+ Là địa chỉ đào tạo có uy tín, đáng tin cậy của ngời học cũng nh ngời sử
dụng lao động. Sự tin cậy này dựa trên chất lợng đào tạo và khả năng đáp ứng
các yêu cầu khắt khe của ngời sử dụng lao động. Đồng thời, là nơi có uy tín cao
đối với các trờng cùng chuyên ngành đào tạo.
+ Có đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học đông đảo có trình
độ cao chiếm tỷ trọng cao trên tổng số cán bộ giảng dạy, có khả năng đáp ứng
tốt nhất mọi nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của chuyên ngành.
+ Chủ trì biên soạn khung chơng trình, biên soạn bài giảng, giáo trình
chuẩn quốc gia để làm cơ sở cho việc biên soạn bài giảng của các trờng cùng
ngành khác hoặc là các tài liệu tham khảo có độ tin cậy cao, có giá trị khoa học
và thực tiễn.
+ Là trờng có đủ cơ sở vật chất cần thiết để đáp ứng mọi yêu cầu về học
tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học vào thực tiễn.
+ Là nơi tiên phong trong việc sáng tạo kiến thức khoa học chuyên ngành
và ứng dụng khoa học vào giảng dạy, học tập.
* Đợc Nhà nớc quan tâm đầu t về mọi mặt, từ việc xây dựng hệ thống
giảng đờng, nhà làm việc, ký túc xá sinh viên, trang thiết bị dạy và học; đến đầu
t xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ quốc gia và quốc tế, có đủ khả
năng giảng dạy kiến thức hiện đại nhất hiện nay. Sự quan tâm của nhà nớc đợc
cụ thể hóa thông qua nguồn kinh phí thờng xuyên và không thờng xuyên.
* Quy mô đào tạo phải tơng xứng với vị thế và trách nhiệm của trờng,
chất lợng đào tạo phải đạt chuẩn quốc gia và từng bớc tiếp cận với chuẩn quốc
tế.
Theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, quy mô đào tạo của trờng
trọng điểm quốc gia khoảng 50.000 sinh viên quy đổi bao gồm các hệ, các cấp
trình độ từ cử nhân đến thạc sỹ.
* Mô hình tổ chức bộ máy của nhà trờng phải hợp lý đủ sức đáp ứng các
yêu cầu, nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng và Nhà nớc giao cho. Mô hình này
phải tiên tiến, tiếp cận với mô hình tổ chức bộ máy của các trờng lớn và nổi
tiếng trên thế giới.
5
Theo quan niệm của Nhà nớc (Quy hoạch hệ thống mạng lới các trờng
Đại học và cao đẳng Việt Nam giai đoạn đến năm 2020), trờng trọng điểm quốc
gia là trờng đợc u tiên đầu t về mọi mặt để xây dựng trờng đạt tiêu chuẩn quốc
gia và quốc tế. Mỗi thời kỳ nhất định Nhà nớc lựa chọn một số trờng nhất định
dựa trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, trên cơ sở vị thế và
tầm quan trọng của trờng đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Hiện
nay, Nhà nớc xác định 2 loại trờng trọng điểm trong khoảng thời gian từ 5 đến
10 năm:
Loại 1: Trờng trọng điểm quốc gia gồm một nhóm trờng đợc Nhà nớc u
tiên mức đầu t cao nhất để đạt chuẩn quốc tế.
Loại 2: Trờng trọng điểm vùng gồm một số trờng đợc lựa chọn theo vùng
để nhà nớc u tiên đầu t nhằm đạt chuẩn quốc gia.
Trong giai đoạn từ 5 hoặc 10 năm sau, Nhà nớc sẽ thực hiện đánh giá và
lựa chọn một số trờng đại học khác để thực hiện u tiên đầu t để nâng dần chất l-
ợng các trờng đại học Việt Nam nhằm tiếp cận từng bớc với các trờng chuẩn
quốc tế. Nh vậy, trờng trọng điểm quốc gia không phải là bất biến, nó luôn đợc
xác định theo điều kiện lịch sử và thời gian.
Giai đoạn từ 2000 đến 2010, đại học Kinh tế quốc dân vinh dự đợc Nhà
nớc chọn là 1 trong 12 trờng đại học trọng điểm quốc gia để thực hiện tập trung
đầu t theo chiều rộng và chiều sâu (Quy hoạch hệ thống mạng lới các trờng Đại
học và cao đẳng Việt Nam giai đoạn đến năm 2020). Dự án Xây dựng Nhà
quản lý trung tâm Đại học Kinh tế Quốc dân với mức kinh phí khoảng 500 tỷ
đồng là một minh chứng sinh động nhất. Vấn đề đặt là phải tiếp tục đổi mới xây
dựng trờng sao cho xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nớc và nhân dân.
Đổi mới bắt đầu từ đâu và từ bao giờ là những vấn đề hết sức phức tạp còn
nhiều tranh luận, nhng rõ ràng đã đến lúc phải đa ra những phơng án cụ thể nếu
nh không muốn quá muộn. Đổi mới phải đợc bắt đầu từ tổ chức bộ máy với cơ
cấu tổ chức hợp lý hơn và công tác cán bộ liên quan đến cụ thể của quá trình
đổi mới. Nếu chỉ quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất mà xem nhẹ hoặc chậm
chạp trong việc đổi mới cơ chế quản lý và công tác cán bộ thì cũng không thể
6
xây dựng thành công trờng trọng điểm quốc gia theo yêu cầu của Đảng và Nhà
nớc.
I.1.3. Những yêu cầu cơ bản đối với cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng
trọng điểm quốc gia.
Xây dựng trờng trọng điểm quốc gia là quá trình chuyển biến trờng đại
học cả về chất và về lợng.
Trớc hết, quá trình chuyển biến về chất là yêu cầu quan trọng bậc nhất
đối với một trờng đợc xác định là trọng điểm quốc gia. Chuyển biến về chất là
quá trình đầu t phấn đấu nhằm nâng dần chất lợng mọi mặt của nhà trờng, từ
chất lợng đội ngũ đến chơng trình, giáo trình, phơng pháp giảng dạy hoặc các
điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy mà tựu chung là chất lợng cao
của sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đợc hởng thụ quá trình đào tạo.
Tiếp theo, chuyển biến về lợng quá trình mở rộng quy mô đào tạo nhằm
tăng thêm vị thế của nhà trờng với xã hội. Tăng về quy mô đào tạo đòi hỏi nhà
trờng phải tăng đội ngũ cũng nh những điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho đào
tạo và nghiên cứu khoa học.
Sự chuyển biến về chất và về lợng trong nhà trờng đã ảnh hởng rất lớn
đến công tác quản lý và tổ chức bộ máy của nhà trờng. Chính vì vậy đó là
nguyên nhân phát sinh những thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy trờng trọng
điểm quốc gia so với các trờng đại học khác. Sau đây là một số yêu cầu cơ bản
đối với cơ cấu tổ chức bộ máy trờng trọng điểm quốc gia:
* Giảm bớt mối quan hệ trực tuyến giữa lãnh đạo nhà trờng với các đơn
vị cơ sở. Xây dựng quan hệ thông suốt tạo thuận lợi cho sự chỉ đạo của cấp trên
và cấp dới, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận liên quan.
* Tăng cờng phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
đơn vị thành viên trong tổ chức nhằm phát huy năng lực của các tổ chức thành
viên và cá nhân.
* Xác định cơ cấu hợp lý giữa các đơn vị thành viên là các phòng, ban
chức năng tham mu và các đơn vị phục vụ với các đơn vị đào tạo. Tăng cờng
các đơn vị chuyên hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng tiến
7
bộ kỹ thuật. Mạnh dạn đa mô hình công ty tổ chức dịch vụ các trờng học để
thực hiện xã hội hoá các khâu phục vụ.
* Thực hiện mô hình trờng 3 cấp hoặc 4 cấp tuỳ theo quy mô và yêu cầu
nhiệm vụ đợc giao của nhà trờng. Nếu nh quy mô của trờng dạy là con số
50.000 sinh viên thì mô hình trờng trọng điểm 3 cấp nh hiện nay không còn phù
hợp.
I.2. Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng trọng điểm quốc gia.
I.2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng trọng điểm quốc gia.
Mô hình cơ cấu tổ chức là các mối quan hệ giữa đơn vị thành viên đợc
xác lập trong một tổ chức dựa trên cơ sở quan hệ giữa cấp trên với cấp dới và
đồng cấp.
Các mối quan hệ này đợc thể hiện ở 3 nhóm nh sau:
Thứ nhất, quan hệ dọc, là quan hệ giữa cấp trên và cấp dới, giữa tổ chức
và cá nhân. Thực chất của quan hệ này là quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo. Quan hệ
này đợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc nhất quán: cá nhân phục tùng tổ
chức, tập thể, cấp dới phục tùng cấp trên. Đồng thời, quan hệ này còn dựa trên
nguyên tắc dân chủ, tức là mọi quyết định đợc coi là hợp lý của tổ chức đều dựa
trên sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số cán bộ, giáo viên, dựa trên lẽ phải và
sự công bằng.
Thứ hai, quan hệ chỉ đạo hớng dẫn chuyên môn nghiệp vụ.
Quan hệ này đợc hình thành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các đơn
vị phòng ban theo sự uỷ quyền của Hiệu trởng hớng dẫn, chỉ đạo các nghiệp vụ
đối vơí các đơn vị thuộc trờng. Chỉ đạo hớng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ là hoạt
động theo hệ thống ngành dọc từ cấp trên đối với các đơn vị tổ chức thành viện
dựa trên cơ sở chế độ chính sách Nhà nớc quy định và các quy định, nội quy
của Nhà trờng.
Thứ ba, quan hệ phối hợp thực hiện nhiệm vụ của nhà trờng.
Mối quan hệ phổ biến trong trờng là quan hệ phối, kết hợp giữa các đơn
vị vì mục đích và công việc chung của nhà trờng. Thông qua các quy định về
chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong trờng hình thành mối quan hệ phối,
8
kết hợp trong công tác. Quan hệ này thờng đợc trực tiếp chỉ đạo của lãnh đạo
nhà trờng hoặc hình thành một hoặc một số đơn vị có trách nhiệm chủ trì.
Cụ thể, các quan hệ này đợc thực hiện thông qua 3 mô hình các trờng
hiện có ở nớc ta hiện nay.
Mô hình 1: Đại học (Quốc gia hoặc vùng)- Trờng Đại học- Khoa- Bộ
môn.
Mô hình 2: Đại học Trờng Đại học- Khoa (Bộ môn).
Mô hình 3: Trờng Đại học Khoa Bộ môn.
(Tham khảo quy hoạch hệ thống mạng lới các trờng đại học và cao đẳng Việt
Nam giai đoạn đến 2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo).
I.2.2. Phân cấp quản lý ở một trờng trọng điểm quốc gia.
Hiện nay, vấn đề phân cấp là vấn đề còn nhiều tranh luận, cha đi đến
thống nhất. Đặc biệt cha có văn bản nào quy định việc phân cấp của một trờng
trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên có thể tham khảo một số ý kiến:
- Phân cấp quản lý về việc tạo công ăn việc làm: Vấn đề cần xem xét ở
đây là liệu một trờng trọng điểm quốc gia có đợc tạo công ăn việc làm cho các
đơn vị con của mình nh các khoa, trung tâm viện không? Liệu các khoa và
trung tâm có đợc tự mình đứng ra tổ chức tuyển sinh không?
Nếu các khoa và trung tâm đợc tự mình tuyển sinh, có thể có một số
điểm:
Thuận lợi: Giảm đầu mối quản lý, giảm công việc cho lãnh đạo cấp trên,
tạo ra đợc sự nhanh chóng trong quá trình tuyển sinh thuận lợi cho ngời học và
ngời tuyển sinh, tạo đợc sự cạnh tranh trong nội bộ nhà trờng giữa các đơn vị.
Khó khăn: Lãnh đạo cấp trên khó quản lý, có thể gây ra hiện tợng tiêu
cực nh tham nhũng, lợi dụng chức quyền để tuyển sinh không đúng.
- Phân cấp quản lý về tài chính: Số tiền trờng đợc Nhà nớc giao liệu có
nên để các phòng ban, khoa, viện đợc tự quản lý chi tiêu bằng cách tính theo số
giáo viên, học sinh của khoa cũng nh những chi phí hoạt động cần thiết của các
đơn vị rồi giao cho các đơn vị không?, quỹ lơng có nên giao cho từng đơn vị
quản lý hay không?
9
Nếu để các đơn vị tự quản lý chi tiêu cũng có hai mặt:
Khó khăn: Khó xác định đợc liệu mỗi đơn vị nên đợc giao bao nhiêu, tính
bằng cách nào để phân bổ số tiền Nhà nớc đầu t một cách hợp lý? Nên tính bình
quân bằng số giáo viên và sinh viên của khoa để phân chia không?. Liệu có
quản lý đợc việc chi tiêu của các đơn vị không?
Thuận lợi: Các đơn vị tự chi tiêu nên dễ kiểm soát số tiền và nó có thể là
hiệu quả nếu đơn vị biết sử dụng hợp lý, giảm sự quản lý quá nhiều cho cấp
trên.
- Phân cấp quản lý về mặt pháp nhân: Việc đóng dấu, ký một số vấn đề hiệu
trởng có nên giao cho trởng, phó các đơn vị không?
Thuận lợi: Lãnh đạo cấp trên có thể tập trung vào những việc quan trọng, có
định hớng chiến lợc hơn. Các thủ tục đợc đơn giản hoá tạo thuận lợi cho ngời
cần xin dấu.
Khó khăn: Liệu các lãnh đạo cấp dới có làm đúng đợc chức năng nhiệm vụ
này không, có thực sự chịu trách nhiệm khi làm sai không?
I.2.3. Đặc điểm của mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng trọng điểm
quốc gia.
Khi nghiên cứu mô hình cơ cấu tổ chức cho thấy một số đặc điểm sau
đây:
+ Mô hình cơ cấu tổ chức đợc xây dựng trên cơ sở quy mô tính chất, đặc
điểm hoạt động của tổ chức và quy định của cấp có thẩm quyền.
+ Mô hình cơ cấu tổ chức đợc hình thành dựa trên cơ sở mối quan hệ bền
vững theo chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức. Mối quan hệ này về danh
nghĩa là quan hệ giữa tập thể và tập thể nhng lại đợc thực hiện giữa cá nhân với
cá nhân.
+ Mô hình cơ câú tổ chức có thể là một hệ thống các quan hệ 2 cấp, 3 cấp
hoặc nhiều cấp hơn nữa tuỳ theo quy mô, tính chất phức tạp của tổ chức. Các
cấp này thể hiện mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dới (quan hệ dọc), quan hệ
chỉ đạo và lãnh đạo của các cấp cùng tuyến.
10
+ Quan hệ trong mô hình cơ cấu tổ chức đợc quy định thành các văn bản
mang tính chất pháp lý có giá trị điều chỉnh chung rằng buộc mọi cá nhân trong
một tổ chức.
+ Mô hình cơ cấu tổ chức có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động
của một tổ chức thông qua hiệu lực và hiệu quả điều hành của bản thân cơ cấu
tổ chức.
Riêng đối với mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của trờng trọng điểm quốc
gia ngoài những đặc điểm trên đây còn có một số khác biệt sau đây:
- Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy ít nhất là 3 cấp trở lên (gồm các trờng,
khoa, bộ môn).
- Có sự phân cấp mạnh mẽ trong hệ thống quan hệ dọc do quy mô của trờng
là lớn hoặc rất lớn nên quản lý tập trung sẽ không hiệu quả.
Trờng trọng điểm có sứ mệnh là trờng đầu ngành phải đợc xây dựng theo mô
hình mới tơng xứng, phù hợp với vị thế và quy mô của nó. Cần nhận thức mô
hình trờng trọng điểm không hợp lý sẽ là một lực cản mạnh đến sự phát triển
của bản thân nhà trờng và sẽ ảnh hởng đến sự phát triển của các trờng đại học.
Ngợc lại, mô hình tổ chức bộ máy với cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện
cho các trờng đại học phát triển dựa trên cơ sở phân công, phân cấp, sử dụng
một cách khoa học lao động; đồng thời phát huy cao độ tiềm năng, sức mạnh
của trờng, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong quản lý.
Nh vậy xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức trờng trọng điểm quốc gia là kết
quả của quá trình nghiên cứu sứ mệnh, tính chất, chức năng, nhiệm vụ đợc giao
của nhà trờng. Không thể quy định mô hình một cách giáo điều, máy móc, cứng
nhắc mà cần có sự phân tích toàn diện các nhân tố tác động trên cơ sở kinh
nghiệm ở trong và ngoài nớc để lựa chọn mô hình cơ cấu tổ chức một cách tối u
nhất.
I.3. Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới và Việt Nam trong việc xây dựng
trờng trọng điểm quốc gia
Xây dựng trờng trọng điểm quốc gia không chỉ riêng có Việt Nam mà nó
cũng đợc nhiều nớc trên thế giới và khu vực tiến hành. Tuy nhiên, quan niệm,
11
cách thức tiến hành xây dựng trờng trọng điểm quốc gia ở mỗi nớc là có những
khác biệt. ở các nớc t bản phát triển, hệ thống giáo dục đại học đã hoàn thiện,
vai trò đầu tàu và vị thế của các trờng trong hệ thống giáo dục đại học đã đợc
khẳng định qua cơ chế cạnh tranh. Xây dựng các trờng trọng điểm trên cơ sở tập
trung hỗ trợ đầu t của Nhà nớc chủ yếu diễn ra ở các nớc đang phát triển nhằm
tạo ra các đầu tàu trong lĩnh vực giáo dục quốc dân. Qua nghiên cứu quá trình
hình thành và phát triển, nghiên cứu mô hình của một số trờng lớn trên thế giới
và khu vực, em xin rút ra một số kinh nghiệm làm cơ sở cho việc vận dụng vào
Việt Nam để xây dựng trờng trọng điểm quốc gia nh sau:
1. Nh phần mở đầu đã đề cập ở các nớc phát triển, không có khái niệm tr-
ờng trọng điểm quốc gia, mà chỉ có trờng đại học tổng hợp của quốc gia (toàn
quốc) và trờng đại học tổng hợp của các bang, chức năng. Đó là các trờng đại
học nổi tiếng của các nớc và khu vực, có uy tín cao đối với xã hội nhờ bề dày
lịch sử thành tích và truyền thống lâu đời trong đào tạo.
2. Thông thờng là các trờng đào tạo đa ngành đa lĩnh vực (tổng hợp) có
khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ đào tạo ở những ngành rất khác biệt. Quá
trình hình thành của các trờng này là quá trình phát triển đa ngành nhằm đáp
ứng mọi nhu cầu khác nhau của xã hội, đa ngành, đa lĩnh vực còn thể hiện sự
mềm dẻo, linh hoạt trong đào tạo khi nhu cầu thay đổi. Trong quá trình phát
triển một số ngành, lĩnh vực phát triển lên thành thế mạnh của từng trờng, thậm
chí có những ngành không phát triển đợc.
3. Mô hình tổ chức của các trờng có thể là 3 cấp hoặc 4 cấp, trong đó họ
đề cao vai trò của khoa, nơi đào tạo các chuyên ngành theo yêu cầu của xã
hội và cấp bộ môn, trực tiếp thực hiện giảng dạy.
ở Mỹ, dới cấp trờng đại học (University) là cấp trờng (College nhng
không gọi là trờng đại học) hoặc khoa (Faculty), dới cấp College hoặc
Faculty là bộ môn (Department).
ở Anh, dới cấp trờng đại học (University) là các trờng (School), hoặc
học viện (institute), hoặc khoa (Faculty). Dới cấp School (hoặc institute,
hoặc Faculty) là bộ môn (Department).
12
ở úc, dới cấp trờng đại học (University) là khoa (Faculty) và dới cấp
khoa là bộ môn (Department).
ở Việt Nam, (trờng đại học Quốc gia) dới cấp trờng đại học là trờng con,
dới cấp trờng là khoa và dới khoa là bộ môn. Đợc thành lập trong hoàn cảnh
khó khăn, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện trách
nhiệm cao, rất tâm huyết và bớc đầu đã triển khai có kết quả một số hoạt động
về tổ chức, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở vật chất và mở rộng
quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cũng đã bộc lộ những mặt
yếu, những bất cập về mô hình tổ chức, về cơ chế quản lý (ở thành phố Hồ Chí
Minh bao gồm nhiều trờng, còn ở Hà Nội thì cha có các trờng công nghệ). Do
cha nhận thức rõ tiêu chí của một ĐHQG cho nên còn có những ý kiến khác
nhau về mô hình tổ chức và phơng thức triển khai. Điều này không khỏi ảnh h-
ởng đến sự phát triển của hai ĐHQG.
4. Quy mô đào tạo của các trờng lớn trên thế giới thờng khoảng từ 20.000
đến 40.000 sinh viên. Đây là quy mô phù hợp với yêu cầu đào tạo có chất lợng
cao.
5. Đảm bảo chuẩn quốc tế trong đào tạo, có khả năng liên thông đào tạo
ở mọi cấp, mọi hệ đào tạo với nhiều trờng ở nhiều nớc khác nhau trên thế giới.
Giá trị của văn bằng không chỉ đợc công nhận ở trong nớc mà còn đợc thừa
nhận ở cấp quốc tế.
6. Cơ sở vật chất của các trờng là đồng bộ và hoàn thiện, đáp ứng đầy đủ
mọi nhu cầu cho đào tạo và nghiên cứu khoa học nh: hệ thống giảng đờng hiện
đại, trang thiết bị tiên tiến, thông tin nối mạng toàn cầu, ký túc xá, sân chơi đáp
ứng mọi yêu cầu, diện tích trờng có nơi lên đến vài trăm hecta.
7. Trên thực tế có nhiều loại trờng và có sự phân cấp rõ ràng về mục tiêu
và cấp đào tạo cho từng loại trờng, đặc biệt trong hệ công lập. Các trờng đều có
sự liên thông với nhau qua việc kiểm tra về chất lợng về các mặt khác nhau nh
tỷ lệ giảng viên/ sinh viên, th viện, giáo trình, trang thiết bị, cơ sở vật chất
khác
13
8. Các trờng tổng hợp toàn quốc và của các bang, các vùng ở các nớc
phát triển là những trờng có đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và phục vụ quá
trình đào tạo khá đồng bộ và hợp lý về cơ cấu (cơ cấu theo ngành nghề, cơ cấu
theo loại cán bộ, cơ cấu theo lứa tuổi, cơ cấu theo trình độ ) đầy đủ về số lợng,
cao về chất lợng. Đội ngũ này chẳng những đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lợng
cao, mà còn đủ sức tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc, các yêu cầu mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội nh: biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo chất
lợng cao phổ biến toàn thế giới, nghiên cứu các vấn đề đang đặt ra của thời đại,
nghiên cứu cơ bản định hớng phát triển các ngành, các lĩnh vực khoa học
Phần II: Phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức của
đại học Kinh tế quốc dân hiện nay
II.1 Đại học Kinh tế quốc dân 45 năm trởng thành và phát triển
Trờng Kinh tế tài chính (nay là Trờng đại học Kinh tế Quốc dân) đợc
thành lập theo Nghị định số: 678/TTg, ngày 25-1-1956. Theo Nghị định này Tr-
ờng đợc đặt trong hệ thống đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tớng
chính phủ.
Ngay từ khi mới thành lập trờng có nhiệm vụ đào tạo và bổ túc kiến thức
kinh tế cho cán bộ quản lý kinh tế tài chính kịp thời phục vụ cho công cuộc kiến
thiết đất nớc đang diễn ra sôi động. Với sự nỗ lực của Nhà trờng và đợc sự quan
tâm của Thủ tớng chính phủ, ngày 5 tháng 3 năm 1956 khoá học đầu tiên của
Trờng kinh tế tài chính đã khai giảng tại khu Đấu Xảo cũ (nay là cung văn hoá
hữu nghị Việt Xô). Khi đó trờng có 149 cán bộ công nhân viên, trong đó có 30
giáo viên, 5 phiên dịch trung văn. Phơng tiện học tập, ăn ở của thầy và trò còn
nhiều thiếu thốn. Song với sự nỗ lực của nhà trờng, tháng 10 năm 1958 sau 18
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét