứu tinh của các
Ngân hàng trong những trường hợp vừa kể trên, là nguồn cho vay sau cùng (Lender
of last resort). Thơng thường, tất cả các Ngân hàng trung gian và một số các tổ
chức tài chính khác trong nước được Ngân hàng trung ương cho phép thành lập đều
được hưởng quyền vay tiền tại Ngân hàng trung ương trong những tình huống thiếu
hụt dự trữ hoặc q két vốn. Cho dù Ngân hàng trung ương áp dụng mức lãi suất
chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế nào đi nữa, nó vẫn phải cho các Ngân
hàng trung gian vay khi họ thanh khoản để tránh những khủng hoảng tài chính
khơng đáng xây ra.
Đứng về phía Nhân hàng trung gian, vay mượn tại Ngân hàng trung ương là
một dịch vụ hết sức tiện lợi và hào hứng vào những khi nó hạ lãi suất chiết khấu
trong chính sách cung ứng tiền nới lỏng để kích thích cho vay đầu tư. Những lúc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ấy, tiền trở nên dồi dào, Ngân hàng trung ương thì hào phóng, rộng rãi và các
khoản vay của Ngân hàng trung gian từ nhỏ trở nên lớn hơn.
Trường hợp khơng may diễn ra là khi Ngan hàng trung gian đến vay giữa lúc
Ngân hàng trung ương khơng muốn khuyến khích bành trướng tín dụng, hoặc thậm
chí nó đang thắt chặt cung ứng tiền để chống lạm phát. Lúc đó, lãi suất chiết khấu
được đưa lên cao và với những khoản lỗ trơng thấy khi vay vốn của Ngân hàng
trung ương, các Ngân hàng chỉ miễn cưỡng vay trong những tình huống thật ngặt
nghèo và tìm cách trả nợ rất nhanh. Những khi ấy, các khoản vay từ Ngân hàng
trung ương chỉ chiếm một phần rất ít trong tài sản nợ. Thời gian vay ngắn hay dài,
hiệu quả của tiền vay cao hay thấp là phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu của Ngân
hàng trung ưong và mức tiền vay của các Ngân hàng trung gian.
Đứng về phía Ngân hàng trung ương, với tư cách là Ngân hàng của các Ngân
hàng trung ương ln ln là chủ nợ của hệ thống Ngân hàng. Đây là vốn hết sức tế
nhị. Có là chủ nợ, Ngân hàng mới dễ điều khiển và giảm sát hệ thống Ngân hàng
trung gian. Nhưng đây cũng là vấn đề dễ bị nhầm lẫn. Tiền đi vào chu trình kinh tế
bằng còn đường các Ngân hàng thương mại chuyển các hối phiếu và trái phiếu lên
Ngân hàng trung ương và bị chiết khấu mất phần lãi suất phải trả cho khoản được
vay, qua đó trở thành người nợ của Ngân hàng trung ương. Việc Ngân hàng trung
ương bút tốn khối lượng tiền vào bên nợ trong bảng cân đối của mình thực chất
chỉ là do ghi theo qui định kế tốn, chứ khơng làm thay đổi Ngân hàng trung ương
phát hành tiền Ngân hàng trung ương để cho vay có lãi và theo lơ gích đó thì là
Ngân hàng trung ương là chủ nợ đối với hệ thống Ngân hàng. Vị trí của chủ nợ này
là cân thiết để Ngân hàng trung ương có thể điều tiết việc mở rộng khối lượng tiền
tệ. chính vì lý do đó, các Ngân hàng thưong mại khơng được phép gửi tiền có lãi tại
Ngân hàng trung ương, thì đó chỉ thuần t là việc dự trữ khơng có lãi. Nếu Ngân
hàng trung ương là người nợ của hệ thống Ngân hàng thưong mại, thì khi đó nó
khơng còn khả năng tác động trực tiếp vào sự gia tăng khối lượng tiền tệ bằng
chính sách tiền tệ của mình, vì bất cứ lúc nào các Ngân hàng thương mại cũng có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thể rút tiền của họ. Mối quan hệ hữu cơ giữa thị trường tín dụng bị phá vỡ và Ngân
hàng trung ương bị mất đi khả năng điều tiết của mình.
Tương tự như vây, một vấn đề chủ đạo đối với khả năng điều tiết của Ngân
hàng trung ương là việc Ngân hàng trung ương chỉ được phép cho các Ngân hàng
thương mại vay ngắn hạn. Đây là điều cần thiết, vì và chỉ như vậy Ngân hàng trung
ương mới có thể phản ứng những rối loại có thể xay ra trong hệ thống tiền tệ bằng
việc thay đổi chi phí cấp vốn. Chỉ có các Ngân hàng thương mại mới được phép
cấp tín dụng dài hạn. Để làm được việc này, các Ngân hàng thương mại phải huy
động được tiền gửi dàn hạn của các chủ sở hữu chỉ sẵn sàng gửi tiền dài hạn nếu
những rủi ro mất giá tiền gửi của họ được giảm một cách tối đa trên cơ sở giá và tỷ
giá hối đối ổn định và qua đó họ thu được khoản lãi thực tế dương. Nếu một khi
Ngân hàng trung ương có những khoản nợ phải đòi dài hạn, thì khác nào họ tự chơn
vùi tiềm năng điều tiết của họ và thúc đẩy sự bất ổn định trong khu vực tiền tệ. Và
chính điều này sẽ làm mất đi các điều kiện có thể huy động tiền gửi dài hạn của các
chủ tài sản. Do vậy, tiền đề đối với một hệ thống Ngân hàng hai cấp có hiệu lực là
thiết lập một cơ chế cạnh tranh giữa các Ngân hàng, tức là hoạt động cạnh tranh
trong việc huy động tiền gửi. Cạnh tranh là cách đưa ra những điều kiện tốt hơn so
với những đối thu của mình (như về giá cả, chất lượng và những điều kiện thương
mại.)
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho Ngân hàng trung gian qua hai hình
thức chính:
+ Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tài cấp vốn.
+ Thế chấp (prise en pension) hay ứng trước (advances) có bảo đảm hay
khơng baỏ đảm.
Thế chấp khác với tái chiết khấu ở hai điểm:
a) Trong chế chấp, chủ nợ khơng bán phiếu nợ cho Ngân hàng, mà chỉ đem
gửi phiếu ấy làm vật bảo đảm cho việc vay tiền. Khi phiếu nợ đáo hạn, đích thân
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chủ nợ phải thu hồi số nợ. Trong kỹ thuật chiết khấu, có sự chuyển quyền sở hữu
trên món nợ ghi trong thương phiếu từ người chủ nợ sang Ngân hàng.
b) Thời hạn thế chấp thường cấp ngắn, có khi khơng q một tuần. Kỹ thuật
này rất thích hợp cho Ngân hàng nào chỉ vay trong một vài ngày, như cuối tháng,
cuối năm, những ngày Tết, v.v…
Ở Việt Nam hiện nay, có các loại cho vay của Ngân hàng Nhà nước đối với
Ngân hàng thương mại như sau:
- Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: là hình thức tài trợ vốn theo
kế hoạch, chỉ phân phối cho các Ngân hàng thương mại quốc doanh.
- Chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, khế ước mà các Ngân hàng
đã cho các khách hàng vay chưa đáo hạn, và các thương phiếu.
- Cho vay bổ sung vốn thanh tốn bù trừ của tổ chức tín dụng
1.2.2. Vay ngắn hạn dụ trữ tại Ngân hàng trung ưong:
Các Ngân hàng vay mượn như vậy được gọi là vay mượn qua vốn liên bang
(như ở Mỹ) hoặc vay tiền trung ương (như ở Pháp) để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản.
Để chuẩn bị cho các hoạt động thanh tốn bù trừ và chuyển nhượng lẫn nhau,
kể cả qui định dự trữ bắt buộc do Ngân hàng trung ương áp đặt, tất cả các Ngân
hàng thương mại đều phải kỳ gửi những khoản tiền mặt nhất định tại kho của Ngân
hàng trung ương, khoản dự trữ này khơng sinh lời.
Trong q trình hoạt động của mình, có lúc Ngân hàng thương mại gặp
những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc q kẹt tiền mặt. Đây là điều thường xảy ra
đối với Ngân hàng thương mại ở bất kỳ nước nào. Trong kho có một số Ngân hàng
thương mại thiếu dự trữ, thì cũng có một số Ngân hàng thương mại khác thừa dự
trữ. Để đảm bảo dự trữ theo qui định của Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng
thương mại điện thoại hoặc liên lạc qua man hình (computer) vay lẫn nhau dự trữ
trong một ngày là chuyện bình thường. Thủ tục vay được tiến hành qua viễn ký
(fax) hoặc điện tín. Trong vòng vài phút sau, Ngân hàng thừa dự trữ trong ngày
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hơm đó sẽ viết séc hoặc gửi tín đến chi nhánh Ngân hàng trung ương tại điện
phương, u cầu chuyển một phần tiền từ dự trữ của Ngân hàng mình qua cho dự
trữ của Ngân hàng xin vay. Thế là Ngân hàng xin vay trở nên đủ dự trữ theo u
cầu của Ngân hàng trung ương với một khoản tài sản nợ phát sinh là số tiền vay nó
trên, thể hiện vào bảng cân đối của ngày hơm đó. Còn Ngân hàng thừa dự trữ cho
vay một phần dư có trên tài khoản để kiếm tiền lãi.
Việc vay qua vay lại như thế diễn ra hàng ngày trong hệ thống Ngân hàng
thương mại. Nó hình thành một loại tài sản nợ khá thường xun. Tuy nhiên khoản
nợ này thường rất ngắn, khơng q một tuần, và thường là chỉ một hay hai ngày, vì
mỗi Ngân hàng đều ý thức khơng thể lạm dụng kéo dài thời gian gặp khó khăn cho
Ngân hàng có thiện chí giúp mình.
Hiện nay ở Việt Nam chưa phát triển khoản vay ngắn hạn dự trữ tại Ngân
hàng trung ương.
Ở Việt Nam còn có “vốn tiếp nhận”, là những nguồn vốn mà Ngân hàng
thương mại nhận uỷ thác từ các tổ chức trong hoặc ngồi nước, từ ngân sách Nhà
nước để cho vay trung, dài hạn hoặc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của Nhà
nước, để thực hiện những chương trình và dự án có mục tiêu định trước trong sản
xuất kinh doanh, cải toạ mơi trương, mơi sinh.
1.2.3. Vay trên thị trường tiền tệ (TTTT):
Thị trường tiền tệ (TTTT) theo mơ hình của các nước phát triển bao gồm thị
trường mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn, thị trường liên Ngân hàng, thị
trường hối đối. Ở đây chỉ cấp khái qt TTTT trong mối liên quan với việc vay
mượn của các NHTM trên thị trường nầy.
TTTT hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các Ngân hàng, bổ sung kíp thời cho
nhu cầu vốn thơng qua việc điều hồ các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
TTTT góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đã có tại các Ngân hàng, làm
cho các nguồn vốn vừa phong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay này hồ trộn,
lưu thơng, khơi luồng các dòng chảy cho tất cả các nguồn vốn vào mạng lưới đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tư phát triển nền kinh tế đất nước. TTTT giúp cho NHTM tìm được nguồn vay,
đồng thời giúp cho NHTM nào khi dư thanh khoản có được cơ hội sinh lợi. Đó là
nơi người ta đi vay và cho vay qua việc bán và mua những phiếu nợ ngắn hạn, hay
nói cách khác, TTTT là nơi mua bán trái phiếu ngắn hạn. Nói ngắn gọn, mặt hàng
được trao đổi trên thị trường này là “tiền” hoặc các “chứng từ có giá trị như tiền”.
Như vậy đại diện cho một lượng tiền mà một cá nhân (hoặc doanh nghiệp) nợ
người khác. Một số tài sản tài chính thực hiện chức năng cất giữ giá trị hơn là
phương tiện trao đổi được gọi là các “chứng từ có giá trị như tiền” (hoặc “cận tiền
tệ”).
Các loại tiền (tiền của Ngân hàng trung ương, tiền của Ngân hàng thương
mại…) là những hình thức của giấy nợ IOU (I owe you), mà người cầm nó là
những người cho vay (lender) vì đã gửi tiền vào Ngân hàng thương mại (trường
hợp nắm giữ séc, sổ tiết kiệm, thể tín dụng…), hoặc đã cung cấp cho nền kinh tế,
cho Nhà nước một sản phẩm, một dịch vụ (trong trường hợp tiền lương, tiền bán
sản phẩm, cung ứng dịch vụ). Nhưng tác nhân phát ra nó là người vay nợ
(borrower), là những người đã nhận dịch vụ (Nhà nước, xí nghiệp, trường học…),
hoặc đã nhận tiền (một hình thức đầu tiên của giấy nợ). Xã hội và nền kinh tế vận
hành cùng với việc trao đổi, chuyển dịch sở hữu hàng hố, chất xám lao động…
thơng qua những phương tiện trung gian là các loại hình giấy nợ này. Sự đa dạng
của các loại hình giấy nợ theo tiến trình phát triển của nền kinh tế hình thành nên
hệ thống tiền tệ: hoặc là phiếu nợ của chính phủ (nếu là tiền mặt), hoặc là phiếu nợ
của Ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác. Các loại tiền là phiếu nợ
ln ln nằm vào 1 trong 3 trạng thái:
1) Vay, cho vay,
2) Nhận, trả
3) Cất giữ
Dù ở trạng thái nào, tiền cũng là chỉ giấy nợ và dứt khốt đến ngày phải
thanh tốn. Cho nên người ta gọi nó là phương tiện để thanh tốn. Cái khác nhau
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chỉ ở chỗ hiện nay hay tương lai. Cuộc sống của con người và nền kinh tế là một
chuỗi vận động xoay quanh tất cả các “loại nợ”. Q trình cứ thế tiếp diễn với
những phiếu nợ được hốn chuyển qua tay từng người, vận động liên tục mỗi phút,
mỗi giây, mỗi ngày năm này qua năm khác để hình thành nên các loại hoạt động
kinh tế khác nhau và nền kinh tế với đầy đủ sự đa dạng của nó.
Xết về tính chất, tiền mặt hay tiền của Nhà nước do Ngân hàng trung ương
phát ra là một loại hình của giấy nợ hay trái phiếu. Nếu mình có tiền mặt trong tay,
điều đó có nghĩa là chính phủ đang nợ mình một khoản tiền. Trong trường hợp tín
phiếu kho bạc, chính phủ nợ người sở hữu tín phiếu một khoản tương đương với
giá trị được ghi trên tín phiếu. Đối với trường hợp thứ nhất, tiền của chính phủ thức
chất là tiền mặt. Những gấy nợ này được phép luật qui định rằng nó có thể được
dùng cất giữ, trao đổi thành các loại hàng hố như gạo, ơtơ… Còn trong trường hợp
thứ hai, tín phiếu kho bạc chỉ là chứng từ có giá trị như tiền hay là các chứng từ tài
chính, chỉ được chính phủ thanh tốn khi chúng đáo hạn, việc chuyển nhượng tín
phiếu kho bạc cho người khác thật ra khơng phải là khó khăn cho lắm, nhưng bản
thân chính phủ khơng có trách nhiệm phải thanh tốn số tiền ghi trên tín phiếu
trược khi tín phiếu đáo hạn.
Các loại tiền của NHTM cũng mang tính chất tương tự. Cái khác nhau là
“cho vay để được hưởng gấy nợ của chính phủ” là tất cả thành viên của xã hội và
“khoản cho vay” là sản phẩm hoặc dịch vụ do chính họ làm ra cho xã hội. Trong
trường hợp “gấy nợ là tiền của NHTM”, thì người cho vay để được hưởng gấy nợ
loại này những người gửi tiền vào NHTM. Điều quan trọng là phải có tiền mặt nộp
vào NHTM thì mới phát sinh các loại phiếu nợ hay tiền khác trong hệ thống Ngân
hàng. “Khoản cho vay” là tiền mặt pháp định của chính phủ, nghĩa là người cho
vay đã chuyển từ một hình thức gấy nợ khơng lãi của chính phủ thành loại gấy nợ
khác có lãi của NHTM, còn được gọi là “tiền-tài sản” vì có đồng thời hai tính chất
“tiền” và “khoản đầu tư”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ở trên thị trường tiền tệ (TTTT) thường tập trung mọi thành phần tiền có
trong lưu thơng; trên TTTT tiền cũng có giá của nó. Tiền có giá khi tín dụng và tiền
hồ nhập vào làm một và giá của tiền tệ cũng bị chi phối bởi quan hệ cung cầu. Đối
tượng của TTTT là hoạt động mua bán tiền tệ, là lãi suất tín dụng. Nếu lãi suất trên
TTTT bất lợi so với lãi suất chiết khấu, các Ngân hàng sẽ lựa chọn chiết khấu ở
NHTƯ. Trường hợp đó gọi là thị trường ở Ngân hàng. Trái lại, nếu lãi suất đó thấp
hơn lãi suất tái chiết khấu, các Ngân hàng bỏ ngỏ có lợi hơn và người ta gọi là thị
trường “ngoại Ngân hàng” (gọi là thị trường bỏ ngỏ là vì ai tham gia mua bán trên
thị trường này đều được cả, khơng gởi hạn vào một tầng lớp nào).
Khơng có TTTT, nhiều khoản nợ sẽ khơng được thanh tốn kịp thời và
ngược lại nhiều khoản tiền tệ lúc chưa dùng đến lại phải nằm n trong dự trữ.
Trong nền kinh tế thị trường, việc thanh tốn kịp thời, đầy đủ, đúng hạn là một yếu
tố đặc biệt quan trọng để tạo ra niềm tin cho các nhà kinh doanh và để ổn định q
trình phát triển nền kinh tế. TTTT hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các doanh
nghiệp, đặc biệt hoạt động cho các NHTM, tạo vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp
đảm bảo khả năng thanh tốn, chống nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp, và bổ
sung kịp thời cho nhu cầu vốn của các NHTM thơng qua việc điều hòa các nguồn
vốn từ các nơi thừa đến nơi thiếu.
Các cơng cụ lưu thơng trên TTTT bao gồm: tín phiếu kho bạc ngắn hạn, kỳ
phiếu thương mại, tín phiếu của cơng ty tài chính, các hợp đồng vay mượn ngắn
hạn giữa các tổ chức tín dụng dưới sự điều tiết của NHTƯ, kỳ phiếu Ngân hàng,
chứng chỉ tiền gởi tiết kiệm, khế ước giao hàng, v.v… Mỗi cơng cụ xuất hiện trên
TTTT đều nhằm đáp ứng các nhu cầu cụ thể của các thành viên TTTT.
Các NHTM có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ
để vay tiền trên TTTT. Khả năng vay vốn của thị trường thơng qua việc phát hành
phiếu nợ tuỳ thuộc vào 3 yếu tố:
1) Mức độ chấp nhận của nhân dân đối với nó như một phương tiện thanh
tốn trong lưu thơng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2) Sự khuyến khích hay khơng của Ngân hàng trung ương.
3) Hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đã vay được.
Tuy nhiên, khi NHTM quyết định vay của thị trường bằng hình thức này, bao
giờ nó cũng có sẵn những kế hoạch đầu tư nhất định và chắc chắn là có hiệu quả.
Vì thế yếu tố thứ ba khơng thành vấn đề, chỉ còn hai yếu tố đầu quyết định được
khả năng nhanh hay chậm của q trình phát hành.
1.2.4. Vay từ cơng ty mẹ (parent company)
Ở các nước phát triển mỗi cơng ty hoặc tập đồn kinh doanh có thể là chủ
của từ một đến rất nhiều NHTM. Thay vì Ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc giấy
nợ để vay tiền của thị trường, các cơng ty mẹ của Ngân hàng có thể thay thế nó làm
chuyện đó dưới hình thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu cơng ty hoặc các loại
thương phiếu, rồi chuyển vốn đã huy động được về cho Ngân hàng hoạt động. Nếu
NHTM vay tiền của thị trường bằng các hình thức kể trên, nó có thể chịu nhiều sự
quản lý và ràng buộc của NHTƯ về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục. Mỗi khi
NHTƯ ràng buộc họ q nhiều điều kiện khó, khơng thể phát hành trái phiếu được
như ý muốn, hoặc nếu phát hành được cũng sẽ phải trả chi phí rất cao, thì NHTM
giao cho các cơng ty mẹ phát hành các loại giấy nợ là cách trốn thốt của họ đối với
NHTƯ để đạt được cũng mục đích ấy. Đây là lý do giải thích vì sao hầu như ở tất
cả các nước phát triển, các NHTM ln ln là con đẻ của một cơng ty kinh doanh,
cơng ty tài chính, hoặc ít nhất là có quan hệ mật thiết với các đối tượng trên. Khi
cơng ty mẹ phát hàng trái phiếu, nó khơng phải bị ràng buộc về dự trữ, lãi suất, số
lượng do NHTƯ qui định, vì nó khơng phải là một Ngân hàng. Tiền thu nhập được
chuyển giao cho Ngân hàng kinh doanh. Như vậy, cơng ty mẹ vay của thị trường và
đến lượt Ngân hàng vay của cơng ty mẹ. Vốn vay này có thể được Ngân hàng xếp
vào nhóm nợ ngắn hạn (nếu cơng ty mẹ phát hành trái phiếu ngắn hạn và cho Ngân
hàng vay lại cũng ngắn hạn), hoặc có thể là tài sản nợ dài hạn. Một đơi khi cũng có
thể được nhập vào vốn cổ phần nếu cơng ty mẹ quyết định gia tăng vốn cơ bản cho
Ngân hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

1.2.5. Vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác:
Ngồi các loại vay đã nêu trên, các NHTM để đảm bảo vốn cho hoạt động
kinh doanh còn vay ở các Ngân hàng khạc, giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng
có thể cho vay lẫn nhau theo ngun tắc:
+ Các Ngân hàng phải hoạt động hợp pháp.
+ Thực hiện việc cho vay và đi vay theo hợp đồng tín dụng.
+Vốn vay phải được đảm bảo bằng thế chấp, cầm cổ hay xin bảo lãnh của
NHTƯ.
1.3. Nguồn vốn huy động:
Các Ngân hàng huy động vốn được thơng qua các hình thức:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư
- Phát hành kỳ phiếu
- Phát hành trái phiếu
- Các chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn
Các hình thức trên, các Ngân hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn so
với lãi suất tiền gửi. Nguồn vốn này chỉ phát sinh khi Ngân hàng thiếu vốn mà vốn
tự có và vốn huy động tiền gửi khơng đủ. Qua đó ta thấy nguồn vốn huy động là
cơng cụ chính, là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn kinh
doanh và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Số vốn mà
NHTM huy động là tài sản của các chủ sở hữu Ngân hàng được quyền sử dụng
nhưng phải có trách nhiệm hồn trả cho họ đúng thời hạn cả vốn và lãi. Các NHTM
chỉ được sử dụng nguồn vốn này vào các nghiệp vụ tín dụng như cho vay, đầu tư,
chiết khấu… mà khơng được sử dụng để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần, mua tài
sản cố định cho Ngân hàng cũng như các mục đích khác ngồi kinh doanh.


2. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét