Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn: " Nghiên cứu thực trạng các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam." pptx

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

4

. Bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các ngành nghề trong hộ
nông dân trong địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam ở những năm tới.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa bàn
xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian:Nghiên cứu thực trạng các ngành nghề trong hộ nông dân
trên địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa bàn xã
qua ba năm ( 2001- 2003).
Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ
ngày 12/01/2004 đến 01/ 05/ 2004.

















Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

5






CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ CỦA HỘ NÔNG DÂN

1.1.Vai trò của ngành nghề
Các ngành nghề phi nông nghiệp có vai trò rất to lớn đến sự phát triển của hộ
nông dân. Dưới hình thức là các hoạt động dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công truyền
thống, …Các hoạt động này đã giải quyết những vấn đề rất cơ bản của hộ.Các nhề
truyền thống (làm thêu, mây tre đan, làm đậu, làm bánh …) đã thu hút rất nhiều lực
lượng lao động ở địa phương, nhất là những lúc nông nhàn, đặc biệt đặc điểm địa
phương đất chật người đông, diện tích sản xuất cây lương thực thực phẩm ngày càng thu
hẹp, cộng thêm các dự án về quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị,
chương trình dãn dân là các yếu tố trực tiếp đẩy hộ nông dân vốn sản xuất nông nghiệp
là chính phải xem xét lại phương thức sản xuất của mình cho phù hợp. Từ đó các ngành
nghề phi nông nghiệp được coi là giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề dư lao động-
thiếu việc làm ở địa phương. Các nghề truyền thống là các nghề mà một số hộ giữ được
lợi thế tuyệt đối của mình trước ảnh hưởng của dư luận và thời gian mà mấu chốt đó là
các bí quyết sự lành nghề dẫn đến sản phẩm sản xuất ra đạt yêu cầu thị hiếu của cầu
tiêu thụ về phẩm chất, hình thức, kiểu dáng, chi phí, hàm lượng chất xám, độ tinh xảo.
Sự lành nghề có kĩ xảo, có năng lực được mang lại kết quả là các sản phẩm làm ra sẽ có
chi phí thấp lại được ưa chuộng tất yếu hộ sản xuất sẽ có thu nhập tốt, có sức ổn định.
Các vấn đề xã hội (như ma tuý, mại dâm, cờ bạc) đặt ra cho địa phương nơi mà cách xa
trung tâm tỉnh lỵ không xa đòi hỏi phải có phương án giải quyết xuất phát từ căn
nguyên của vấn đề: việc làm là vấn đề bức bách mà muốn có nhiều việc làm có thu
nhập, giải quyết sự nhàn nhã thì phát triển các nghành nghề phi nông nghiệp là giải
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

6

pháp hữu hiệu để giúp các thành viên của hộ không xa phải con đường tội lỗi xấu xa.
Việc làm ngoài ngoài nông nghiệp giúp hộ chủ động hơn dưới ảnh hưởng bất trắc (rủi
ro) của thời tiết, thiên nhiên, sâu bệnh.
Quá trình phát triển này sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ của địa phương theo
hướng giảm tỷ lệ nông nghiệp xuống và tăng giá trị ngành nghề phi nông nghiệp lên.
1.2.Một số khái niệm cơ bản
Ngành nghề trong các hộ nông dân bao gồm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và
các hoạt động dịch vụ cho sản xuất và đời sống. Các tổ chức hộ với mức độ khác nhau
đều có thể sử dụng các nguồn lực sẵn có ở địa phương như đất đai lao động, các sản
phẩm từ nông nghiệp và các nguồn lực khác cộng thêm các kinh nghiệm sản xuất kinh
doanh được tích luỹ kế thừa để làm ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Các ngành
nghề trong hộ được biểu trưng bởi số lượng các ngành nghề với quy mô các yếu tố sản
xuất, trình độ công nghệ được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng được
ưa chuộng và phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào. Sự phát
triển các ngành nghề trong các hộ nông dân là sự tăng số hộ có ngành nghề và sự
chuyển biến tích cực trong nội tại các ngành nghề mà hộ đảm nhận như công nghệ trình
độ tay nghề, sự lành nghề, sự đa dạng hoá sản phẩm cùng một đầu vào, chất lưọng sản
phẩm tăng lên Các ngành nghề mà hộ nông dân tổ chức có hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh
tế hộ phát triển từ đó phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
1.3. Đặc điểm ngành nghề nông thôn
Ngành nghề trong các hộ nông dân rất đa dạng: có ngành nghề lấy các sản phẩm
từ nông nghệp thuần tuý qua chế biến phục vụ nhu cầu sống của con người như nghề
làm bún, làm đậu phụ, nấu rượu ; có ngành nghề tận dụng vị trí gần trung tâm kinh tế
văn hoá để phát triển như làm thuê, may, đan, thêu, mộc, cơ khí ; với những hộ nằm
ngay đường trục chính thì có cơ hội tốt để phát triển nghề buôn bán thông thương và
làm dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghệp hay dịch vụ cho đời sống con người. Các
ngành nghề này có một số đặc điểm sau:
- Không hay ít chịu tác động của thời tiết khí hậu hơn nghề nông nghệp truyền thống.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

7

- Đất đai không phải là tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng lại là cơ sở để sản xuất
ngành nghề tồn tại và phát triển.
- Các ngành nghề có sử dụng các sản phẩm đầu vào từ nông nghệp ít nhiều chịu
ảnh hưởng của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp.
- Công nghệ dùng cho sản xuất kinh doanh có xen kẽ thủ công thô sơ và cơ khí.
- Quy mô ngành nghề hầu hết đều nhỏ.
- Phụ thuộc rất nhiều vào thị trường đặc biệt là các sản phẩm chế biến từ nông sản.
- Chất lượng các sản phẩm làm ra phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm tích luỹ của hộ.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các ngành nghề trong hộ nông dân
a. Nhân tố nội tại của hộ nông dân: Như tiềm lực về vốn, kinh tế sẵn có, trình độ năng
lực chuyên môn của chủ hộ.Hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình
về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình: Các quyết định đầu tư sản xuất
kinh doanh không phải ai khác mà chính do chủ hộ quyết định do đó trình độ của chủ
hộ, của các thành viên có sức ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tồn tại và phát triển cuỉa
hộ. Chủ hộ mà có kiến thức, có kinh nghiệm trên thị trường, trong xã hội, biết nắm bắt
thời cơ, biết vận động năng động trước rủi ro từ bên ngoài sẽ tạo cho hộ khả năng đứng
vững, phát triển bền vững trước thời cuộc.
b. Nhân tố thị trường: Những hộ chuyên ngành nghề nhất là chế biến các sản phẩm từ
đầu vào nông sản tạo ra sản phẩm có thời gian sử dụng thấp bảo quản khó khăn có yêu
cầu gay gắt về thị trường.
c. Nhân tố địa lý: Hộ nằm trên các trục đường chính, gần khu đông đúc dân cư càng có
điều kiện kinh doanh dịch vụ tốt hơn.
d. Nhân tố kĩ thuật: Các nghề truyền thống như mộc, nề, thiêu, đan, may, sửa chữa máy
móc thiết bị đòi hỏi sự lành nghề đặc biệt các hoạt động chế biến nông sản như làm đậu,
nấu rượu, làm bánh kẹo phải cần có sự tích luỹ kinh nghiệm. Các hoạt động sản xuất
công cụ cho đầu vào của hoạt động khác, các hoạt động sản xuất các vật phẩm tiêu dùng
như sản xuất ra dao, kéo, cày, bừa, máy tuốt lúa đạp chân, cổng sắt… cũng đòi hỏi yêu
cầu phải đáp ứng thị hiếu khách hàng tiêu dùng phải phù hợp với hoàn cảnh ứng dụng
các sản phẩm đó. Những hộ buôn bán nhỏ như hộ buôn bán các sản phẩm nông sản bán
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

8

ra thị trường, bán các hàng hoá tiêu dùng ở chợ hay tại gia đình nơi thuận tiện lưu thông
hàng hoá và dễ kiếm lời buộc hộ phải năng động trong việc phải nắm bắt thị trường để
có phản ứng linh hoạt.
đ. Nhân tố chính sách: Các chính sách của chính phủ đưa ra như chính sách đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế trong hộ nông dân, chính sách đất đai, xoá đói giảm nghèo, cơ sở hạ
tầng nông thôn… tuỳ vào mức độ tác động mà hộ có ảnh hưởng khác nhau. Phần lớn
các chính sách này có độ nhạy cảm với vấn đề phát triển kinh tế của nông thôn mà hộ
nông dân là một chủ thể, vấn đề xoá đói giảm nghèo, phát triển cải thiện cơ sở hạ tầng,
cải thiện các điều kiện sống cho nông dân… Các chính sách mà chính phủ đưa ra luôn
luôn xuất phát từ nhu cầu thực tai khách quan để tháo gỡ những vấn đề nan giải của xã
hội.
e. Nhân tố cộng đồng xã hội: Đó là các phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục, truyền
thống của cộng đồng gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới sự phát triển ngành nghề
trong các hộ nông dân. Nghề làm đậu phụ, nấu rượu, làm bánh đa… sở dĩ tồn tại và phát
triển được do phong tục nuôi lợn để lấy phân bón ruộng cũng do tục lệ uống rượu trong
các ngày lễ. Tâm lý bảo thủ chậm tiến mang nặng tính phong kiến cổ hủ của xã hội
trước cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý mở rộng sản xuất kinh doanh trong hộ
ngành nghề do lo sợ bị thua lỗ phá sản.
1.5. Các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành nghề nông thôn
Các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nông thôn mà hộ
nông dân là một chủ thể chủ yếu của nông thôn đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh
tế xã hội nông hộ của đất nước.Đất nước ta là một đất nước xuất phát điểm từ nông
nghiệp trước cách mạng tháng 8 năm 1945 khi mà đất nước ta nửa thuộc địa nửa phong
kiến bị áp bức bóc lột mất quyền độc lập tự do, xét trên cả nước giai cấp địa chủ chỉ có
3% dân số đã chiếm 41.4% ruộng đất, nông dân lao động lại chiếm tới 97%dân số
nhưng chỉ có 36% diện tích đất, số còn lại thuộc đồn điền của pháp và đất công. Các
nghành kinh tế quan trọng như thương mại, khai thác mỏ… đều do pháp quản lý. Các
thương gia, các nhà doanh nghiệp Việt Nam bị chèn ép cô lập không phát triển được.
Sau khi nước nhà độc lập, công cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1956 đa số hộ
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

9

nông dân ít nhiều đều có đất trực tiếp sản xuất nông nghiệp, các nghành sản xuất khác
được khôi phục và khuyến khích phát triển, nét đặc trưng ở giai đoạn này là hộ nông
dân sản xuất hoàn toàn cá thể.
Giai đoạn 1960- 1980 được định hình bởi kinh tế tập thể. Từ năm 1958 tiến hành
hợp tác hoá, đến cuối năm 1960 có 84% nông hộ đã tham gia vào hợp tác xã sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, từ đó làm cho môi trường sản xuất kinh doanh của
nông hộ thay đổi căn bản. Hiến pháp năm 1959 đã xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, mọi quan hệ mua bán trao đổi đất bị cấm nghiêm ngặt. Giai đoạn này hộ nông dân
sản xuất nông nghiệp là chính các nghành khác nhất là buôn bán lưu thông hàng hoá
kiếm lời bị tê liệt hoàn toàn, mọi hoạt động phi nông nghiệp đều thuộc sự quản lý của
nhà nước dưới hình thức hợp tác xã. Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông hộ
được tập thể giành cho 5% đất canh tác để làm “kinh tế phụ gia đình” hay “kinh tế phụ
xã viên”. Với 5% đất canh tác nhưng đã sản xuất ra 48%giá trị sản lượng nông nghiệp,
50% - 60% thu nhập của hộ. Tuy không công khai nhưng kinh tế nông hộ đã thực sự là
cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại. Nông hộ được chia thành 2 loại:
Loại 1: Gồm các hộ nông dân cá thể ngày càng giảm có phân biệt đối xử sản xuất
luôn bị kìm hãm bó buộc.
Loại 2: Gồm các hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhân viên trong
các lâm trường loai này có nguồn thu nhập từ kinh tế tập thể thông qua ngày công đóng
góp hoặc tiền lương và thu từ đất 5% với số vật tư và lao động còn lại mà hợp tác xã
huy động đến kinh tế nông hộ với sản xuất nông nghiệp là chính chỉ giới hạn 5% phần
đất, kinh tế hợp tác xã đình đốn, kinh tế quốc doanh thua lỗ nên thu nhập từ kinh tế tập
thể trong tổng thu của hộ có sự biến đổi lớn: kinh tế tập thể chiếm 70% - 75% còn kinh
tế nông hộ chỉ chiếm 25% -30%. Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm cho nông
đân xã viên chán nản, muốn xa nền kinh tế tập thể.
Giai đoạn 1981-1987 trước thực trạng kinh tế tập thể đình đốn, khủng hoảng
lương thực thường xuyên xảy ra nghiêm trọng, nền kinh tế đất nước đình đốn, kinh tế
nông hộ bị hạn chế không phát triển được thì nghị quyết TW6 tháng 9 năm 1979 xác
định “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” nhằm tìm giải pháp đưa đất nước thoát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

10

khỏi khủng hoảng. Xuất phát từ thực trạng đó Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị 100 ngày
13/01/1981 về cải tiến công tác khoán mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
động trong hợp tác xã. Xã viên được đầu tư vốn, sức lao động được khoán và hưởng
trọn phần vượt khoán, nền kinh tế hộ gia đình được khôi phục và phát triển nhanh
chóng. Năm 1986 -1987 giá cả các mặt hàng tăng vọt, chế độ thu mua hàng hoá theo
nghĩa vụ của nhà nước nặng nề, trong nông nghiệp mà ruộng đất khoán tập thể đảm
nhận 5 khâu; 3 khâu còn lại người lao động chịu trách nhiệm không được ổn định, sản
lượng khoán nâng cao dần từ đó hiệu quả đầu tư giảm, thu nhập của nông hộ cũng giảm
dần.
Giai đoạn từ năm 1988 đến nay. Trước tình trạng trên Nghị quyết 10 Q/ TW ngày
05/ 04/ 1988 của bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng mạnh mẽ sức
sản xuất trong nông thôn trong từng hộ nông dân, đậc biệt nghị quyết khẳng định hộ gia
đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
sự phát triển của kinh tế nông hộ. Nghị quyết còn chủ trương giao quyền sử dụng ruộng
đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, xoá bỏ chính sách thu mua theo nghĩa vụ để tạo
điều kiện cho hộ nông dân phát triển sản xuất. Thực hiện khoán theo nghị quyết 10 đã
làm cho người lao động quan tâm đến sản phẩm cuối cùng. Các thành phần kinh tế và
kinh tế hộ nông dân phát triển dẫn đến hiệu quả cao trong sản xuất và không ngừng
nâng cao sức sống nông dân, nền kinh tế được khôi phục và phát triển. Nghị quyết Đại
hội đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX đã đưa ra tiếp những chủ trương về phát triển 5 thành
phần kinh tế, 3 chương trình kinh tế lớn của nhà nước, chiến lược công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước.Từ đó hộ nông dân là chủ thể sản xuất với việc ban hành những
chính sách lớn như giao đất lâu dài, mở rộng cho vay tới hộ, thực hiện xoá đói giảm
nghèo, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích khôi phục và phát triển
các nghành nghề truyền thống, khuyến khích kinh tế thị trường phát triển… kinh tế
nông hộ đã có niềm tin mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho nông dân, kinh
tế hộ đã có nhiều thay đổi lớn mà điển hình cơ cấu sản xuất đã có chuyển biến tích cực
từ thuần nông sang các nghành nghề khác nhất là vùng nông thôn giáp danh thành thị.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

11

1.6.Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thế
giới
Việc phát triển ngành nghề nông thôn được xem là một trong những giải pháp
quan trọng để tháo gỡ những khó khăn, những phát sinh trong việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế- xã hội trên địa bàn nông thôn ở một số nước trên thế giới. Một số nước đã
trải qua quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn rất thành công,
đó là những bài học kinh nghiệm cho đất nước ta học tập đúc rút và áp dụng linh hoạt
mô hình phát triển nông thôn một cách hiệu quả nhất.
Ở một ngay cạnh nước ta, Trung Quốc thực hiện rất tốt quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông thôn trong giai đoạn cải cách (1978- 1992) với phương châm đề ra”
ly nông bất ly hương, nhập xướng bất nhập thành” chủ trương phát triển ngành nghề
nông thôn theo mô hình xí nghiệp Hương Trấn lấy nông thôn làm cơ sở. Bước đi của
Trung Quốc là thận trọng từ thấp lên cao, không chạy theo phong trào không chạy theo
hình thức, không chạy theo thành tích như thời kì “ công xã nhân dân” ; lấy mô hình
phát triển xí nghiệp Hương Trấn vừa là tích luỹ ban đầu vừa là bắt đầu đi vào phát triển
chiều sâu bằng áp dụng công nghệ mới hiện đại và sử dụng nhiều vốn. Nhiều xí nghiệp
như Hương Trấn đã mở rộng về quy mô và phạm vi lĩnh vực kinh doanh. Hiện nay các
xí nghiệp như Hương Trấn đã hoạt động ở ba cấp: huyện, xã, thôn và tạo ra giá trị sản
lượng ngày càng tăng. Nhờ sự phát triển công nghiệp nông thôn mà Trung Quốc đã
giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp từ 70% (1978) xuống dưới 50% (1992) giảm
áp lực di dân ra thành thị, kinh tế nông thôn phát triển đã cải thiện đời sống nhân dân
vùng nông thôn.
Nằm trong nhóm nước Niss, Đài Loan bắt đầu tiến trình công nghiệp hoá nông
thôn từ những năm 50 bao gồm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề cổ
truyền, các xí nghiệp gia đình sản xuất chế biến lương thực thực phẩm và các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ phục vụ ngành du lịch. Riêng công nghiệp chế biến nông sản rất phát
triển: năm 1991 đã có 5779 xí nghiệp với 100 nghìn lao động đã tạo ra giá trị sản lượng
tới 17.5 tỷ USD . Công nghiệp thực phẩm với 22 chuyên ngành chủ yếu trong đó công
nghiệp chế biến thịt chiếm 15.41% giá trị sản lượng, với chăn nuôi là12.36%, gạo
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

12

9.25%, đồ uống có cồn 7.16%. Riêng xay xát gạo có 2500 nhà máy quy mô nhỏ. Công
nghiệp nông thôn Đài Loan đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tỷ
trọng gia đình thuần nông đã giảm từ 39.9% (1955) xuống còn 8.98% (1985), tỷ trọng
các hộ kiêm tăng từ 60.13% (1955) lên 91.2% (1985). Thu nhập các hộ nông dân ngoài
nông nghiệp tăng từ 43% (1952) lên gần 70% (1992), cơ cấu lao động xã hội cũng thay
đổi năm 1952 lao động nông nghiệp chiếm 51% công nghiệp 16.9% dịch vụ 27% thì
đến năm 1992 lao động nông nghiệp giảm xuống còn 12.9% công nghiệp tăng 40.25%
dịch vụ 49.9%. Nhìn chung Đài Loan thực hiện công nghiệp hoá nông thôn với hình
thức đa dạng đã đem lại hiệu quả kinh tế xã hội rõ rệt góp phần không nhỏ vào sự thành
công quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Nằm trong khối ASEAN, là một nước đang phát triển, Thái Lan công nghiệp hoá
nông thôn trên cơ sở dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương với mục tiêu
trước tiên là cải tạo cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn qua việc cung cấp nguyên liệu
và nguồn lực cho công nghiệp. Do đó Thái Lan đã xây dựng một chiến lược phát triển
nông thôn trên cơ sở khu vực lấy trọng tâm công nghiệp chế biến nông sản thành hàng
hoá. Bởi Thái Lan là một trong số ít nước có lợi thế sản xuất gạo, hải sản, thuỷ sản…
Đầu năm 1990 cả nước có khoảng 32 nghìn xí nghiệp nông phẩm chiếm 62% các ngành
công nghiệp ở Thái Lan thu hút khoảng 60% lao động, hầu hết nguyên liệu đều do nông
nghiệp cung cấp. Các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng bạc
đá quý, ngọc trai, đồ trang sức được duy trì và phát triển tạo ra nhiều mặt hàng nổi tiếng
thế giới. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề
gốm sứ cổ truyền trước đây ở Thái Lan chỉ sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước, gần
đây đã phát triển trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn đứng thứ hai sau gạo, 95% hàng gốm
sứ xuất khẩu là đồ trang trí nội thất và đồ lưu niệm còn lại là những thứ khác. Về cơ khí
nông thôn có 94 vạn cơ sở nhỏ( nhỏ hơn 10 công nhân một cơ sở) chiếm 46%, 72 vạn
cơ sở vừa chiếm 34%; hoạt động của các xí nghiệp này là chế tạo và xửa chữa máy công
cụ nông nghiệp.
Một số con rồng châu Á (Hàn Quốc, Hồng Công, Shingapo) thực hiện sách lược
dồn hết sức lực cho công nghiệp nặng có trọng điểm kết hợp với dịch vụ coi nhẹ phát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C

13

triển nông nghiệp nông thôn để tạo ra sức mạnh kinh tế sau đó mới tiến hành cải tạo đầu
tư cho nông nghiệp nông thôn.
Thông qua thực tế phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thế giới
chúng ta rút ra một số bài học sau:
- Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước phải kết hợp chặt chẽ với công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà bước đi quan trọng là phải phát triển ngành
nghề nông thôn bao gồm nghề tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống, nghề chế biến
nông sản, kinh doanh dịch vụ tạo ra sự chuyển biến tích cực cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Phát huy lợi thế tuyệt đối của địa phương,của vùng, của đất nước về mọi mặt để
sản xuất ra các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao.
- Phát triển ngành nghề trong các hộ nông dân sẽ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển,
kinh tế địa phương phát triển, xoá đói giảm nghèo, từng bước cải thiện đời sống nhân
dân vùng nông thôn tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
thành công.
1.7. Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở Việt Nam
Kinh tế nông thôn bao gồm hai lĩnh vực: kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông
nghiệp. Trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ cho sản xuất cho đời sống ở nông thôn. Công nghiệp nông thôn ở
Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm cùng với tiến trình cải cách và phát triển
kinh tế đất nước. Thực hiện đường lối của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà
nước, công nghiệp nói chung, công nghiệp nông thôn nói riêng đã chứng kiến biến
chuyển mạnh mẽ trong hơn mười năm qua. Theo tư liệu của hội khoa học kinh tế Việt
Nam, trong thời kì đổi mới công nghiệp nông thôn Việt Nam đạt tỷ lệ tăng trưởng giá trị
bình quân 7.8%/ năm. Đặc biệt công nghiệp nông thôn có sức tăng trưởng cao vào các
năm 1993-1999 nhờ tác động mạnh mẽ của các chích sách khuyến khích được ban hành
và thực thi vào đầu thập kỉ 90. Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn thể hiện một
số điểm sau:
-Về số lượng hiện nước ta có trên 1350000 đơn vị sản xuất phi nông nghiệp trong
đó có 97.1% là các hộ, số còn lại là dạng tổ hợp và doanh nghiệp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét