điều kiện không gian ấy cóảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm của
sự vật. Phải phân tích cụ thể mọi tình hình cụ thểảnh hưởng đến sự vật.
Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó cần
phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó. Có như
vậy mới đánh giáđúng giá trị và hạn chế của lý luận đó.
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến điều
kiện cụ thể của nơi được vận dụng.
II. đổi mới kinh tếở Việt Nam chính là quá trình xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1. Sựđổi mới kinh tếở Việt Nam
1.1. Quá trình đổi mới kinh tếở Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI của Đảng được đánh dấu như một cái mốc quan trọng
trong việc chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà nguồn gốc từ
kinh tế hiện vật và những hậu quả của nó. Nhất quán chuyển sang kinh tế thị
trường. Tổng kết hai năm thực hiện đại hội VI nền kinh tế phát triển, khắc
phục được suy thoái, nền kinh tế xã hội đã có những thay đổi căn bản, đó là
những căn cứđểđẩy tới một bước cao hơn. Đại hội lần thứ VII của Đảng nhất
quán chuyển sang kinh tế thị trường (KTTT) với những quan điểm khá triệt
để: chấp nhận thị trường một cách cơ bản, tổng thể lâu dài, một thị trường
thống thông suốt hoà nhập với thị trường thế giới. Thị trường làđối tượng
quản lý của Nhà nước.
Thực tế hơn mười năm qua ở nước ta đã chứng tỏ quá trình chuyển kinh
tế thị trường theo địng hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình phức tạp lâu dài.
Đó là quá trình cách mạng khởi đầu bằng ý nguyện của quần chúng được
Đảng nắm bắt tổng kết, định hướng bằng cơ chế, chính sách.là sự dũng cảm
nhìn thẳng vào những sai lầm,khuyết điểm từ mô hình cũvới những quan điểm
giản đơn từđó quyết tâm đổi mới, coi đổi mới là vấn đề sống còn của dân tộc,
chấp nhận KTTT bằng lý trí,tình cảm, bằng sự tìm tòi thử nghiệm từ cuộc
sống mà cách đấy vài trục năm trong tư duy kinh tế còn là cuộc đấu tranh gay
gắt.
Những chuyển đổi đó thực sứ tạo ra bước ngo ặt kinh tế. Chính một thời
gian ngắn, đất nước có nhiều thay đổi. Bước đầu tình trạng suy thoái dần được
khắc phục. Cuôc khủng hoảng kéo dài từ cuối thập kỷ 70 và gay gắt vào
những năm 80 khi lạm phát ở mức phí và kéo dài. Song nhờ có sự cố gắng của
toàn đảng, toàn dân nền kinh tế không những đứng vững mà còn tạo được
những tiến bộ vượt bậc đatt tốc đọ tăng trưởng khá liên tục. Tổng sản phẩm
trong nước năm 1994tăng 8,5% năm,trong đó sản xuất công nghiệp tăng13%,
sản xuất nông nghiệp tăng 45%, kim ngạch xuất khẩu tăng20,8% lạmphát
giảm dần thu hút được vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 10tỉ USD.
Nền kinh tế bước đầu đã có tích luỹ nội bộ, xuất khuẩu tăng và nhập khẩu đã
lấy lại cân băng dần dần biết phát huy và tận dụng được lợi thế so sánh trong
quan hệ kinh tế quốc tế. Thành tựu nổi bật nhất trong thời gian qua là sản
phẩm nông nghiệp phát triển từ chõ thiếu lương thực triền miên đến nay chúng
ta đã có khả năng tự túc phần nào dự trữ và xuất khẩu. Năm 1998 mặc dù một
số vùng gặp thiên tai nhưng sản lượng lương thực đạt tới mức kỷ lục 25 triệu
tấn. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và phát huy tác dụng.
1.2 Đổi mới nền kinh tếở Việt Nam thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Do nước ta là nước XHCN nền khi đổi mới nền kinh tế thìđi theo nền
KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa. KTTT theo định hướng XHCN là
một khái niệm kép. Định hướng theo nghĩa danh từ là nền kinh tế thị trường
vận động và trong nó hàm chứa và bị chi phối bởi tính chất XHCN. Và theo
nghĩa động từ là tiến trình chếđịnh nền KTTT theo nguyên tắc XHCN nhằm
phục vụ CNXH.
Tổng hoà các nghĩa đó, KTTT theo định XHCN ở Việt Nam là một kiểu
tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và qui luật của KTTT vừa
dựa trên vàđược dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất CNXG, thể
hiện trên ba mặt sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.
2. Thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi
mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều
kiện lịch sử cụ thể. Nghiên cứu một cách nghiêm túc các mô hình đó, cùng với
thời gian và kinh nghiệm thực tế chúng ta đã rút ra cho mình một cách nhìn
đúng đắn hơn và một sự lựa chọn thực tế hơn. Đó là chúng ta đã kịp thời
chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN.
Trước tiên cần phải tìm hiểu khái niệm KTTT, KTTT được hiểu là một
kiểu kinh tế xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với thị
trường, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá, tiền tệ với quan hệ cung - cầu.
Trong nền KTTT nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan
hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá hay ít
nhất thì cùng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như là mắt, khâu trung gian.
Nền KTTT từ khi mới ra đời cho đến nay đã trải qua các giai đoạn khác
nhau, mỗi giai đoạn đều cóđặc điểm riêng. Trong các giai đoạn đóđã từng có
các nền KTTT theo định hướng này hay theo định hướng khác. Đến bây giờ
khi nước ta đổi mới, nền kinh tế nước ta đã xác định được một định hướng
đúng đắn cho nền KTTT đó làđịnh hướng XHCN.
KTTT định hướng XHCN theo quan điểm của Đảng ta là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN. Về bản chất khác với KTTT tư bản chủ
nghĩa, nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế vì nhân dân, phục vụ
nhân dân, lấy đời sống nhân dân, công bằng xã hội làm mục tiêu để tăng
trưởng kinh tế.
2.1. Ưu điểm của nền kinh tế thị trường.
Đến đại hội lần thứ VIII (6/1996) trên cơ sở kế thừa những đường lối,
chủ trương đúng đắn về việc sử dụng KTTT do các đại hội trước đề ra, Đảng
ta đã xác định rõ hơn vai trò của KTTT: cơ chế thị trường đã phát huy tác
dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, nó chẳng những không
đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát
triển đất nước theo con đường XHCN.
2.2. Những hạn chế và khuyết điểm của kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường tuy có nhiều điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có
những giới hạn, những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bướng bỉnh, hơn
thếnữa quan hệ thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu
cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy, tuy mới áp dụng
KTTT chưa được bao lâu mà bên cạnh những thành tựu như làm ăn thuần tuý
chạy theo lợi nhuận dẫn đến các hình thức lừa đảo, hối lộ, trốn thuế, nợ nần
khó trả, thương mại hoá một cách tràn lan, xâm nhập vào các lĩnh vực dễ
thương tổn như y tế, giáo dục, văn hoá làm cho giá trịđạo đức, tinh thần bị
băng hoại và xuống cấp, đồng thời đã chi phối nhiều quan hệ giữa người với
người, sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hướng tăng lên,
bởi sống ích kỷ thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: "Vận dụng các hình thức và phương pháp quản
lý nền KTTT làđể sử dụng mặt tích cực của nó, phục vụ mục didchj xây dựng
XHCN chứ không phải đi theo con đường TBCN"
(Tạp chí triết học số 4 (110), tháng 8 năm 1999).
2.3. Có thể thực hiện được kinh tế thị trường dưới chủ nghĩa xã hội hay không?
Kinh tế thị trường là thể hiện kinh tế vận hành, nó có thểđược thực hiện
dưới CNTD cũng như CNXH. Không nên đồng nhất KTTT với CNTB bởi
những lý do sau đây:
Một là: KTTT không phải là sản phẩm của TBCN, KTTT là hình thức
phát triển cao của kinh tế hàng hoá và các trình độ phát triển của kinh tế hàng
hoá, kinh tế hàng hoá không phải là cái do CNTB tạo ra mà là thành tựu văn
minh mà loài người đãđạt được trong quá trình phát triển sản xuất của mình.
Hai là: KTTT là thể chế kinh tế vận hành, nó không phải là cơ sở kinh tế
của một chếđộ xã hội. Cơ sở kinh tế của một chếđộ xã hội là hệ thống quan hệ
sản xuất thống trị, trước hết là chếđộ sở hữu quyết định. Cơ sở kinh tế của
CNXH là hệ thống quan hệ sản xuất XHCN dựa trên chếđộ công hữu XHCN
về tư liệu sản xuất.
Ba là: KTTT và chủ nghĩa xã hội có thể dung hoà, vấn đề căn bản để hình
thành KTTT là sự tồn tại những chủ thể kinh tếđộc lập tự chủ trong sản xuất
kinh doanh, có lợi ích riêng để họ có quyền ra quyết định phi tập trung hoá.
Vì vậy, trong đặc điểm chếđộng công hữu XHCN cũng có thể thực hiện được
chếđộ KTTT.
Tuy nhiên, trong việc phát triển nền KTTT theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, làm thế nào đề có thể giải quyết tốt mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách phân hoá
giàu nghèo, giảm bớt thất nghiệp [Tạp chí cộng sản số 4 (2- 2000)].
3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trước tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hướng XHCN cũng là
một dạng vật chất, nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật chất xã hội theo sự
phân loại của triết học Mác - Lênin, mà cụ thể là trong những điều kiện không
gian và thời gian theo quan điểm lịch sử cụ thể.
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hơn 10 năm
qua đã góp phần thay đổi bộ mặt đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy
nhiên đó chưa phải là cái đích cuối cùng của Đảng ta, bởi nền kinh tế nước ta
vẫn còn chậm phát triển. Khi chúng ta vừa chuyển từ nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp, từ một nền kinh tế yếu kém lạc hậu với hệ thống sản xuất,
hệ thống quản lý kinh tế với những cán bộ mang nặng tư tưởng ỷ lại sang nền
KTTT năng động, do đó khó có thể tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Thêm
nữa, thời điểm chúng ta bắt đầu đổi mới, chuyển sang nền KTTT quá muộn so
với các nước trên thế giới và khu vực khi mà các nước tư bản như Mỹ, Nhật,
Tây Âu đã tiến hành cơ chế thị trường và phát triển vượt xa ta mấy trăm
năm. Nhờ sử dụng triệt để KTTT, CNTB đãđạt được những thành tựu về kinh
tế - xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, quản lý
xã hội đãđạt được những thành tựu về văn minh hành chính, văn minh công
cộng, con người nhạy cảm tinh tế với khả năng sáng tạo và có cả những tiêu
cực sự gay gắt dẫn đến tình trạng "cá lớn nuốt cá bé" sự phân cách giàu nghèo
ngày càng lớn, ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kệt, tệ nạn xã hội là nước
đi sau và theo CNXH, chúng ta có cơ hội kế thừa và phát triển những thành
tựu của nhân loại trước hết là sử dụng văn minh của KTTT, loại bỏ những
khuyết tật của nóđể xây dựng CNXH có hiệu quả.
Chính vì những lẽđó, chúng ta cần phải vận dụng quan điểm lịch sử cụ
thể vào việc nghiên cứu quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam.
III. quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
dưới góc nhìn của quan điểm lịch sử cụ thể.
1. Những điều kiện cụ thểảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1. Những điều kiện trong nước.
Đầu tiên chúng ta tìm hiểu xuất phát điểm về kinh tế của nước ta khi bắt
đầu đổi mới. Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam năm trứoc đổi mới là tăng
trưởng thấp 3,7% /năm, làm không đủăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày
càng lớn. Thu nhập quốc dân trong nước, sản xuất chỉđáp ứng được 80 - 90%
thu nhập quốc dân sử dụng đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm
10,2% thu nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ
USD. Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng siêu lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986 kéo theo giá cả leo
thang và vô phương kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài đãđể
lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém vơía nền KH - CH, kỹ
thuật lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí nghiệp đều do Liên
Xô cũ giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất lượng kém. Hệ
thống giao thông vận tải vốn không được tốt lại thêm bom đạn của chiến
tranh nên ngày càng xuống cấp. Công nghiệp, dịch vụ hầu như không phát
triển, chiếm tỷ trọng chưa đến 50% GDP còn chủ yếu là nông nghiệp. Bên
cạnh đó còn có một hậu quả nặng nề khác là với cơ chế bao cấp phân phối
bình quân, lợi ích của mọi người đều như nhau dẫn đến việc không phát huy
hết năng lực sáng tạo của con người, lực lượng nhân tài ngày càng giảm sút,
trình độ dân trí thấp vàđặc biệt nghiêm trọng là tư tưởng thụđộng ỷ lại, thiếu
tính năng động quyết đoán ăn sâu trong người dân và tất cả các cán bộ trong
hệ thống quản lý kinh tế.
Thứ hai: Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng
mạnh mẽđến nền kinh tế. Vềđịa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề
ngang hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự dị sâu sắc vềđiều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội. Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao động xã
hội theo lãnh thổ và chiếm được phát triển các vùng. Ta cũng có thuận lợi là
nằm ở Tây Thái Bình Dương vàĐông NamÁ, khu vực phát triển cao, ổn định
nơi cửa ngõ của giao lưu quốc tế. Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển
nhiều loại hình kinh tế khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển, dịch
vụ viễn thông du lịch. Tài nguyên khoáng sản phân bố không đều trên các
vùng, ngay ở mỗi vùng cũng phân tán và thiếu đồng bộ không gắn với nhau
gây khó khăn cho việc khai thác sử dụng chúng vàảnh hưởng đến việc bố chí
kinh tế của các vùng. Về dân số, nước ta có dân sốđông, nguồn lao động dồi
dào nhưng phân bố cũng không đồng đều. Đặc điểm ở cấp vĩ mô, do đất
nước bị chia cắt lâu dài, giữa hai miền Nam - Bắc còn có sự khác biệt không
nhỏ hoặc khác biệt giữa các vùng, các khu vực xa xôi hẻo lãnh với những
vùng cóđô thị tập trung.
Thứ ba: Về chếđộ chính trị quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong
những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế quyết định chính trị - chính trị là sự
biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là
phương tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Trong tác phẩm Lutuch Phviobac
và sự các cung của triết học cổđiển Đức F.Enghon đã chỉ rõ: "để thoã mãn
những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉđược sử dụng làm phương tiện
đơn thuần". Khẳng định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận vai trò
quyết định của kinh tếđối với chính trị mà muốn nhấn mạnh tác động của
chính trịđối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà
nóđược xem dét giải quyết theo một trật lập trường chính trị thống nhất biện
chứng với nhau trên nền tảng quyết định của kinh tế. Sau khi miền Bắc giải
phóng và từ sau năm 1975 thống nhất đất nước, cả nước ta đã kiên quyết đi
theo con đường XHCN - đây là lựa chọn tất yếu vàđúng đắn. Vì không qua
giai đoạn TBCN, chúng ta đã gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ trong công cuộc
xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh. Thêm vào đó, khi ta đang trong
tình trạng đầu của công cuộc đổi mới, một giai đoạn quan trọng mà chính trị là
yếu tốđịnh hướng dẫn đường thì CNXH ở Liên Xô cũ và các những Đông Âu
sụp đổ hàng loạt đã gây nhiều hoang mang cho Đảng ta. Điều này cũng chứng
tỏ rằng đang có rất nhiều thế lực phản động không ngừng tìn cách phá hoại, lật
đổ chếđộ CNXN ở nước ta.
Thứ tư: về văn hoá xã hội. Nói đến văn hoá xã hội của một dân tốc là nói
đến bản sắc cốt cách riêng thể hiện trong những yếu tố cầu thành văn hoá của
dân tộc đó. Theo định nghĩa được thừa nhận khá rộng rãi của UNESCO thì
văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người diễn ra
trong quá khứ cũng nhưđang diễn ra trong hiện tại. Qua hàng thế kỷ, các hoạt
động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền tống, thị hiếu,
thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tốc khẳng định bản sắc riêng
của mình, với chiều dài mấy ngàn năm lịch sử, nước ta có một nền văn hoá lâu
dài với các giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp. Các giá trịđạo đức truyền
thống vừa là kết quả vừa là cơ sở, động lực của quá trình đấu tranh dựng nước,
giữ nước và giao lưu văn hoá lâu dài của dân tốc góp phần tạo dựng bản lĩnh
dân tộc và nhân cách con người Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước, lòng thương
người, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đức tính cần kiệm, khiêm tốn, giản dị,
thủy chung trong đó chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân
tộc, là giá trị cao nhất trong hệ thống giá trịđạo đức của dân tộc, là tình cảm và
tư tưởng lớn nhất của nhân dân ta với bề dày văn hoá cùng với chếđộ chính
trịđúng đắn là CNXH, chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN tiên tiến. Bên cạnh đó nền KTTT năng
động và khắc nghiệt rất cần những nhà quản lý kinh tế tài giỏi sáng tạo, năng
động thì chúng ta lại chưa cóđược. Nhân dân ta yêu nước, sẵn sàng xả thân hy
sinh vì tổ quốc nhưng trong hoạt động kinh tế thì nhân dân ta vẫn còn thiếu
tính năng động, thiếu tính quyết đoán, thiếu những phẩm chất rất quan trọng
của một nhà quản lý ktt.
1.2. Những điều kiện thế giới và khu vực.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc mặc dù thế giới còn nhiều diễn biến
phức tạp nhưng hoà bình và hợp tác là xu thế chủđạo, làđòi hỏi bức xúc của
các dân tộc và các quốc gia. Các cuộc cách mạng khoa học và công nghệđạt
được những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực tin học, viễn thông,
sinh học, vật liệu mới và năng lượng mới đang đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá
cao độ các lực lượng sản xuất dẫn đến sự phân công lao động quốc tế ngày
càng sâu sắc, như vậy có nghĩa là ngày nay, không một nền kinh tế nào có
thểđứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình đóđòi hỏi một sự hợp tác
ngày càng rộng tạo nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước dù lớn hay nhỏ,
phát triển hay đang phát triển. Trong lịch sử phát triển của xã hội có lẽ chưa
bao giờ có một sự hợp tác để phát triển rộng rất đan xen lồng ghép và nhiều
tầng lớp như hiện nay với sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế như ASEAN
(Hiệp hội các nước Đông Nam Á), WTO (tổ chức thương mại thế giới) AFTA,
EU
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông NamÁ. Châu
Á Thái Bình Dương, một khu vực được coi là có nền kinh tế năng động và có
tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm gần đây. Hầu hết các
nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, đều đã tiến hành nền KTTT
được mấy thập kỷ và một số nước đã trở thành các nước công nghiệp mới
(NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt ta khác xa về mọi mặt
đặc biệt là về kinh tế, vì thếđãđặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức trong quá
trình phấn đấu xây dựng và cải tiến nền KTTT định hướng XHCN.
2. Thực trạng quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam dưới tác động của những điều kiện cụ thể.
2.1. Giai đoạn 1986 - 1991.
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT, do chưa nhận thức
được đầy đủ những yếu tố cụ thểảnh hưởng đến nền kinh tế nên ta đã có một
số chính sách sai lầm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét