Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Vấn đề tài chính trong cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tại tổng công ty chè việt nam

và nhà nớc kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của
doanh nghiệp . ở mỗi nớc đều có quy định khác nhau về doanh nghiệp nhà n-
ớc .
Theo luật doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta ( ngày 20 /04/95). Quy định :
doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nớc giao
Định nghĩa trên cho thấy doanh nghiệp nhà nớc có những đặc điểm sau:
Một là: Doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế đợc nhà nớcthành lập
để thực hiện những mục tiêu do nhà nớc giao.
Hai là: Doanh nghiệp nhà nớc do nhà nớc đầu t vốn nên tài sản trong
doanh nghiệp là thuộc sở hữu của nhà nớc, doanh nghiệp quản lý sử dụng tài
sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nớc.
Ba là: Doanh nghiệp nhà nớc có t cách pháp nhân vì có đủ các điều
kiện của pháp nhân theo quy định của pháp luật.
Bốn là: Doanh nghiệp nhà nớc là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu
hạn, nghĩa là nó tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi
số tài sản doanh nghiệp quản lý .
Doanh nghiệp nhà nớc có thể phân loại theo các tiêu chí sau .
- Theo mục đích hoạt động:
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia thành: doanh nghiệp nhà nớc hoạt động
kinh doanh và doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công ích .
+ Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận .
+ Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công ích là doanh nghiệp nhà nớc hoạt động
sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà nớc hoặc
trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
- Theo phần vốn góp :
5
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia thành: doanh nghiệp 100% vốn của nhà
nớc, doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nớc và doanh nghiệp có cổ phần
đặc biệt của nhà nớc
+ Doanh nghiệp 100% vốn góp của nhà nớc, vốn nhà nớc giao cho doanh
nghiệp quản lý và sử dụng bao gồm vốn ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc ngân
sách và vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự tích luỹ.
+ Doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nớc bao gồm :
Cổ phần của nhà nớc chiếm trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp, cổ
phần của nhà nớc ít nhất gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác trong
doanh nghiệp
+ Doanh nghiệp có cổ phần đặc biệt của nhà nớc không có cổ phần chi phối,
nhng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp theo thoả
thuận trong điều lệ doanh nghiệp .
- Theo hình thức tổ chức sản xuất:
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia ra thành doanh nghiệp nhà nớc độc lập
và tổng công ty nhà nớc.
+ Doanh nghiệp nhà nớc độc lập là doanh nghiệp nhà nớc đơn nhất không ở
trong cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp khác, dới sự quản lý trực tiếp của
nhà nớc đây là loại doanh nghiệp nhà nớc truyền thống.
+ Tổng công ty nhà nớc là doanh nghiệp nhà nớc đợc thành lập và hoạt động
trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về
lợi ích kinh tế công nghệ cung tiêu, dịch vụ và thông tin
Hoạt động trong một số ngành chính nhằm tăng cờng khả năng kinh
doanh của các đơn vị thành viên (Đơn vị hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán
phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp )và thực hiện các mục tiêu của chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Hình thành các tổng công ty nhà nớc nhằm mục đích thúc đẩy quá trình
tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để tạo ra những tập
đoàn kinh tế lớn.Tổng công ty nhà nớc đợc hình thành trong quá trình tổ chức
và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc, giải thể các xí nghiệp liên hợp và liên hiệp
các xí nghiệp. Tổng công ty nhà nớc đợc phân thành 2 loại: thành lập theo quyết
6
định 90/TTG ngày 7-3-1994 của thủ tớng chính phủ gọi tắt là tổng công ty 90,
loại thành lập theo quyết định 91/TTG ngày 6-4-1994 của thủ tớng chính phủ
thờng gọi tắt là tổng công ty 91 .
- Theo hình thức tổ chức quản lý:
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia ra thành:
+ Doanh nghiệp nhà nớc có Hội đồng quản trị, ban giám sát tổng giám đốc
hoặc giám đốc và bộ máy giúp việc.
+ Doanh nghiệp nhà nớc không có Hội đồng quản trị là doanh nghiệp mà trong
cơ cấu tổ trức quản lý không có Hội đồng quản trị, chỉ có giám đốc với bộ máy
giúp việc.
2. Tính cấp thiết của cải cách doanh nghiệp nhà nớc .
Trớc đây, nớc ta cũng nh các nớc xã hội chủ nghĩa thực hiện mô hình kế
hoạch hoá tập trung, lấy mở rộng và phát triển khu vực kinh tế nhà nớc bao
trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân là mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nớc đã đợc phát triển một
cách rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền
kinh tế quốc dân, bất chấp hiệu quả đích thực mà chúng mang lại.
Sở hữu nhà nớc, doanh nghiệp nhà nớc và Chủ nghĩa xã hội đợc đồng
nhất với nhau. Nhiều dự án, kế hoạch và một số lợng rất lớn vốn đầu t của Nhà
nớc đợc dành cho những công trình đồ sộ về xây dựng các doanh nghiệp nhà n-
ớc trong các nghành khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo Đây là những
công trình tốn kém nhiều tiền của có thời gian xây dựng lâu dài, chậm thu hồi
vốn và mang lại lợi nhuận. Nhà nớc vừa là chủ thể hành chính vừa là chủ thể
kinh tế làm chủ điều hành và can thiệp vào các hoạt động của các doanh nghiệp
nhà nớc.
Trên thực tế khu vực kinh tế nhà nớc bên cạnh những tác động tích cực
không thể phủ nhận thì đây là khu vực kinh tế hoạt động kém hiệu quả nhất gây
ra những tổn thất to lớn về các nguồn lực phát triển đất nớc đòi hỏi phải đợc đổi
mới một cách cấp thiết.
Một là, các doanh nghiệp nhà nớc đợc sinh ra và trởng thành trong cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp kéo dài hàng chục năm. Với chính sách cấp phát,
giao nộp, các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động trong điều kiện vốn đợc nhà nớc
7
bao cấp, vật t đợc nhận theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm làm ra đợc giao nộp
theo địa chỉ quy định các điều kiện vật chất đợc nhà nớc cân đối theo chỉ tiêu
định mức, trong thực tế doanh nghiệp đơn thuần là đơn vị gia công hàng hoá
cho nhà nớc. Chính vì vậy, doanh nghiệp không còn là một đơn vị tự chủ, khi
chuyển sang cơ chế thị trờng, nó bộc lộ yếu kém của mình về hiệu quả sản xuất
kinh doanh cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và xơ cứng trong thích ứng với cơ
chế vận động của nền kinh tế thị trờng.
Hai là, các doanh nghiệp nhà nớc đã từ lâu không đặt trong môi trờng
cạnh tranh không gắn với thị trờng, không chú trọng đổi mới trang thiết bị, công
nghệ. Điều tất yếu xảy ra là vốn liếng không đợc bảo toàn và phát triển, thiết bị
cũ kỹ, công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới.
Nói chung sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhà nớc còn yếu, một bộ
phận không nhỏ sản phẩm làm ra không tiêu thụ đợc phần vì giá thành cao, chất
lợng thấp, phần vì không phù hợp với nhu cầu thị hiếu ngời tiêu dùng.
Nhiều doanh nghiệp nhà nớc hoạt động theo nguyên tắc độc quyền,
không phụ thuộc vào lợi nhuận mà nó mang lại dẫn đến làm mất tác dụng của
cơ chế cạnh tranh kích thích tính hiệu quả của doanh nghiệp.
Ba là, quan niệm không rõ ràng về chế độ sở hữu trong các doanh nghiệp
nhà nớc đã làm cho bộ máy quản lý của chúng trở nên cồng kềnh chồng chéo,
xơ cứng không thích nghi với những biến động của nền kinh tế thị trờng. Tình
trạng làm chủ chung chung mà thực chất là vô chính phủ tồn tại một cách phổ
biến ở hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc.
Mặc dù với số lợng nhân viên nhiều hơn hẳn các doanh nghiệp t nhân,
công tác thông tin từ doanh nghiệp nhà nớc cho chính phủ thờng với chất lợng
thấp, làm tăng tính chủ quan của nhà nớc trong việc can thiệp vào hoạt động
chính của doanh nghiệp kết hợp giữa quản lý yếu kém với công nghệ lạc hậu
của các doanh nghiệp nhà nớc, đã làm cho năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất chỉ đạt ở mức thấp .
Bốn là, phân phối không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà
chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội mang nặng tính bình quân chủ nghĩa,
không có tác dụng kích thích cán bộ quản lý và công nhân trong các doanh
nghiệp nhà nớc nâng cao hiệu suất lao động. Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ
quản lý lỏng các doanh nghiệp nhà nớc không thạo kinh doanh, không đủ kiến
8
thức và kinh nghiệm cần thiết về quản lý nền kinh tế thị trờng, thiếu năng động
và không giám mạo hiểm trong kinh doanh để giành thắng lợi nhanh chóng.
III Giải pháp tài chính thúc đẩy tiến tình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc .
1 . Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Nhờ vai trò tính u việt của hình thái công ty cổ phần trong nền kinh tế thị
trờng mà xem cổ phần hoá là con đờng hữu hiệu nhất để cải tổ khu vực doanh
nghiệp nhà nớc nhằm phát huy vai trò chủ đạo của nó bằng cách di chuyển các
nguồn vốn cổ phần của mình vào các công ty cổ phần ở các lĩnh vực cần thiết
phải có sự điều tiết và kiểm soát của nhà nớc.
Cổ phần hoá theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các
hình thức tổ chức kinh doanh khác sang hình thái công ty cổ phần. Còn khái
niệm cổ phần hoá thông thờng ở nớc ta hiện nay đợc dùng để chỉ quá trình
chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần. Nhiều ngời quan
niệm đồng nhất cổ phần hoá và t nhân hoá nhng về thực chất thì đây là hai khái
niệm có khác biệt nhất định. Quá trình t nhân hoá có hai cách hiểu là t nhân hoá
theo nghĩa rộng và t nhân hoá theo nghĩa hẹp về t nhân hoá theo nghĩa rộng
liên hợp quốc đa ra định nghĩa:
T nhân hoá là biến đổi tơng quan giữa nhà nớc và thị trờng trong đời sống
kinh tế của nhà nớc theo hớng u tiên thị trờng. Theo cách hiểu này thì toàn bộ
những chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển
khu vực kinh tế t nhân hoặc các thành phần kinh tế phi quốc doanh. Giảm thiểu
can thiệp của nhà nớc vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ
sở, dành cho thị trờng, vai trò điều tiết đáng kể thông qua tự do hoá giá cả. Đều
có thể coi nh là các biện pháp phát triển t nhân.
T nhân hoá theo nghĩa hẹp là: quá trình giảm thiểu quyền sở hữu nhà nớc
hoặc kiểm soát của chính phủ trong doanh nghiệp thông qua nhiều phơng thức
và biện pháp khác nhau, trong đó phổ biến nhất là cổ phần hóa.
Về hình thức, cổ phần hoá tức là nhà nớc bán một phần hoặc toàn bộ giá
trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tợng, tổ chức hoặc t nhân
trong và ngoài nớc, hay cho các cán bộ quản lý và công nhân viên chức của
9
doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hoặc thông qua thị trờng chứng khoán để
hình thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần .
Về thực chất: cổ phần hoá là phơng thức thực hiện xã hội hoá sở hữu,
chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nớc duy nhất trong doanh
nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu nhằm tạo ra một doanh
nghiệp hiện đại thích ứng với yêu cầu của kinh doanh hiện đại trong nền kinh tế
hiện đại.
ở nớc ta hiện nay, cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nớc không phải là
t nhân hoá nền kinh tế. mà là quá trình giảm bớt sở hữu nhà nớc trong các
doanh nghiệp nhà nớc và đa dạng hóa sở hữu.
1.1. Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Mục tiêu cổ phần hoá của nhiều nớc trên thế giới là Nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc và Giảm thâm hụt ngân sách nhà n-
ớc là hai mục tiêu đầu tiên và trực tiếp. Thực hiện hai mục tiêu này sẽ góp
phần đạt đợc các mục tiêu của cải cách kinh tế và nâng cao hiệu quả của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi nớc mà có
quan điểm bổ sung.
ở các nớc t bản chủ nghĩa phát triển bổ sung thêm các chỉ tiêu :
- Xoá bỏ độc quyền đợc nhà nớc quy định cho một số doanh nghiệp nhà nớc.
- Tạo điều kiện để nhà nớc tập trung vào những nghành then chốt mũi nhọn
đòi hỏi lợng vốn lớn và trình độ khoa học công nghệ cao nâng cao sức cạnh
tranh của các sản phẩm quan trọng của đất nớc trên thị trờng thế giới.
- Thực hiện phân phối có lợi cho những ngời có thu nhập thấp tạo lập ổn định
xã hội trong giai đoạn nền kinh tế đang lâm vào giai đoạn trì trệ, khủng
hoảng
ở các nớc đang phát triển ngoài hai mục tiêu trên cần phải bổ sung
thêm :
- Giảm các khoản nợ nớc ngoài đang ngày càng tăng do phải bù đắp vào các
khoản thâm hụt ngân sách để trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nớc.
10
- Thu hút các nguồn đầu t nớc ngoài , đổi mới kỹ thuật và học tập quản lý, tạo
ra nền kinh tế mở cửa tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nớc
nâng cao chất lợng hàng hoá dịch vụ trong nớc.
- Tạo dựng và phát triển một thị trờng tài chính trong nớc hoàn chỉnh, bao
gồm thị trờng t bản tài chính chứng khoán và tài chính tiền tệ.
Còn ở nớc ta chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần
nhằm các mục tiêu sau ( Theo nghị định số 44/1998/NĐ-C P ngày 29-6 1998
của chính phủ ) :
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế tổ chức xã
hội trong và ngoài nớc để đầu t và đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,
phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh
nghiệp nhà nớc.
- Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và ngời góp
vốn đợc làm chủ thực sự thay đổi phơng thức quản lý tạo động lực thúc đẩy
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nớc nâng cao thu
nhập của ngời lao động góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
1.2. Phơng hớng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
1.2.1. Đối tợng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Để xác định đối tợng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, chính phủ các nớc
thờng xuất phát từ tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân đem phân toàn
bộ các doanh nghiệp nhà nớc thành bốn loại.
- Các doanh nghiệp nhà nớc không hoặc cha cổ phần hoá. Đây là các doanh
nghiệp nhà nớc toàn phần do nhà nớc thành lập và đầu t vốn 100%, bao gồm
các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công ích và các doanh nghiệp sản xuất,
cung ứng những sản phẩm hoặc dịch vụ có quan hệ lớn đến quốc tế dân sinh
và an ninh quốc phòng mà nhà nớc cần phải độc quyền kinh doanh .
- Các doanh nghiệp nhà nớc đợc đa vào diện cổ phần hoá để chuyển thành các
công ty cổ phần hỗn hợp nhà nớc t nhân, trong đó nhà nớc vẫn cần nắm giữ
quyền chi phối hoặc kiểm soát với mức độ khác nhau tuỳ theo tỷ lệ cổ phần
của nhà nớc trong công ty. Đây là bộ phận doanh nghiệp nhà nớc chủ yếu
cần phải tiến hành cổ phần hoá .
11
- Các doanh nghiệp nhà nớc cần tiến hành cổ phần hoá để chuyển thành các
công ty cổ phần t nhân. Nhà nớc không cần nắm quyền chi phối hoặc kiểm
soát các công ty t nhân, các công ty tự chủ trong kinh doanh hoạt động theo
pháp luật và bình đẳng trớc pháp luật.
- Các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ kéo dài nhiều năm không còn khả
năng khôi phục hoạt động trong các ngành nghề không thật cần thiết cho
quốc tế dân sinh, cần kiên quyết cho giải thể, phá sản hoặc sát nhập vào các
công ty cổ phần t nhân nhằm giảm nhẹ cho ngân sách nhà nớc.
1.2.2. Hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc .
Hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đợc đề ra căn cứ vào mục tiêu
của chiến lợc cải cách khu vực kinh tế nhà nớc nhằm phát triển nền kinh tế thị
trờng hỗn hợp cho phép đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao. Chủ yếu có :
- Bán đấu giá hoặc bán trực tiếp các doanh nghiệp nhà nớc vừa và nhỏ hoạt
động trong các nghành thơng nghiệp và dịch vụ.
- Giữ nguyên phần vốn nhà nớc tại doanh nghiệp, phát triển cổ phiếu và bán
cho tất cả ai muốn mua thông qua cơ sở giao dịch chứng khoán. Qua đó thu
hút thêm vốn để đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Hình thức này đợc sử
dụng để cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc có quy mô lớn.
- Bán một phần vốn cố định của doanh nghiệp nhà nớc cho một nhóm cá
nhân hoặc công ty mà họ có khả năng tài chính để cải cách hoạt động của
doanh nghiệp để cho có hiệu quả hơn.
- Bán với giá thấp hơn giá thị trờng cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nớc cho
cán bộ, công nhân viên chức làm việc tại các doanh nghiệp đó hoặc cho
những ngời nghèo khó có thu nhập thấp nhằm giải quyết những vấn đề xã
hội.
ở Việt Nam cổ phần hoá đợc tiến hành theo các hình thức sau đây.
1. Giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
2. Bán một phần giá trị thuộc vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp
3. Tách một bộ phận hiện có tại doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá .
12
4. Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nớc tại doanh nghiệp để chuyển
thành công ty cổ phần .
1.2.3 Những nhân tố tác động đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n-
ớc ở nớc ta .
a. Yếu tố thuận lợi .
Điều kiện và môi trờng pháp lý về cơ bản đã đợc xác lập tại tất cả các doanh
nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng. Việc thực hiện thơng mại hoá các
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, là tiền đề cơ bản và cần thiết
để từng bớc thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc.
- Chính phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nớc và quyết tâm thực hiện. Điều này thể hiện ở việc ban
hành các văn bản dới luật nhằm thực hiện chơng trình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc nh luật doanh nghiệp. Nghị định số 28 CP của chính phủ
về chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần Nghị định
44/1998 NĐ- CP về chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ
phần
Cụ thể hoá việc thực hiện vấn đề này. Điều này góp phần xác định góp
phần xác định rõ quan điểm và phơng hớng chỉ đạo thống nhất ở mọi cấp mọi
ngành cho đến từng doanh nghiệp để triển khai thực hiện .
- Tình hình kinh tế của đất nớc đã có nhiều biến đổi theo hớng tích cự. . Giá
cả thị trờng đã đợc duy trì tơng đối ổn định mức lạm phát đã đợc kiềm chế,
đồng tiền Việt Nam đã giữ đợc giá, lãi suất ở mức khuyến khích các hoạt
động đầu t vào sản xuất kinh doanh Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi
về tâm lý cho mọi ngời muốn đầu t thông qua hình thức mua cổ phiếu trong
các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá.
- Nhờ những đổi mới trong chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần của nhà nớc mấy năm qua thu nhập của dân c đợc nâng cao. Số ngời
khá giả ở thành thị và nông thôn ngày càng nhiều. Đây là lợng cầu tiềm
năng có thể đáp ứng cho các chứng khoán phát hành ở những doanh nghiệp
đợc cổ phần hoá.
13
- Hoạt động trong cơ chế thị trờng với thời gian cha lâu nhng đã xuất hiện đội
ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp có khả năng kinh doanh lớn, ngời lao
động trong các doanh nghiệp đã thích ứng đợc về ý thức tác phong và hiệu
quả công việc trong điều kiện cạnh tranh về năng suất chất lợng và hiệu quả.
Điều này sẽ làm cho ngời đầu t yên tâm bỏ vốn góp phần thuận lợi cho việc
cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc
- Với luật đầu t nớc ngoài và sự xuất hiện của nhiều chi nhánh ngân hàng
kinh doanh của nớc ngoài tại Việt Nam đã góp phần tạo môi trờng và điều
kiện thuận lợi để các nhà đầu t nớc ngoài đầu t bằng cổ phiếu và các doanh
nghiệp nhà nớc đợc tiến hành cổ phần hoá.
- Ngoài ra, những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nớc trên thế giới
trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc sẽ là những bài học bổ
ích và quý giá để nhà nớc tiến hành hoạch định chính sách và tổ chức thực
hiện công việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam .
b. Các yếu tố khó khăn và cản trở .
- Khó khăn và cản trở lớn nhất trong quá trình t nhân hoá và cổ phần hoá ở
nhiều nớc đang phát triển là khu vực t nhân nhỏ bé và yếu ớt. Điều này cũng
đúng với Việt Nam, sự nhỏ bé yếu ớt của khu vực kinh tế t nhân phản ánh
trình độ chậm phát triển của kinh tế thị trờng trong đó hình thái doanh
nghiệp một chủ tự mình đứng ra kinh doanh là phổ biến . Hình thái công ty
cổ phần còn xa lạ với hầu hết mọi ngời. Điều này gây ra sự bỡ ngỡ cho cả
ngời đầu t lẫn ngời sử dụng vốn đầu t dới hình thái cổ phiếu và do đó, làm
cho việc tiến hành chơng trình cổ phần hoá ở nớc ta phải thực hiện trong một
thời gian dài song song với sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ
phần cũng nh xác lập môi trờng pháp lý tơng ứng
- Sự thiếu vắng một thị trờng tài chính thực sự trong đó có thị trờng chính
khoán ( thị trờng chính khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động
của các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng ). ở nớc ta sở giao dịch
chứng khoán đã đi vào hoạt động hơn một năm, nhng vẫn còn non nớt và cha
phát huy hết tác dụng của nó dẫn đến việc định giá doanh nghiệp để cổ phần
hoá phát hành và lu thông cổ phiếu, việc mua bán cổ phiếu còn gặp nhiều
khó khăn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét