Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo tại Mỏ than Hà lầm

lời nói đầu
Trong giai đoạn hiện nay khi xu hớng toàn cầu hoá và khu vực hoá
đang trở nên phổ biến thì hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đóng vai trò
quan trọng trong tiến trình kinh tế xã hội của một quốc gia. Với Việt Nam,
một quốc gia đang trong giai đoạn đầu của một quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá "Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hớng u tiên, là trọng
điểm kinh tế đối ngoại". Hoạt động xuất khẩu mà các ngành kinh tế tham gia
đem lại cho đất nớc một lợng ngoại tệ khá lớn phục vụ cho quá trình xây
dựng và đổi mới đất nớc.
Công ty Giầy Thăng Long là một trong những con chim đầu đàn của
Tổng Công ty Da - Giầy Việt Nam chuyên sản xuất giầy xuất khẩu sang
nhiều nớc trên thế giới. Với chức năng sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu
giầy đang phát triển đi lên trong điều kiện khó khăn nhiều mặt, đặc biệt là sự
cạnh tranh gay gắt ở cả trong và ngoài nớc, thị trờng truyền thống bị biến
động Để đứng vững và phát triển, Công ty cần không ngừng hoàn thiện
chiến lợc phát triển lâu dài, đề ra phơng hớng và biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu trong từng giai đoạn cụ thể.
Qua thời gian thực tập 4 tuần tại Công ty Giầy Thăng Long thuộc Tổng
Công ty Da giầy Việt Nam em xin đợc báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt
động của Công ty Giầy Thăng Long.
I. Khái quát về công ty giầy thăng long
1. Khái quát lịch sử hình thành của Công ty Giầy Thăng Long
Công ty Giầy Thăng Long là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc Tổng
Công ty Giầy Da Việt Nam đợc thành lập theo quyết định số QĐ 210 ngày
14/4/1990 của Bộ Công nghiệp. Trụ sở tại đờng Nguyễn Tam Trinh - Mai
Động - Hai Bà Trng - Hà Nội. Tên giao dịch "Thăng Long Shoes Company".
Sản phẩm chủ yếu của Công ty là giầy vải, giầy thể thao xuất khẩu.
Từ khi thành lập và xây dựng cho đến đầu năm 1993 Công ty thực hiện
hợp đồng xuất khẩu mũ giầy cho Liên Xô. Nhng do mới thành lập, máy móc
thiết bị không đồng bộ, tay nghề của công nhân cũng nh trình độ quản lý sản
xuất của cán bộ quản lý cha cao nên năng suất còn thấp, không đạt chỉ tiêu,
nhiệm vụ đề ra. Đến năm 1993 thị trờng Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hàng
loạt các nhà máy trong đó có Công ty Giầy Thăng Long lâm vào tình trạng
mất thị trờng và không có việc làm cho ngời lao động. Công ty đã thực sự gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm thị trờng và bạn hàng cho mình nhằm duy trì sự
tồn tại. Mặt khác Công ty còn khá non trẻ, vốn do Nhà nớc cấp.
Xuất phát từ việc tìm hiểu nhu cầu sử dụng giầy nội địa và đặc biệt là
xuất khẩu cho bạn hàng nớc ngoài, Công ty đã chủ động gia tăng nguồn vốn
kinh doanh bằng việc vay lãi của ngân hàng và các nhà đầu t, thậm chí huy
động cả nguồn vốn của cán bộ công nhân viên trong Công ty để mạnh dạn
trang bị máy móc thiết bị hiện đại phù hợp với thị trờng và thị hiếu ngời tiêu
dùng.
Tháng 8/1996 Công ty đã đầu t thêm máy móc thiết bị, xây dựng nhà x-
ởng, mở rộng qui mô sản xuất. Tính đến 31/12/1999, cơ sở sản xuất của
Công ty nh sau:
1. Nguồn vốn chủ sở hữu : 65 tỷ đồng
2. Số lao động : 1900 cán bộ công nhân viên
3. Tổng doanh thu : 80 tỷ đồng
4. Thu nhập bình quân : 700.000 đồng/ngời
2. Chức năng, nhiệm vụ.
2.1. Công ty
a. Chức năng.
- Sản xuất giầy dép và sản phẩm từ da.
- Xuất nhập khẩu trực tiếp.
+ Xuất khẩu: Giầy dép và sản phẩm từ da.
+ Nhập khẩu: Vật t nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.
b. Nhiệm vụ.
- Thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự chủ động và
tuân theo qui định của pháp luật.
- Nghiên cứu thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lợng
các mặt hàng do công ty sản xuất, kinh doanh nhằm tăng cờng sức mạnh
cạnh tranh và mở rộng thị trờng tiêu thụ.
2.2. Các phòng ban.
- Ban giám đốc.
+ Giám đốc là ngời đứng đầu công ty là ngời đại diện cho quyền lợi và
nghĩa vụ của công ty trớc cơ quan cấp trên, trớc pháp luật và đồng thời là ng-
ời điều hành quản lý mọi hoạt động của công ty thông qua sự giúp đỡ của
phó Giám đốc và các phòng ban chức năng.
+ Một Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật.
+ Một Phó giám đốc phụ trách kinh doanh.
+ Một Phó giám đốc xuất nhập khẩu.
- Phòng tổ chức hành chính.
+ Tuyển dụng lao động
+ Công tác bảo hiểm xã hội, văn th lu trữ.
- Phòng kinh doanh: gồm 2 phòng kế hoạch vật t và phòng xuất nhập
khẩu có nhiệm vụ.
+ Lập kế hoạch mua sắm thiết bị, vật t, quản lý vật t, nguyên liệu phụ.
+ Nghiên cứu thị trờng trong và ngoài nớc, lên kế hoạch sản xuất và
giao hàng cho từng hợp đồng.
- Phòng tài vụ: Thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán của công
ty, quản lý các nguồn thu, đảm bảo vốn cho mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Phòng bảo vệ: Giữ gìn an ninh trật tự, an toàn trong công ty và bảo vệ
nội bộ doanh nghiệp.
- Phân xởng cơ điện: Tiến hành theo dõi và sửa chữa toàn bộ hệ thống
cung cấp điện, nớc, máy móc thiết bị theo định kỳ và thờng xuyên.
- Xí nghiệp I: Gồm 2 phân xởng.
+ Phân xởng chuẩn bị giày vải.
+ Phân xờng chuẩn bị giày thể thao.
- Xí nghiệp II: Gồm 3 phân xởng cán luyện cao su, phân xởng ép đế,
phân xởng làm keo.
- Xí nghiệp III: Gồm 2 dây chuyền sản xuất giầy vải với 3 phân xởng
may, phân xởng giầy và phân xởng vệ sinh, kiểm tra, đóng gói.
- Xí nghiệp IV: Gồm 1 dây chuyền sản xuất giầy thể thao đồng thời có thể
sản xuất giầy vải. Xí nghiệp này cũng có 3 phân xởng nh xí nghiệp III.
II- Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Tình hình sản xuất tiêu thụ giầy trên thế giới.
Tính từ đầu thập kỷ 90 đến nay, tình hình sản xuất và tiêu thụ giầy dép ở
các nớc trên thế giới mỗi năm một tăng với tốc độ tăng trởng tơng đối cao.
Đó là do sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân ở các nớc phát triển tăng
nhanh chóng, giá bán sản phẩm rẻ và nhanh lạc hậu về mẫu mã.
Ta có thể đánh giá đợc mức tăng trởng nhu cầu tiêu thụ mặt hàng giầy
dép trên thế giới qua bảng liệt kê mức tiêu dùng giầy dép của 2 khu vực thị
trờng có mức tiêu thụ giầy dép lớn nhất là Mỹ và EU.
Bảng tiêu dùng giầy dép của Mỹ và EU.
Đơn vị tính: Tỷ USD.
Năm
Thị trờng
1985 1990 1995 Dự đoán 2002
Mỹ 22.8 31.4 35.6 45
EU 17.5 35.2 36.4 40
(Nguồn Global Tracle information Services)
Ngoài 2 thị trờng có mức tiêu thụ hàng năm giầy dép nh trên thì trong
những năm gần đây các thị trờng nh Nhật, Đông Âu và Nga cũng là những n-
ớc tiêu dùng mặt hàng giầy dép tơng đối lớn.
Đặc điểm của các khu vực thị trờng chủ yếu của công ty:
Thị trờng EU: Đây là một thị trờng đông dân khoảng 370 triệu ngời có
mức tiêu dùng giầy dép bình quân đầu ngời rất cao 5-6 đôi/ngời/năm.
Hàng năm EU nhập khoảng 900 triệu đôi giầy dép các loại. Tuy nhiên
sản phẩm tiêu thụ trên thị trờng này đỏi hỏi phải đạt tiêu chuẩn chất lợng
quốc tế, hợp thời trang.
Hiện nay có trên 11 quốc gia thuộc EU (Anh, Pháp, Italia, Đức, Hà
Lan ) tiêu thụ sản phẩm giầy của công ty. Giá trị xuất khẩu sang các nớc
này bao giờ cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của công
ty.
+ Thị trờng Mỹ và Bắc Mỹ.
Tiềm năng tiêu thụ ở thị trờng này rất lớn. Với dân số gần 400 triệu ng-
ời, mức tiêu thụ giầy dép thuộc một trong những nớc tiêu thụ cao nhất thế
giới, khoảng 1,8 tỷ đôi/năm. Riêng Mỹ 1,5-1,6 tỷ đồng/năm. Mặc dù Mỹ tiêu
thụ khối lợng lớn nh vậy nhng họ chỉ sản xuất đợc 10-15% khối lợng tiêu
thụ. Do vậy đây là một thị trờng mà công ty cần chú trọng trong tơng lai gần
đây là thị trờng quan trọng số một của công ty nhất là khi Việt Nam và Mỹ
đã tiến hành bình thờng hoá mối quan hệ.
+ Thị trờng Nhật.
Nhật Bản với dân số gần 130 triệu ngời là một cờng quốc có tiềm năng
sản xuất nhng do thiếu lao động, giá cả sức lao động cao, sức ép cạnh tranh
ngày càng yếu nên sản xuất bị thu hẹp trong những năm gần đây. Hiện nay
Nhật trở thành quốc gia nhập khẩu giầy dép lớn nhất thế giới. Theo thống kê
hàng năm nhập khoảng 300 triệu đôi. Tuy nhiên thị trờng này đòi hỏi rất cao
về chất lợng sản phẩm mẫu mã đa dạng và phong phú xong phải phù hợp với
bản sắc văn hoá phơng Đông của họ. Do đó công ty cần phải khai thác triệt
để cơ hội này. Vì vậy công ty đang có định hớng đổi mới công nghệ, tạo
nhiều sản phẩm có chất lợng cao mẫu mã đẹp. Ngoài ra cần tận dụng về lợi
thế nhân công, vị trí địa lý gần, giảm cớc phí vận chuyển để nâng cao u thế
cạnh tranh của công ty.
+ Thị trờng Nga và các nớc Đông Âu.
Đây vốn là bạn hàng truyền thống của công ty. Thị trờng này mấy năm
gần đây đã có nhiều thay đổi. Các quan hệ buôn bán với nớc ngoài đợc mở
rộng hơn. Nhu cầu tiêu thụ giầy dép ở khu vực này tơng đối lớn, hơn nữa sản
phẩm lại không đòi hỏi chất lợng cao. Nói chung đây là thị trờng dễ tính lại
vốn có mối quan hệ truyền thống nhng nhiều doanh nghiệp lại e dè vì khả
năng cũng nh công thức thanh toán ở thị trờng này. Hiện nay Chính phủ Việt
Nam và Nga đang tìm mọi nỗ lực để giải trừ ách tắc trong khâu thanh toán.
2. Môi trờng bên trong doanh nghiệp.
Tháng 08/1996 công ty đã đầu t mở rộng thêm một dây chuyền thiết bị
đồng bộ để sản xuất mặt hàng mới đó là hàng thể thao nhằm đa dạng hoá sản
phẩm, tận dụng triệt để năng lực sản xuất hiện có của công ty nh nhà xởng,
năng lực sản xuất cao su và đế giầy. Đồng thời công ty cũng cải tiến dây
chuyền này để có thể sản xuất đợc cả giầy vải khi không có đơn hàng giầy
thể thao. Mặt khác trong giai đoạn này loại giầy vải thể thao đang đợc a
chuộng trên thị trờng quốc tế.
Việc công ty đầu t đổi mới công nghệ là hoàn toàn đúng đắn và hợp lý
với xu thế. Việc đầu t này đã thu hút hơn 400 lao động nữa đa tổng số lao
động của công ty lên 1073 ngời với thu nhập 416.000 đ/tháng và năng lực sản
xuất của công ty từ 750.000 sản phẩm lên 1.035.000 sản phẩm/1999 và trong
số đó xuất khẩu sang thị trờng Châu Âu chiếm 90%.
Tháng 09/1997 công ty chủ động đầu t thêm một dây chuyền lắp ráp
giầy vải nữa nhằm tận dụng năng suất của bộ phận may mũ giầy và keo dán
đồng thời để tận dụng diện tích mặt bằng nhà xởng. Kết quả thu hút thêm lao
động và nâng cao năng lực sản xuất từ 1.035.000 sản phẩm lên 1.640.000 sản
phẩm/năm.
Năm 2001 tổng số công nhân là 1.900 ngời, giá trị tổng sản lợng 64 tỷ
đồng. Doanh thu đạt 84 tỷ đồng, công ty phấn đấu đến hết năm 2000 sẽ đa
giá trị tổng sản lợng đạt 1.178 tỷ đồng, doanh thu 148,4tỷ đồng. Điều này có
thể thực hiện bởi vì tính vào thời điểm này so với cùng kỳ năm trớc số lợng
hợp đồng sản xuất của công ty với nớc ngoài có tăng, công ty đã tăng ca để
đạt đợc tiến độ sản xuất đảm bảo đơn đặt hàng.
3. Tình hình các doanh nghiệp cạnh tranh.
Công ty có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trờng đặc biệt trong lĩnh
vực xuất khẩu vốn đã là thế mạnh của công ty. Ví dụ Công ty giầy vải Thợng
Đình, Công ty giầy Thuỵ Khuê nhng hiện nay đối thủ cạnh tranh lớn nhất
của công ty là các sản phẩm giầy của Trung Quốc vì giá bán của nó rất rẻ
(chỉ bằng 1/3 giá bán sản phẩm của công ty), mẫu mã phong phú đa dạng nh-
ng chất lợng thì không bằng. Đó cũng là u thế mà công ty phải biết tận dụng.
III- Đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Đánh giá kết quả kinh doanh.
Thời gian qua công ty đã khắc phục đợc sự hụt hẫng về thị trờng do đó
mặt kim ngạch xuất khẩu tăng lên qua các năm. Năm 2000 so với 1999 là
181%, 2001 so với 2000 là 117%. Công ty đã tập trung vào chất lợng cao
mẫu mã phù hợp với ngời tiêu dùng.
Ngoài ra công ty còn giảm lực lợng gián tiếp, tăng cờng lực lợng kinh
doanh trực tiếp thông qua việc tăng nhân viên ở phòng kinh doanh xuất nhập
khẩu. Công ty biết sử dụng phát huy năng lực của cán bộ, luôn cử cán bộ đi
học nâng cao trình độ chuyên môn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó trong công ty vẫn tồn tại một số nhợc điểm nh:
- Cha đảm bảo đợc sự đa dạng mặt hàng chủng loại.
- Chính sách tập trung vào một thị trờng trọng điểm EU rất có thể gặp
nhiều rủi ro trong sự biến động của thị trờng doanh nghiệp. Giả thiết EU có
chính sách mới ngăn cản hàng Việt Nam vào EU thì hoạt động của công ty
hoàn toàn bế tắc. Công ty cha chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trờng
quảng cáo.
- Sức mua trong nớc chậm, khả năng cạnh tranh các mặt hàng ở nớc ta
yếu do đồng tiền của các nớc xung quanh mất giá mạnh.
- Nhu cầu tiêu thụ hàng hoá của Châu á giảm làm giá thế giới một số
mặthàng giảm trong đó có giầy.
- Còn lệ thuộc vào đối tác nớc ngoài, phải qua nhiều khâu trung gian để
đa sản phẩm đến ngời tiêu dùng cuối cùng. Phơng thức chủ yếu hiện nay là
gia công theo hình thức máy móc thiết bị do đối tác nớc ngoài cung cấp
không thanh toán hoặc trả chậm, đồng thời đối tác cung cấp đơn hàng, bao
tiêu sản phẩm. Phơng thức này hiện đã giúp công ty không phải vay vốn để
đầu t vào sản xuất ổn định để tồn tại song mang tính phụ thuộc nên hiệu quả
kinh tế thấp.
2. Đánh giá công tác quản trị kinh doanh.
2.1. Theo chức năng quản trị.
2.1.1. Hoạch định.
Trong định hớng phát triển, công ty đã đặt thị trờng xuất khẩu lên hàng
đầu. Thị trờng là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lu thông
hàng hoá. ở đâu có sản xuất và lu thông hàng hoá thì ở đó có thị trờng.
Thị trờng xuất khẩu hàng hoá của công ty là một vấn đề phức tạp và
quan trọng trong quá trình quyết định chiến lợc của công ty. Việc lựa chọn
thị trờng là một quá trình đánh giá các cơ hội thị trờng và xác định hớng thị
trờng xuất khẩu. Trên cơ sở năng lực sản xuất tiềm năng sẵn có và những
thuận lợi mà công ty đang có cùng cơ hội từ thị trờng thế giới, công ty đã đa
ra định hớng lựa chọn thị trờng xuất khẩu nh sau:
- Thứ nhất: Tập trung chủ yếu vào thị trờng EU. Công ty dự kiến tỷ
trọng tiêu thụ giầy dép của EU so với các loại thị trờng chiến lợc của công ty
năm 2002: 80%, năm 2004: 70%.
- Thứ hai: Thu hút khách hàng tiềm năng và mở rộng thị trờng sang
Mỹ, Bắc Mỹ và Nhật Công ty đã đa ra chiến lợc kinh doanh dự kiến tỷ
trọng tiêu thụ giầy dép ở thị trờng Mỹ, Bắc Mỹ, thị trờng Nhật năm 2002 t-
ơng ứng là 10,3% và 5,2%, năm 2004 là 16,1% và 6,9%.
- Thứ ba: Tìm và nối lại quan hệ với các bạn hàng truyền thống nh Nga
và các nớc Đông Âu. Dự kiến tỷ trọng tiêu thụ giầy dép ở thị trờng Nga và
Đông Âu so với các thị trờng chiến lợc khác năm 2002 là 4,5%, 2004 là 7%.
Ta có thể tóm tắt qua bảng mục tiêu tỷ trọng trong từng loại thị trờng
Bảng mục tiêu tỷ trọng từng loại thị trờng.
Đơn vị tính: %
Năm
Thị trờng
2002 2004
Thị trờng EU 80 70
Thị trờng Mỹ, Bắc Mỹ 10,3 16,1
Thị trờng Nhật 5,2 6,9
Thị trờng Nga và Đông Âu 4,5
100
7
100
Nguồn: Chiến lợc kinh doanh của Công ty Giầy Thăng Long
Tuy nhiên trớc mắt công ty nên tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sang thị tr-
ờng EU, thị trờng mà nhu cầu các mặt hàng giầy dép rất lớn, hơn thế nữa lại
có mối quan hệ làm ăn trong mấy năm qua. Còn đối với thị trờng Mỹ, Nhật
cần phải có thời gian khi quan hệ kinh tế, ngoại giao giữa Nhà nớc ta và Nhà
nớc họ đợc mở rộng.
2.1.2. Tổ chức.
Công ty giầy Thăng Long đợc tổ chức theo cơ cấu quản lý trực tuyến
chức năng. Đây là một cơ cấu quản lý mà toàn bộ công việc đợc giải quyết
theo một kênh liên hệ đờng thẳng giữa cấp trên và cấp dới trực thuộc. Chỉ có
lãnh đạo quản lý ở từng cấp mới có nhiệm vụ và quyền hạn ra mệnh lệnh và
chỉ thị cho cấp dới (tức là mỗi phòng ban, xí nghiệp của công ty chỉ nhận
quyết định của một thủ trởng cấp trên theo nguyên tắc trực tiếp). Giám đốc
công ty là ngời ra quyết định cuối cùng cũng nh để hỗ trợ cho quá trình quyết
định của giám đốc các bộ phận chức năng. Các bộ phận chức năng này không
ra lệnh một cách trực tiếp cho các đơn vị cấp dới mà chỉ nghiên cứu, chuẩn bị
các qui định cho lãnh đạo, quản lý và thực hiện các hớng dẫn kiểm tra giám
sát chỉ đạo việc thực hiện các mục tiêu trong phạm vi chức năng chuyên môn
của mình.
2.1.3. Lãnh đạo.
Trong sản xuất kinh doanh xuất khẩu, con ngời là chủ thể của hoạt động
quyết định hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Cơ chế thị trờng cạnh tranh
gay gắt đòi hỏi con ngời phải có trình độ nghiệp vụ cao, đặc biệt là năng
động. Với sự trởng thành và phát triển, Công ty giầy Thăng Long đã có một
lực lợng cán bộ công nhân viên đông đảo giàu kinh nghiệm, tay nghề cao. Về
quản lý, công ty phải xây dựng lại hệ thống tổ chức quản lý phân định rõ
trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận. Hệ thống tổ chức quản lý có vai
trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Nó nh là một hệ thống xơng cốt
có tác dụng vận hàng sự hoạt động của công ty.
2.1.4. Kiểm soát.
Sau một vụ giầy sản xuất từ tháng 8 năm nay đến hết tháng 4 năm sau
công ty thờng tiến hành kiểm tra lại lỗ lãi. Nếu hoạt động có lãi công ty tiếp
tục phát huy, nếu ngợc lại bị lỗ Ban Giám đốc công ty cùng với phòng kế
hoạch tiến hành họp bàn rút kinh nghiệm. Công việc này đợc thực hiện thờng
xuyên.
2.2. Theo các hoạt động tác nghiệp.
Trong định hớng phát triển của mình công ty đã đặt thị trờng xuất khẩu
lên hàng đầu, thị trờng EU đã và sẽ tiếp tục là khu vực chiếm tỷ trọng tiêu
thụ giầy dép lớn nhất cho công ty. Tuy nhiên trong thời gian tới công ty tiếp
tục đàm phán mở rộng thị trờng sang một số khu vực khác nh Mỹ, Nhật, Nga
và Đông Âu nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà quan hệ kinh tế và
ngoại giao giữa Nhà nớc ta và Nhà nớc họ đã đợc bình thờng hoá quan hệ và
ngày càng mở rộng.
Để nắm vững đợc các yếu tố của thị trờng, hiểu biết về qui luật vận
động của chúng nhằm ứng xử kịp thời, các nhà lãnh đạo của công ty đã tiến
hành các hoạt động về nghiên cứu thị trờng.
Nguyên vật liệu là một khâu quan trọng tạo nên chất lợng tốt, nguyên
vật liệu tốt kết hợp với mẫu mã đẹp sẽ tạo ra sản phẩm tốt. Vì vậy công ty rất
chú trọng đến khâu nguyên vật liệu cho sản phẩm.
Công ty khai thác nguyên vật liệu theo hai nguồn:
+ Nguồn trong nớc (chỉ khâu, cao su)
+ Nguồn nớc ngoài (hoá chất).
IV. những đề xuất cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty giầy thăng long.
- Đề nghị Chính phủ hoàn thiện cơ chế tổ chức Tổng Công ty và có giải
pháp hỗ trợ cùng với sự nỗ lực của Tổng Công ty để đảm bảo vai trò chủ đạo
trong toàn ngành Da - Giầy Việt Nam.
- Đối với ngành Da - Giầy, thời hạn vay vốn đầu t trong kế hoạch cần từ
7-10 năm. Chỉ với thời hạn nh vậy, các doanh nghiệp mới có doanh nghiệp
hoàn trả vốn vay mà không phải chiếm dụng từ nguồn khác. Do vậy đề nghị
Nhà nớc điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
- Hiện nay, công ty chủ yếu là gia công đang chịu sức ép cạnh tranh
không tơng sức với các doanh nghiệp đầu t nớc ngoài đề nghị Nhà nớc chỉ
đánh thuế lợi tức nh mức đối với doanh nghiệp đầu t nớc ngoài.
- Đề nghị Nhà nớc có những qui định về XNK tránh ách tắc, phiền hà,
chậm trễ ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh XNK của công ty.
- Để bảo hộ sản xuất trong nớc, đề nghị Nhà nớc có biện pháp kiên
quyết và có hiệu quả ngăn chặn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đồng thời có
biện pháp hỗ trợ ngành Da - Giầy trong việc tìm kiếm thị trờng mới. Có nh
vậy, công ty mới có thể thành công trong việc tìm kiếm thị trờng.
Kết luận
Xuất nhập khẩu là tất yếu khách quan và có vai trò hết sức quan trọng
đối với các quốc gia. Đặc biệt là ở nớc ta, xuất khẩu là con đờng đi tới công
nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách nhanh nhất. Kinh doanh trong nớc trong
điều kiện kinh tế thị trờng đã khó, kinh doanh xuất khẩu còn khó hơn nhiều
bởi đây là quan hệ kinh tế quốc tế. Song dù khó khăn và phức tạp đến đâu,
nếu có sự quản lý đúng đắn của Nhà nớc, thông qua chính sách vi mô, sự vận
dụng năng lực sáng tạo của công ty phát triển hơn nữa, công ty sẽ nâng cao
đợc uy tín của mình trên thị trờng.
Với kiến thức học đợc trang bị ở trờng, cùng với sự tìm hiểu thực tế để
đi tới một số kiến nghị với mong muốn góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu của công ty, tôi hy vọng cùng với thời gian, công ty ngày càng
vững mạnh và phát triển không ngừng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của
nền kinh tế thị trờng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét