Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở VN

toàn cầu hoá đang diễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là kinh
tế.
Nh vậy, nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các tập
đoàn kinh doanh, các quốc gia có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên
phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển.
Đây là cơ sở đầu tiên của nền kinh tế toàn cầy thống nhất.
Hai là: các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển:
Chính nền công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ đã trở thành cơ sở
cho các quan hệ kinh tế toàn cầu. Trớc hết là quan hệ thơng mại, chi phí vận
tải liên lạc giảm đi thì khả năng buôn bán trao đổi giữa địa phơng quốc gia,
khu vực tăng lên. Cùng với nó quá trình phân công chuyên môn hoá sản xuất
diễn ra giữa các quốc gia, liên tục càng dễ dàng. Các linh kiện của máy bay
Boing, ô tô, máy tính đã không phải là sản phẩm của một bớc mà của rất
nhiều nơi trên thế giới.
Thơng mại toàn cầu, sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu đã kéo theo
đồng vốn, tiền tệ, dịch vụ vận động trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, lợng
buôn bán tiền tệ toàn cầu đã vợt xa con số 1500 tỷ USD. Trong đó, ta thấy
rằng, thơng mại điện tử xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt.
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy
đã ngày càng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia. Các quốc
gia các khu vực, xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế. mang
bản chất chính trị nhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết
kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật và Hội đồng tơng trợ kinh tế SEV giữa các
quốc gia xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay lại hình thành nên các tổ chức nh
APEC, AFTA, NAFTA, Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy
mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên với
đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra
đời các cam kết này đã, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tờng
thành quốc gia, rào cản quốc gia. Các nớc thành viên của tổ chức thơng mại
5
thế giới (WTO) cũng đã cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối
với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép thơng mại đối với các
nớc có vẻ nh đã mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN)
đối với Trung Quốc.
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó
khăn gì để có thể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu.
Môi trờng ngày càng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt;
dân số thế giới tăng nhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng
vốn toàn cầu vận động tự do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến các cuộc khủng hoàng liên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu á trong
thời gian vừa qua; chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc
sự đối đầu giữa các siêu cờng, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển
mới
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu
hoá kinh tế với những đặc trng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế
và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa
phơng và toàn cầu, tức là các biên giới quốc gia về thơng mại đầu t đang tiên
vong. Thứ hai là, các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở
mọi quốc gia, trên các lĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là
sự xoá bỏ các biên giới về đầu t, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác.
Tuy nhiên, đến đây chúng ta lại phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi:
làm thế nào để giải quyết sự trói buộc của hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng
trăng đồng tiền khác nhau, trao đổi theo các tỷ giá thả nổi bấp bênh? Làm thế
nào để dung hợp đợc với hệ thống luật pháp các quốc gia thủ cựu? Có cấn
đến "một bàn tay hữu hình toàn cầu" không? Và nh vậy toàn cầu hoá kinh tế
không thể tránh khỏi toàn cầu hoá về chính trị, an ninh, văn hoá, xã hội ?
1.3. Hai mặt của toàn cầu hoá.
Có ngời đã cho rằng: toàn cầu hoá là con dao hai lỡi. Thực tế cũng đã
cho thấy khi diễn ra hội nghị, diễn đàn bàn về vấn đề đẩy mạnh toàn cầu hoá
6
thì bên cạnh sự ủng hộ của một bộ phận quần chung là thái độ kịch liệt phản
đối, biểu tình gay gắt của không ít ngời lao động khác. Tại sao vậy? Quả
thực, toàn cầu hoá không mang lại cơ hội phát triển cho tất cả quốc gia, tất cả
ngời lao động trên thế giới. Toàn cầu hoá không hẳn là một tơng lai rực sáng
không phải là một thiên đờng cho các nền kinh tế mà toàn cầu hoá là lò lửa,
là một quá trình thử thách, đấu tranh sinh tồn. Mỗi mặt tích cực mà nó mang
lại luôn đi với mặt hạn chế nảy sinh từ đó.
Toàn cầu hoá đa ra một thị trờng tiêu thụ mở rộng cho hàng hoá dịch
vụ. Thị trờng không hạn chế một nớc, một khu vực, hay một châu lục nữa mà
đã là thị trờng toàn cầu. Lúc này không ai khác chính bản thân sản phẩm
quyết định sự tồn tại của nó. Mỗi hàng hoá và dịch vụ phải đứng trớc một
môi trờng cạnh tranh gay gắt. Nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ chịu sức
ép vô cùng lớn từ bên ngoài. Không nhìn đâu xa, Việt Nam là một ví dụ phù
hợp cho vấn đề này. Quả thực, hàng hoá Việt Nam ngày nay đã có mặt nhiều
nơi trên thế giới và ban đầu đã gây uy tín không nhỏ thị trờng nớc ngoài ở
Việt Nam không chỉ là gạo, cà phê, thuỷ hải sản mà còn là sản phẩm may
mặc, hàng thủ công mỹ nghệ không ít các Công ty TNHH t nhân Việt
Nam có nhiều chi nhánh ở nớc ngoài. Đây là dấu hiệu của khả năng cạnh
tranh lành mạnh của hàng hoá, dịch vụ nớc ta. Bên cạnh đó, thị trờng Việt
Nam đã đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hàng hoá mang nhãn hiệu của
các nớc khu vực và thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải
cạnh tranh với những u thế của ngời bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ,
mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngoại" của
ngời dân nớc ta. Với những khó khăn đang phải đối mặt liệu các doanh
nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến.
Có thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát
triển và chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng
pháp quản lý tiên tiến từ các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho
các nớc nhận rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai
7
đoạn từ nghiên cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho
các nớc đang phát triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng
cũng chính dòng chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phơng pháp quản lý tiên tiến
này tạo ra một thế lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém
hiệu quả. Trong một giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân
đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc vào tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề cho xã hội Chính phủ cần giải
quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên
kết kinh tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan.
Đây là điều kiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt
đối xử trong kinh tế trong các quan hệ mua bán và giao lu quốc tế. Không
những thế các nớc chậm phát triển đợc hởng u đãi đặc biệt, chế độ tối huệ
quốc, đợc cung cấp thông tin tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, đợc bảo
đảm các quyền thông qua các tổ chức quám sát, giám định quốc tế. Chính vì
vậy, các nớc chậm phát triển có điều kiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu
các chính sách tài chính có bắt kịp yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc
khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga, trong những năm 1997 - 1998 vẫn
còn là những bài học sâu sắc cảnh báo cho các nớc có tình hình tơng tự.
Điểm cuối cùng nh phần tất yếu của xu thế toàn cầu hoá đã trình bày,
đó là các vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự
mình giải quyết đơn lẻ. Xu thế toàn cầu hoá tạo nền sự liên kết, hợp tác giữa
các quốc gia để cùng có lợi, tạo ra sức mạnh tổng hợp chống lại sự phân biệt
đối xử sự đan xen phụ thộc lẫn nhau có còn có tác động hai mặt, các nền
kinh tế sẽ nhạy cảm hơn với các biến động quốc tế, nhng đồng thời những
rủi ro có tính chất cá biệt cũng đợc phân tán. Do đó các nớc đang phát triển
có thể đạt đợc sự ổn định tơng đối vốn hết sức cần thiết.
Trong thơng mại và giải quyết tranh chấp dựa trên những định chế
kinh tế tài chính bình đẳng. Đây là điều kiện để các nớc chậm phát triển phát
huy tối đa lợi thế của mình. Tuy nhiên nền kinh tế toàn cầu hoá sẽ phụ thuộc
8
ngày càng nhiều vào các tổ chức quốc tế và khu vực: các hiệp định đa phơng,
Công ty xuyên quốc gia, liên minh kinh tế, tài chính mà trong một chừng
mực nhất định nằm ngoài tầm kiểm soát của các Chính phủ. Nh vậy, mặt
khác, một mặt trái của nền kinh tế tài chính là sự suy giảm bản sắc dân tộc,
chủ quyền kinh tế song lại gia tăng sức ép kinh tế, chính trị. Sự hạn chế về
khả năng kiểm soát của các cổ phần còn biểu hiện ở tình trạng tội phạm
xuyên quốc gia, việc truyền bá nền văn hoá phi nhân bản
Toàn cầu hoá là con dao hai lỡi, nhng là xu thế tất yếu khách quan mà
bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể đứng ngoài cuộc. Vì vậy việc sử dụng
nó nh thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là cả một nghệ thuật tinh xảo.
2. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
2.1. Việt Nam tất yếu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hoá ngày một phát triển mạnh mẽ, các quốc gia
nhập kinh tế quốc tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau ở mức độ này hay mức độ
khác, thì việc đóng cửa với thế giới là đi ngợc xu thế thời đại và khó tránh
khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển. Trái lại, mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế, tuy có thể phải trả giá nhất định (nh chúng ta đã xem xét mặt trái của
toàn cầu hoá) song đó là yêu cầu tất yếu hớng tới sự phát triển của mỗi nớc.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy hoạch chung này.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung căn bản của toàn cầu hoá,
nội dung thứ hai là tự do hoá kinh tế. Nh vậy, nên hiểu toàn cầu hoá là một
quá trình quốc tế kinh tế bao gồm hai quá trình phát triển song song (đã nêu
trên tự do hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế) thì toàn cầu hoá có nghĩa
là các quan hệ kinh tế không những đợc tự do phát triển trên phạm vi toàn
cầu mà còn phải tuân theo những cam kết toàn cầu đa dạng. Do đó Đảng và
Nhà nớc ta đã xác định t tởng đúng đắn cho nền kinh tế nớc ta. Chủ động hội
nhập, chỉ có chủ động hội nhập thì nớc ta mới giữ gìn đợc bản sắc dân tộc
trong tốc độ toàn cầu hoá hiện nay. Chỉ có chủ động hội nhập mới đón bắt
đợc những nguy cơ tiềm ẩn và giành lấy những cơ hội quý báo để phát triển
kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu đa dạng, phong phú. Chỉ có chủ động hội
9
nhập, Đảng và Nhà nớc mới có đợc những quyết định sáng suốt trong quá
trình toàn cầu hoá kinh tế gắn liền với toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, xã
hội.
Khi nghiên cứu cuộc khủng hoàn kinh tế Thái Lan năm 1997, các nhà
kinh tế học cho rằng: toàn cầu hoá tự bản thân nó không là nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng mà chính là cái cách thức ngời ta điều hành quá trình của
cuộc khủng hoảng toàn cầu hoá. Tham gia vào một nền kinh tế thế giới rộng
lớn hơn có thể là một sự trợ giúp cho nền kinh tế trong nớc phát triển song
chắc chắn rằng: thành công hay thất bại của các nớc chủ yếu dựa vào công
nhân của nớc đó dựa bào các chính sách và đầu t của Chính phủ. Các nhà
kinh tế học cũng đã khẳng định: các nớc mà hiện nay đang vấp phải vô vàn
khó khăn trong quá trình hội nhập thì không phải là họ không biết lợi dụng
hiện tợng toàn cầu hoá mà bởi vì họ đã không thể trang bị cho mình một cách
kịp thời những thể chế và những cán bộ điều hành cần thiết để làm chủ quá
trình hội nhập toàn cầu. Lấy Thái Lan làm ví dụ. Một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự sụp đổ nền kinh tế năm 1997 là do Thái Lan đã không làm
chủ đợc dòng vốn từ nớc ngoài. Từ những năm 1990 Thái Lan đã dỡ bỏ hết
mọi hàng rào kiểm soát ngặt nghèo sự dịch chuyển t bản qua biên giới, do đó
dòng chảy t bản đã ào ạt vào Thái Lan dới hình thức đầu t ngắn hạn, và sau
đó lại rút ra hết sức nhanh chóng gây nên sự rối loạn thị trờng tài chính. Do
đó các nhà kinh tế đã đa ra các biện pháp chủ yếu để cần thiết, tiếp tục một
chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh, cải cách thể chế và làm chủ dòng chảy t
bản quốc tế. Nh vậy có nghĩa là Thái Lan phải tham giatt quốc tế một cách
ổn định tốc độ vừa phải và thực sự chủ động trong quá trình hội nhập đó bằng
những hành lang thể chế. Bởi vì nếu không chủ động thì sự tự do hoá sẽ dẫn
đến tình trạng vô Chính phủ, nền kinh tế không tồn tại và phát triển lâu dài đ-
ợc.
Bởi vì Thái Lan cũng là một quốc gia thuộc Châu á, cùng chung những
điều kiện tự nhiên và xã hội với Việt Nam, cũng vấp phải những khó khăn mà
nớc ta đang trải qua. Cho nên nền kinh tế Thái Lan là một bài học đắt giá đối
10
với nớc ta về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Và cũng từ đó để thấy rằng chủ
động hội nhập kinh tế toàn cầy là con đờng đúng đắn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình phát triển của nớc ta.
2.2. Nội dung và hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
Với kim chỉ nam nh trên, việc nghiên cứu nội dung và hình thức hội
nhập kinh tế quốc tế không chỉ là nhu cầu cấp bách mà còn là nhiệm vụ quan
trọng sự phát triển kinh tế đất nớc.
2.2.1. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) hiện nay có thể là một tổ chức kinh
tế toàn cầu có sức mạnh nhất với các Hiệp nghị có nội dung có tính chất chi
phối các kinh tế quốc tế thể hiện rõ nhất nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay. Các vấn đề mang tính nguyên tắc đợc rút từ đợc cam kết ông đàm
phán (diễn ra từ khi hiệp định chung về thơng mại và thiếc quan GATT năm
1947 tại Genevơi cho đến nay). Đó là:
Về thơng mại hàng hoá.
Thứ nhất là, giảm thuế nhập khẩu và bỏ hàng rào phi quan thuế. Thuế
nhập khẩu cao và các biện pháp phi quan thuế thực tế là hàng rào ngăn cản
quá trình hội nhập quốc tế của các quốc gia. Các biện pháp phi quan thuế đã
phát triển hết sức tinh vi và đa dạng và không có cách nào định lợng đợc các
hàng rào đa dạng này. ở không ít các nớc, mức thuế nhập khẩu thấp nhng
hàng rào phi quan thuế tinh vi đã không cho hàng hoá nhập vào. Chính vì
vậy, ngời ta đã kết luận là phải sớm xoá bỏ hàng rào này và quy về biện pháp
bảo hộ duy nhất là thuế nhập khẩu. Với hàng rào này, ngời ta có thể định l-
ợng cao thấp, cam kết hạ dần hàng rào và quan trọng là có thể kiểm soát việc
thực hiện cam kết. Mức thuế suất đối với hàng nhập khẩu từ các nớc công
nghiệp sẽ giảm từ 6,3% xuống 3,9%. Đối với mức giảm thuế quan các thành
viên WTO (tức là GATT) cam kết thực hiện tự do hoá thơng mại và dịch vụ,
chống bán phá giá, đảm bảo quyền sở hữu trí tựu
Thứ hai là công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các chủ
thể và cá nhân trong và ngoài nớc trên lãnh thổ của mình.
11
Lấy Mỹ và Việt Nam làm ví dụ. Nguyên tắc này cho phép các Công ty
Việt Nam sang Mỹ kinh doanh xuất nhập khẩu và ngợc lại với tất cả mọi
quyền nh Công ty của nớc sở tại, có nghĩa là sẽ thiết lập một môi trờng kinh
doanh bình đẳng ở mọi quốc gia, tạo ra một thế giới tơng đối thống nhất với
các chsủ thể kinh doanh và quyền hoạt động toàn cầu. Đây là con đờng phát
triển bởi áp lực cạnh tranh sẽ tăng lên, động lực phát triển sẽ tăng cờng. Bởi
vì sự xuất hiện của các Công ty nớc ngoài hùng mạnh vào hoạt động thì buộc
các Công ty trong nớc phải vơn mình để tồn taị và phát triển.
Về thơng mại dịch vụ:
Hiệp định dịch vụ của WTO quy định các nớc mở cửa thị trờng dịch
vụ cho nhau theo 4 phơng thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ
của nớc thành viên này sang lãnh thổ thành viên khác. (2) tiêu dùng ngoài
lãnh thổ. (3) hiện diện thơng mại của Công ty một nớc thành viên lãnh thổ
một thành viên khác với các hình thức lập liên doanh, chi nhánh, Công ty
100% vốn đầu t nớc ngoài. (4) hiện diện chủ nhân, di chuyển t nhân. WTO
cũng đã quy định: khi đàm phán mở cửa thị trờng dịch vụ, các nớc phát triển
theo phơng pháp loại trừ tức là không chấp nhận dịch vụ nào thì đa ra đàm
phán, còn các nớc đang phát triển đợc quyền chỉ đa ra đàm phán lĩnh vực
nào đợc chọn mở cửa.
Về đầu t, WTO cha có đợc một hiệp định chung mà mới chỉ có một số
quy đọnh về đầu t có liên quan đến thơng mại.
WTO cũng đã có những quy định trong các lĩnh vực khác.
Hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trì trệ.
Quy định không phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia áp dụng
cho các đầu t và dịch vụ tức là không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu hàng
sản xuất trong nớc.
Quy định về việc công bố công khai và minh hạch tất cả các chính
sách kinh tế, thơng mại của các nớc thành viên.
Cho phép các nớc có hành động tự vệ trong trờng hợp cần thiết để bảo
vệ cán cân thanh toán, ngành công nghiệp non trẻ bị bên ngoài tấn công.
12
Quy định về chế độ u đãi cho các nớc đang phát triển, những nớc có
nền kinh tế chuyển đổi về lộ trình thực hiện cam kết, có thể kéo dài 5 năm.
Các quốc gia muốn tham gia nhập WTO phải đàm phán, nội dung chủ
yếu của đàm phán là lộ trình dài, ngắn thực hiện các vấn đề có tính nguyên
tắc nêu trên chung không thể đàm phán không thực hiện.
2.2.2. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
Với sự phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp của các quan hệ kinh tế
thì cũng thể hiện ngày càng nhiều các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế. ở
đây chỉ nêu lên ba hình thức cơ bản, chủ yếu hiện nay.
1 - Các hiệp nghị kinh tế thơng mại song phơng.
Đây là hình thức hội nhập quốc tế phổ biến nhất và quan trọng nhất
không chỉ đối với các nớc phát triển mà đối với cả các nớc đang phát triển.
Mỹ là nớc có nền kinh tế phát triển nhất, hội nhập kinh tế quốc tế với vai trò
chi phối song chủ yếu và trớc hết vẫn đa vào các hiệp nghị kinh tế thơng mại
hai bên: Mỹ - Nhật, Mỹ - Châu Âu Nhật Bản hay các nớc NIESS cũng vậy.
Các quốc gia này, tay không tham gia vào các khối kinh tế song các quan hệ
hai bên của họ cũng đủ sức tạo ra cạnh tranh những lợi thế so sánh có lợi cho
họ trong cạnh tranh quốc tế. Ví dụ, các quốc gia ký hiệp định kinh tế, thơng
mại với Mỹ, dù chỉ là quan hệ giữa hai nớc nhng tổng lợng thị trờng hàng hoá
dịch vụ đầu t đã không thua kém bất kỳ một khối kinh tế nào. Mặc dù vậy
các hiệp định kinh tế dù có rộng lớn đến đâu vẫn có những hạn chế, đó là khi
phải đối diện với các vấn đề mang tính toàn cầu, những khối kinh tế hùng
mạnh.
2 - Các khối kinh tế khu vực.
Hiện nay, trên thế giới có thể kể đến hàng chục khối kinh tế khu vực
khác nhau, nhng hoạt động nổi bật hơn cả là: EU (Liên minh Châu Âu)
NAFTA (Khối kinh tế Bắc Mỹ), AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN),
APEC (Diễn đãn kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng) Tuy nhiên mức độ hợp
tác của các khối kinh tế này khác nhau. Có khi chỉ dừng lại ở mức độ thỏa
thuận buôn bán, có khối đã thoả thuận xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan
13
và phi thuế quan trong khối, có khối đã lập ra liên minh thuế quan, tạo lập ra
cả một thị trờng chung cho phép tự do thơng mại hàng hoá, dịch vụ vốn, lao
động. Nấc thang phát triển cao nhất hiện nay của các khối kinh tế là liên
minh kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU) bắt đầu hoạt động từ năm 1992 với
các chính sách: tiền tệ, tài chính, thơng mại công nghệ, an ninh chung, quốc
hội, toà án, đồng tiền chung
Việc ra đời các khối kinh tế có tác động quan trọng, thúc đẩy tự do
hoá thơng mại đầu ra, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trờng các quốc gia, tạo
lập ra những khu vực thị trờng rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiên
tiến
3 - Những tổ chức kinh tế toàn cầu:
Thứ nhất là các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ
kinh tế toàn cầu hiện có: Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO); Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), một số tổ chức kinh tế của Liên
hiệp quốc: VNDP, G8 (G7 Nga), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
DECD Hoạt động nổi bật nhất hiện nay vẫn là WTO, IMF, WB. Tuy nhiên,
cho đến nay mới chỉ có những cam kết quốc tế về thơng mại hàng hoá là tơng
đối có hiệu lực, còn các lĩnh vực chính sách tiền tệ, đầu t chu chuyển vốn,
bảo vệ, tiêu chuẩn về lao động và di chuyển lao động quốc tế, chống tham
nhũng vẫn cần có luật lệ toàn cầu hữu hiệu hơn. Ngay cả hoạt động của
IMF và WB cũng chỉ kiểm soát một phần dòng vốn, tiền tệ chính thức của
Nhà nớc, còn việc buôn bán tiền tệ, và dòng vốn t nhân vẫn vận động ngoài
vòng kiểm soát. Do đó việc cải tổ thích hợp những tổ chức này là điều cần
thiết trong thời gian tới.
Thứ hai là các tổ chức kinh doanh toàn cầu: đó là các Công ty xuyên
quốc gia với các con số đáng kể: 60.000 Công ty xuyên quốc gia với 500.000
chi nhánh, nắm 25% sản xuất thế giới, 50% mậu dịch quốc tế, 90% với đầu t
trực tiếp, trên 80% bản quyền kỹ thuật và công nghệ mới. Các đặc trng mới
hiện nay của các Công ty xuyên quốc gia là: (1) làn sóng sát nhập gia tăng,
chứng tỏ sức cạnh tranh toàn cầu ngày càng mạnh, đòi hỏi vốn, công nghệ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét