Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Tổng quan về hệ thống niêm yết trên thị trường chứng khoán

Mở ĐầU

Thị trờng chứng khoán là một thị trờng tài chính bậc cao, là kênh huy
động và phân phối vốn hiệu quả cho nền kinh tế, góp phần tạo tính thanh khoản
cho các loại chứng khoán niêm yết trên thị trờng. Trên thực tế, thị trờng
chứng khoán Việt Nam mới ra đời và đi vào hoạt động hơn 4 năm, qui mô thị
trờng còn nhỏ hẹp, số lợng, chủng loại chứng khoán niêm yết vẫn cha có sự
đột biến đáng kể, hệ thống các qui định liên quan đến hoạt động niêm yết
chứng khoán vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu mở rộng và phát triển thị trờng.
Trong thời gian tới, để phục vụ cho các công ty cổ phần vừa và nhỏ, Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội sẽ chính thức mở cửa hoạt động và theo sau sẽ
là hàng loạt vấn đề liên quan đến hệ thống niêm yết/ đăng ký giao dịch và giám
sát sau niêm yết.
Trớc những thách thức và nhu cầu phát triển thị trờng, việc duy trì một
hệ thống niêm yết với các tiêu chí và qui định niêm yết chặt chẽ, đầy đủ giúp
cho các công ty thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm một cách nghiêm túc hơn đối
với ngời đầu t, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát các tổ chức
niêm yết/ công ty quản lý quỹ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý nghĩa
then chốt trong việc củng cố lòng tin của ngời đầu t và góp phần thúc đẩy thị
trờng phát triển bền vững. Đây cũng là động lực cho chúng tôi tiến hành
nghiên cứu, tổng kết các mặt hoạt động của hệ thống quản lý chứng khoán niêm
yết trên thị trờng Việt Nam và mô hình các nớc có thị trờng chứng khoán
phát triển ổn định. Đây cũng là cơ sở để xây dựng luận cứ khoa học cho đề tài
Hoàn thiện và phát triển hệ thống niêm yết chứng khoán trên thị trờng
chứng khoán Việt Nam.
Nội dung đề tài tập trung vào 3 phần chính bao gồm: giới thiệu tổng quan
về hệ thống niêm yết chứng khoán trên thị trờng giao dịch tập trung, thực
trạng hệ thống quản lý chứng khoán niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán Tp. HCM hiện nay, từ đó đa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát
triển hệ thống niêm yết chứng khoán cho thị trờng giao dịch tập trung trong
thời gian tới. Bằng việc sử dụng các phơng pháp thống kê đối với các số liệu
thực tế, phân tích và tổng hợp các hoạt động cụ thể trên thị trờng từ khi mới đi
5
vào hoạt động đến hết tháng 11/2004, toàn bộ hiện trạng của hệ thống niêm yết
sẽ đợc hệ thống hóa và phân tích theo từng nội dung và mảng nghiệp vụ. Trên
cơ sở đó, chúng tôi đa ra các giải pháp chủ yếu tập trung vào những vấn đề
sau:
- Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của hệ thống quản lý niêm yết;
- Hoàn thiện các nghiệp vụ niêm yết đang thực hiện và xây dựng các quy
trình thực hiện đối với các nghiệp vụ mới phát sinh;
- Các giải pháp liên quan đến hoạt động thu hút hàng hóa niêm yết trên thị
trờng.
Với hệ thống các giải pháp nêu trên, chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ đóng
góp một số nội dung thiết thực cho việc hoàn thiện và phát triển thị trờng
chứng khoán Việt Nam trong thời gian sắp tới.
6
CHƯƠNG I
Tổng quan về Hệ THốNG niêm yết
trên thị trờng chứng khoán

1. Tổng quan về hệ thống niêm yết
1.1 Khái niệm
Niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một chứng khoán nhất định
đợc phép giao dịch trên thị trờng giao dịch chứng khoán tập trung. Cụ thể,
đây là quá trình mà SGDCK (hoặc UBCK) chấp thuận cho chứng khoán đợc
phép niêm yết và giao dịch trên SGDCK nếu tổ chức phát hành chứng khoán đó
đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định lợng cũng nh định tính mà SGDCK
(hoặc UBCK) đề ra. Thông thờng, việc cấp phép niêm yết do SGDCK quyết
định. Tuy nhiên, ở những thị trờng mới thành lập thì UBCK thờng là cơ quan
có thẩm quyền cấp phép niêm yết.
Nhìn chung, các loại chứng khoán đợc niêm yết gồm cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ đầu t, chứng quyền, quyền mua cổ phiếu và các loại chứng
khoán khác (chứng khoán có tài sản đảm bảo
1
, chứng khoán phái sinh ). Tại
một số thị trờng, do khác biệt về cách thức giao dịch, trái phiếu và các loại
chứng khoán nợ khác có thể đợc tách ra giao dịch theo hệ thống riêng biệt so
với cổ phiếu và các chứng khoán vốn khác.
Để tạo lòng tin và bảo vệ quyền lợi cho ngời đầu t, các chứng khoán
đăng ký niêm yết phải đáp ứng các điều kiện niêm yết đợc quy định cụ thể
trong quy chế về niêm yết chứng khoán do SGDCK (hoặc UBCK) ban hành.
Thông thờng các điều kiện này đợc đặt ra nhằm thỏa mãn hai yêu cầu về duy
trì hoạt động liên tục của công ty niêm yết và đảm bảo tính thanh khoản của
chứng khoán. Yêu cầu về duy trì hoạt động liên tục của công ty niêm yết đợc
thực hiện thông qua cơ chế công bố thông tin, đảm bảo công chúng đầu t có cơ
hội ngang nhau trong việc nắm bắt thông tin. Yêu cầu về tính khả mại thể hiện

1
Chứng khoán có tài sản đảm bảo (ABS asset-backed securities): các chứng khoán là sản
phẩm của quá trình chứng khoán hóa
7
qua việc chọn lọc các chứng khoán có số lợng lu hành cao do các công ty có
quy mô và hoạt động tốt để có thể đợc mua bán dễ dàng trên thị trờng.
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu t, SGDCK có trách nhiệm quản
lý các chứng khoán đợc niêm yết để tạo ra một thị trờng hoạt động có trật tự
và công bằng. Chức năng quản lý chứng khoán niêm yết đợc thể hiện trên các
phơng diện:
- Giám sát việc duy trì điều kiện niêm yết;
- Giám sát việc thực hiện chế độ công bố thông tin, các quy định về
chứng khoán và thị trờng chứng khoán; và
- Giám sát việc thực hiện chế độ quản trị công ty.
Tóm lại, niêm yết chứng khoán là một quá trình bắt đầu từ khâu thẩm định
cấp phép niêm yết và tiếp theo là quá trình giám sát chứng khoán niêm yết kéo
dài liên tục cho đến khi chứng khoán không còn đợc niêm yết trên thị trờng.
1.2 Mục tiêu niêm yết
Niêm yết là khâu chọn lọc hàng hoá cho thị trờng chứng khoán, là một
phần quan trọng trong các quy định về chứng khoán và thị trờng chứng khoán
nhằm hỗ trợ thị trờng hoạt động ổn định và xây dựng lòng tin trong công
chúng đầu t đối với thị trờng chứng khoán. Hoạt động niêm yết nhằm những
mục tiêu sau:
- Lựa chọn hàng hoá có khả năng sinh lời ổn định: khả năng sinh lời là mục
tiêu mà nhà đầu t hớng tới khi đầu t vào một loại chứng khoán. Khả năng
sinh lời của công ty phản ánh qua hiệu quả hoạt động kinh doanh cao, cơ
cấu tổ chức hợp lý, ban lãnh đạo quản trị tốt và có tầm nhìn chiến lợc, đề ra
kế hoạch kinh doanh phù hợp, đội ngũ nhân viên làm việc tích cực, sáng tạo,
công ty có nhiều cơ hội phát triển trong tơng lai Những hàng hoá có khả
năng sinh lời sẽ thu hút nhà đầu t đến với thị trờng tạo nên một thị trờng
sôi động, chất lợng và từ đó tác động trở lại công ty giúp công ty huy động
vốn đầu t vào phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Lựa chọn hàng hoá có tính thanh khoản: một loại hàng hoá có tính thanh
khoản nghĩa là dễ dàng đ
ợc giao dịch trên thị trờng. Tính thanh khoản của
hàng hoá tạo sự an tâm cho ngời đầu t bởi vì khi muốn đầu t vào công ty
8
thì có thể mua và khi cần rút vốn có thể bán hàng hoá đó đi nhanh chóng.
Ngoài ra, hoạt động giao dịch của những hàng hoá có tính thanh khoản diễn
ra thờng xuyên tạo điều kiện cho nhà đầu t kiếm đợc nhiều lợi nhuận từ
sự chênh lệch giá. Chính điều này tạo nên u thế, sức hấp dẫn của thị trờng
chứng khoán để thu hút đông đảo nhà đầu t đến với thị trờng. Tính thanh
khoản của một loại hàng hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh khối lợng
chứng khoán đang lu hành trên thị trờng, tỷ lệ nắm giữ của cổ đông đại
chúng, các hạn chế giao dịch, khả năng sinh lời, quy mô và quá trình phát
triển lâu dài của công ty, triển vọng phát triển trong tơng lai, hoạt động
công bố thông tin chính xác, kịp thời
- Lựa chọn công ty có hoạt động minh bạch: minh bạch là một trong những
yêu cầu hàng đầu của thị trờng chứng khoán. đối với công ty, hoạt động
minh bạch giúp cho ban lãnh đạo đánh giá tình hình hoạt động một cách
đúng đắn từ đó đề ra chiến lợc kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế và
có sự phân phối nguồn lực hợp lý cho mục tiêu phát triển của công ty. đối
với thị trờng, hoạt động minh bạch đảm bảo công chúng đầu t nhận đợc
những thông tin chính xác của công ty về tình hình tài chính, hoạt động kinh
doanh, kế hoạch phát triển Đây chính là những cơ sở để ra quyết định đầu
t. Tóm lại, hoạt động minh bạch tạo nên hình ảnh tốt đẹp cho công ty từ đó
góp phần làm tăng giá trị nội tại và khả năng thu hút vốn từ công chúng đầu
t. Việc lựa chọn đợc những công ty có hoạt động minh bạch sẽ làm tăng
chất lợng và góp phần đảm bảo tính minh bạch cho thị trờng chứng
khoán.
1.3 Phân loại niêm yết
1.3.1 Phân theo thị trờng
- Thị trờng giao dịch tập trung: các chứng khoán niêm yết đợc giao dịch
mua bán tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ
thống máy tính của SGDCK. Các chứng khoán đ
ợc niêm yết trên SGDCK
thông thờng là chứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, hoạt
động sản xuất kinh doanh tốt, uy tín, có tiềm lực về tài chính và nhiều triển
vọng phát triển trong tơng lai. Các công ty này phải đáp ứng đợc một số
9
tiêu chuẩn nhất định (định tính, định lợng) ví dụ nh tiêu chuẩn về vốn cổ
phần, lợi nhuận, tình hình tài chính, số cổ đông bên ngoài và phải vợt
qua quá trình thẩm định niêm yết do các SGDCK/ UBCK tiến hành để đợc
niêm yết trên thị trờng giao dịch tập trung.
- Thị trờng giao dịch phi tập trung (thị trờng OTC- over-the-counter): là
một thị trờng đợc tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định
nh thị trờng giao dịch tập trung mà dựa vào một hệ thống vận hành theo
cơ chế chào giá cạnh tranh và thơng lợng. Thị trờng này tồn tại ở nhiều
địa điểm, tại bất kỳ nơi nào thuận lợi cho bên mua và bên bán thơng lợng
giá cả, giao dịch và thông tin đợc dựa vào hệ thống điện thoại và Internet
với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối. Tiêu chí để chứng khoán đợc giao
dịch trên thị trờng này thờng chỉ cần đảm bảo tính thanh khoản tối thiểu
và tổ chức phát hành hoạt động nghiêm túc, không lừa đảo. Do vậy, chứng
khoán giao dịch trên thị trờng OTC thờng có mức độ tín nhiệm thấp hơn,
độ rủi ro cao hơn các chứng khoán đợc niêm yết trên thị trờng giao dịch
tập trung. Các chứng khoán niêm yết trên thị trờng OTC chủ yếu là cổ
phiếu của các công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao, công ty mới thành
lập nhng có tiềm năng phát triển tốt; trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu
chính phủ, các chứng khoán phái sinh, . . . Thông thờng các công ty có
chứng khoán giao dịch trên thị trờng OTC là những công ty cha đủ điều
kiện niêm yết trên thị trờng tập trung, tuy nhiên cũng có trờng hợp các
công ty này đã đáp ứng đợc tiêu chuẩn niêm yết nh
ng do nhiều lý do khác
nhau nên họ vẫn muốn giao dịch trên thị trờng OTC.
1.3.2 Phân theo loại chứng khoán niêm yết:
Cùng với sự phát triển của thị trờng chứng khoán, chứng khoán - hàng
hóa của thị trờng - ngày càng phong phú, đa dạng cả về phơng diện chủng
loại và đặc tính chứng khoán. Nhìn chung, chứng khoán có thể đợc chia thành
các nhóm gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t, chứng khoán có thể
chuyển đổi và công cụ phái sinh. Mỗi loại chứng khoán sẽ có những quy định
về tiêu chuẩn niêm yết cũng nh quy trình thẩm định và cấp phép niêm yết
riêng phù hợp với đặc tính chứng khoán.
10
- Cổ phiếu: cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi
ích hợp pháp của ngời sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một
công ty cổ phần. Khi mua cổ phiếu, những ngời đầu t (cổ đông) sẽ trở
thành những ngời chủ sở hữu đối với công ty. Mức độ sở hữu đó tùy thuộc
vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng
nhau chia sẻ mọi thành quả cũng nh tổn thất trong quá trình hoạt động của
công ty. Trong trờng hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý hay phá sản, cổ
đông chỉ nhận đợc những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các
nghĩa vụ khác (nh thuế, nợ ngân hàng hay nghĩa vụ đối với trái phiếu).
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có 2
loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu u đãi.
để đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán, cổ phiếu của một công ty
phải trải qua quá trình thẩm định niêm yết và đáp ứng đợc các tiêu chuẩn
định lợng về thời gian hoạt động, vốn cổ phần, lợi nhuận, số lợng cổ đông
công chúng, số lợng cổ phần mà các thành viên chủ chốt cam kết nắm giữ,
các chỉ tiêu về tình hình tài chính; đồng thời phải đảm bảo các tiêu chuẩn
định tính khác nh cơ cấu tổ chức của công ty, khả năng quản lý của ban
lãnh đạo, việc áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty, triển vọng của công
ty trong tơng lai, những đóng góp của công ty cho ngành, nghề nói riêng và
nền kinh tế nói chung Trong quá trình thẩm định, SGDCK/ UBCK sẽ tiến
hành phân tích, đánh giá xem công ty có thỏa mãn đợc các tiêu chuẩn đặt
ra hay không; trên cơ sở đó chấp thuận hoặc từ chối cấp phép niêm yết cho
công ty.
- Trái phiếu: trái phiếu là một loại chứng khoán nợ quy định nghĩa vụ của
ngời phát hành (ngời vay tiền) phải trả cho ngời nắm giữ trái phiếu
(ngời cho vay) một khoản tiền xác định (lãi trái phiếu), thờng là trong
những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khối lợng vốn đã vay ban
đầu khi trái phiếu đáo hạn. Có nhiều loại trái phiếu nh
trái phiếu chính phủ,
trái phiếu chính quyền địa phơng, trái phiếu công ty (phân loại theo chủ thể
phát hành). Không giống nh cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và trái phiếu
chính quyền địa phơng đợc niêm yết theo quyết định của cấp có thẩm
quyền mà không phải trải qua quá trình thẩm định niêm yết vì đây là hai loại
11
trái phiếu đợc xem gần nh là không có rủi ro, do đợc chính phủ hoặc
chính quyền địa phơng đảm bảo thanh toán lãi và gốc khi đáo hạn. Riêng
đối với trái phiếu công ty thì vẫn phải qua quá trình thẩm định trớc khi
đợc cấp phép niêm yết và công ty cần đáp ứng đợc một số tiêu chuẩn về
vốn, lợi nhuận, tình hình tài chính, tỷ lệ nợ, số lợng ngời nắm giữ
- Chứng chỉ quỹ đầu t: là một loại chứng khoán do các quỹ đầu t chứng
khoán (quỹ đầu t tín thác, quỹ dạng hợp đồng) phát hành. Chứng khoán do
các quỹ đầu t dạng công ty phát hành thì đợc gọi là cổ phiếu. Quỹ đầu t
chứng khoán huy động vốn theo hai cách:
+ Cách thứ nhất, một công ty quản lý quỹ sẽ đứng ra huy động vốn bằng
cách lấy tổng khối lợng vốn dự kiến của quỹ chia nhỏ thành các phần
bằng nhau, mỗi phần tơng ứng với một chứng chỉ quỹ và công ty sẽ bán
các chứng chỉ ra công chúng nh là những đơn vị đầu t. Quỹ này đợc
gọi là quỹ đầu t dạng hợp đồng. Bản thân quỹ không có t cách pháp
nhân, công ty quản lý quỹ là bên đại diện thực hiện mọi hoạt động đầu t
theo đúng phơng án hoạt động của quỹ đợc công bố khi thành lập.
+ Cách thứ hai, một công ty đợc thành lập theo quy định của pháp luật
hiện hành sẽ phát hành các cổ phần ra công chúng. Khi mua cổ phần,
ngời đầu t trở thành cổ đông của quỹ và có đầy đủ các quyền do pháp
luật quy định. Bản thân quỹ là một công ty có t cách pháp nhân. Quỹ
này đợc gọi là quỹ đầu t dạng công ty.
Chứng chỉ quỹ muốn đợc niêm yết trên SGDCK cũng phải qua quá trình
thẩm định niêm yết của SGDCK/ UBCK để xem xét các tiêu chuẩn về
thời gian hoạt động của quỹ, tổng giá trị chứng chỉ quỹ, số lợng ngời
đầu t tối thiểu vào quỹ, chiến lợc đầu t
- Chứng khoán có thể chuyển đổi: là những chứng khoán cho phép ngời
nắm giữ có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác tuỳ theo lựa chọn và trong
những điều kiện nhất định. Thông thờng có cổ phiếu u đãi đợc chuyển
đổi thành cổ phiếu thờng và trái phiếu đợc chuyển đổi thành cổ phiếu
thờng. Các chứng khoán này đều phải qua quá trình thẩm định trớc khi
đợc cấp phép niêm yết tơng tự nh cổ phiếu và trái phiếu công ty. đặc
12
biệt khi phát hành những loại chứng khoán này sẽ tác động đến cơ cấu tài
chính của công ty nên tiêu chuẩn về tình hình tài chính đợc đánh giá kỹ khi
thẩm định.
- Chứng khoán phái sinh: là loại chứng khoán đợc hình thành dựa trên một
hay nhiều loại chứng khoán nền khác. Có nhiều loại chứng khoán phái sinh
nh:
+ Quyền mua cổ phần: là loại chứng khoán ghi nhận quyền u tiên dành
cho các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần đợc mua trớc một
số lợng cổ phần trong đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tơng ứng
với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại một mức giá xác định
thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng và trong một thời hạn nhất
định. Quyền mua cổ phần chỉ có hiệu lực trong một thời gian ngắn
(thờng là trong vòng vài tháng) cho nên thờng không đợc niêm yết
trên SGDCK.
+ Chứng quyền: là loại chứng khoán trao cho ngời nắm giữ nó quyền đợc
mua một số lợng xác định một loại chứng khoán khác, thờng là cổ
phiếu thờng, với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
Quyền này thờng đợc phát hành kèm trái phiếu hoặc cổ phiếu u đãi
nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu t tiềm năng mua các trái
phiếu hoặc cổ phiếu u đãi kém hấp dẫn.
+ Hợp đồng kỳ hạn: là một thỏa thuận trong đó một ngời mua và một
ngời bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lợng
xác định, tại một thời điểm xác định trong tơng lai với một mức giá
đợc ấn định ở hiện tại.
+ Hợp đồng tơng lai: là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ
mua hoặc bán một hàng hoá nào đó trong một thời hạn xác định ở tơng
lai theo một mức giá đã định trớc. Các hợp đồng t
ơng lai thờng đợc
chuẩn hoá và các bên tham gia giao dịch loại hàng hoá này chỉ thực hiện
thanh toán khoản chênh lệch do hợp đồng mang lại khi đến hạn hợp đồng
mà không phải thực hiện giao dịch hàng hoá liên quan.
13
Trên thị trờng chứng khoán Việt Nam, theo quy định hiện nay mới chỉ có
cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu t của quỹ đầu t công chúng là đợc
phép niêm yết và giao dịch trên thị trờng giao dịch tập trung.
1.4 Tiêu chuẩn niêm yết
Tiêu chuẩn niêm yết thông thờng do SGDCK/ UBCK của mỗi quốc gia
quy định, dựa trên cơ sở thực trạng của nền kinh tế, chính sách khuyến khích
phát triển kinh tế theo vùng, ngành, Nội dung và mức độ thắt chặt của các
tiêu chuẩn niêm yết khác nhau tùy mỗi quốc gia và mỗi SGDCK/ UBCK. ở các
nớc có thị trờng chứng khoán phát triển, các tiêu chuẩn niêm yết thờng chặt
chẽ hơn ở các thị trờng mới nổi. Các tiêu chuẩn niêm yết luôn đợc chia làm 2
nhóm: định tính và định lợng. Các tiêu chuẩn định tính là một trong những yếu
tố tạo nên đặc trng riêng của từng thị trờng.
1.5.1 Tiêu chuẩn định lợng
- Thời gian hoạt động từ khi thành lập công ty: để đăng ký cho chứng khoán
niêm yết trên thị trờng, tổ chức phát hành chứng khoán phải có nền tảng
kinh doanh vững chắc và thời gian hoạt động liên tục trong một số năm nhất
định tính đến thời điểm đăng ký niêm yết. Thông thờng, đối với các thị
trờng truyền thống, tổ chức đăng ký niêm yết phải có thời gian hoạt động
tối thiểu 3-5 năm, hoặc phải có cổ phiếu đã đợc giao dịch trên thị trờng
phi tập trung.
- Quy mô và cơ cấu sở hữu vốn cổ phần: quy mô của tổ chức phát hành phải
đủ lớn để tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán. Ngoài ra, để đảm bảo
tiêu chí đại chúng, số lợng chứng khoán do ngời đầu t công chúng nắm
giữ phải đạt mức tối thiểu theo quy định. Ví dụ, theo quy định hiện nay để
đợc cấp phép niêm yết cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán Việt Nam, tổ
chức phát hành phải có vốn cổ phần tối thiểu là 5 tỷ đồng, và phải có tối
thiểu 20% vốn cổ phần của công ty do ít nhất 50 cổ đông ngoài tổ chức phát
hành nắm giữ
2
.

2
Điều 20, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và
thị trờng chứng khoán.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét