Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo thương mại điện tử năm 2008 của bộ công thương việt nam

BÁO CÁO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NĂM 2008 CỦA BỘ CÔNG
THƯƠNG VIỆT NAM
Posted on 09/04/2009 by Civillawinfor
TỔNG QUAN
Nền kinh tế Việt Nam năm 2008 đã phải trải qua rất nhiều khó khăn thách thức nhưng với
sự năng động, tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, thương mại điện tử Việt Nam vẫn kế thừa
được sự phát triển sôi động của năm 2007 và đang dần đi vào chiều sâu, đặt nền móng cho sự phát
triển toàn diện trong những năm tới.
Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2008 được xây dựng trên cơ sở đánh giá kết quả 3 năm triển
khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, tình hình triển khai một số
hoạt động về bảo vệ dữ liệu cá nhân và ứng dụng các tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử.
Trên cơ sở đó, Báo cáo đề xuất những khuyến nghị nhằm thực hiện thành công Kế hoạch tổng thể phát
triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010.
Phần tổng quan này sẽ điểm lại những nét nổi bật nhất của thương mại điện tử Việt Nam năm 2008.
Mục tiêu chính là giúp người đọc nắm bắt nhanh tình hình phát triển thương mại điện tử Việt Nam qua
những nét lớn này.
1. Thương mại điện tử đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp với hiệu quả ngày
càng tăng
Kết quả điều tra với 1600 doanh nghiệp trên cả nước của Bộ Công Thương trong năm 2008 cho
thấy, hầu hết các doanh nghiệp đã triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở những mức độ khác nhau.
Đầu tư cho thương mại điện tử đã được chú trọng và mang lại hiệu quả rõ ràng cho doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đã quan tâm tới việc trang bị máy tính, đến nay hầu như 100% doanh nghiệp đều
có máy tính. Tỷ lệ doanh nghiệp có từ 11–20 máy tính tăng dần qua các năm và đến năm 2008 đạt trên
20%. Tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm 2007. Đến
nay, có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối Internet, trong đó kết nối băng thông rộng chiếm 98%. Tỷ lệ
doanh nghiệp có website năm 2008 đạt 45%, tăng 7% so với năm 2007. Tỷ lệ website được cập nhật
thường xuyên và có chức năng đặt hàng trực tuyến đều tăng nhanh.
Một trong những điểm sáng nhất về ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp là tỷ lệ đầu tư
cho phần mềm tăng trưởng nhanh, chiếm 46% trong tổng đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp
năm 2008, tăng gấp 2 lần so với năm 2007. Trong khi đó, đầu tư cho phần cứng giảm từ 55,5% năm 2007
xuống còn 39% vào năm 2008. Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư này cho thấy doanh nghiệp đã bắt đầu chú
trọng đầu tư cho các phần mềm ứng dụng để triển khai thương mại điện tử sau khi ổn định hạ tầng công
nghệ thông tin. Doanh thu từ thương mại điện tử đã rõ ràng và có xu hướng tăng đều qua các năm. 75%
doanh nghiệp có tỷ trọng doanh thu từ thương mại điện tử chiếm trên 5% tổng doanh thu trong năm 2008.
Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm bố trí cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử.
Các con số thống kê này cho thấy, đến thời điểm cuối năm 2008 nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã
nhận thức rõ về tầm quan trọng của thương mại điện tử đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và sẵn sàng
ứng dụng thương mại điện tử ở mức cao hơn trong thời gian tới.
2. Các tổ chức đào tạo chính quy đẩy mạnh giảng dạy thương mại điện tử
Để đánh giá tình hình đào tạo chính quy về thương mại điện tử sau ba năm triển khai Kế hoạch tổng
thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy đào
tạo thương mại điện tử trong hai năm cuối triển khai Kế hoạch tổng thể, năm 2008 Bộ Công Thương đã
tiến hành điều tra toàn diện tình hình đào tạo thương mại điện tử tại các trường đại học và cao đẳng trong
cả nước.
Kết quả cuộc điều tra cho thấy đến thời điểm cuối năm 2008, tại Việt Nam có 49 trường triển khai
hoạt động đào tạo về thương mại điện tử, gồm 30 trường đại học và 19 trường cao đẳng. Trong số 30
trường đại học đã giảng dạy thương mại điện tử, 1 trường thành lập khoa thương mại điện tử, 19 trường
giao cho khoa kinh tế – quản trị kinh doanh phụ trách giảng dạy thương mại điện tử và 10 trường giao cho
khoa công nghệ thông tin phụ trách giảng dạy môn học này, 8 trường thành lập bộ môn thương mại điện
tử. Trong số 19 trường cao đẳng đã giảng dạy thương mại điện tử, 1 trường thành lập khoa thương mại
điện tử, 9 trường giao cho khoa kinh tế phụ trách giảng dạy thương mại điện tử và 9 trường giao cho khoa
công nghệ thông tin phụ trách dạy môn học này, có 3 trường cao đẳng đã thành lập bộ môn thương mại
điện tử.
Về kế hoạch đào tạo trong thời gian tới, trong số 108 trường tham gia điều tra có 33 trường dự định
xây dựng ngành thương mại điện tử và 52 trường dự kiến sẽ triển khai đào tạo thương mại điện tử trong
tương lai gần.
Như vậy, có thể thấy các tổ chức đào tạo nắm bắt khá nhanh nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp
đối với nguồn nhân lực về thương mại điện tử và đã triển khai khá sớm hoạt động đào tạo nhân lực cho
lĩnh vực này. Tuy nhiên, sự phát triển của hoạt động đào tạo hiện nay đang ở trong giai đoạn phát triển tự
phát, chưa có sự quan tâm thoả đáng của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Hầu như chưa trường
nào thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực thương
mại điện tử do trường đào tạo. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng chưa chủ động đề xuất nhu cầu tuyển
dụng nhân lực thương mại điện tử trong ngắn hạn và trung hạn làm căn cứ cho các cơ sở đào tạo.
3. Nhiều cơ quan, địa phương đã quan tâm tới vấn đề cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010 đề ra nhiệm vụ “Đến năm
2010 các cơ quan Chính phủ phải đưa hết dịch vụ công lên mạng, trong đó ưu tiên các dịch vụ: thuế điện
tử, hải quan điện tử, các thủ tục xuất nhập khẩu điện tử, thủ tục liên quan tới đầu tư và đăng ký kinh doanh
điện tử, các loại giấy phép thương mại chuyên ngành…”. Trong ba năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch tổng
thể, các Bộ ngành đã tích cực triển khai và đạt được nhiều kết quả khả quan đối với một số dịch vụ công
quan trọng với hoạt động thương mại như dịch vụ thủ tục hải quan điện tử, dịch vụ khai, nộp thuế điện tử,
dịch vụ cấp chứng nhận xuất xứ điện tử và dịch vụ ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm Chính
phủ.
Từ năm 2005, Bộ Tài chính bắt đầu triển khai Dự án Thủ tục hải quan điện tử và đến nay cơ bản đã
đạt được các mục tiêu đặt ra như rút ngắn thời gian thông quan, giảm hồ sơ giấy tờ, giảm chi phí cho
doanh nghiệp. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thông qua thủ tục hải quan điện tử tăng dần qua các
năm, từ 8% năm 2006 lên trên 16% năm 2007 và 9 tháng đầu năm 2008 đã đạt 17,5% tổng kim ngạch xuất
khẩu.
Một trong những thành công nổi bật trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ cấp
chứng nhận xuất xứ điện tử của Bộ Công Thương (eCoSys). Với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu
giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, eCoSys được triển khai từ đầu năm 2006. Đến cuối năm 2008,
eCoSys đã được đưa vào triển khai toàn diện trên cả nước, tất cả doanh nghiệp có nhu cầu cấp CO ưu đãi
cho hàng hoá xuất khẩu có thể gửi đơn đề nghị cấp CO ưu đãi qua Hệ thống cấp CO điện tử đến các tổ
chức cấp CO thuộc Bộ Công Thương mà không cần phải trực tiếp đến làm thủ tục như trước kia.
Hiện nay, một số dự án về dịch vụ công trực tuyến quan trọng khác như dịch vụ khai, nộp thuế điện
tử do Bộ Tài chính chủ trì, dịch vụ ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm Chính phủ do Bộ Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì đang chuẩn bị chuyển sang giai đoạn triển khai thí điểm.
Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và địa phương cũng rất coi trọng việc cung cấp trực tuyến các dịch vụ
công khác. Tính đến hết tháng 12 năm 2008, hầu hết các Bộ ngành và 59/63 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương có website để giao tiếp với công dân và các tổ chức trong xã hội. Phần lớn các
website này đều cung cấp những dịch vụ công trực tuyến cơ bản như cung cấp thông tin về hoạt động của
tổ chức, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật, quy trình thủ tục hành chính công và tương tác với tổ chức
cá nhân qua website.
Một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, v.v… đã bắt đầu triển khai cung cấp trực
tuyến các dịch vụ công liên quan đến thương mại như cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy
chứng nhận đầu tư, giấy phép thành lập văn phòng đại diện, đăng ký thuế, đăng ký con dấu, v.v…
Cùng với sự tiến bộ nhanh trong công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến thương mại
điện tử và hạ tầng công nghệ, sự quan tâm chỉ đạo của Nhà nước, những điển hình về cung cấp thành công
dịch vụ công trực tuyến trên quy mô cả nước cũng như tại một tỉnh, thành phố cụ thể sẽ góp phần giúp
hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới.
4. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân bước đầu được quan tâm
Bên cạnh những nét nổi bật trên, năm 2008 còn chứng kiến những chuyển biến có ý nghĩa lớn đối
với sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam giai đoạn tới.
Trong thương mại điện tử, các giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, các đối
tác không cần phải gặp mặt trực tiếp, nên nhu cầu về thông tin cá nhân là rất lớn. Giao dịch thương mại
điện tử của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian gần đây tăng nhanh, khối lượng thông tin trao đổi ngày
càng nhiều. Tuy nhiên, những vi phạm liên quan đến thông tin cá nhân cũng ngày một nhiều hơn, gây tâm
lý e ngại cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch thương mại điện tử.
Từ năm 2005 đến nay các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều nỗ lực đưa các quy định liên quan
đến bảo vệ thông tin cá nhân vào các văn bản quy phạm pháp luật, với các hình thức xử phạt, chế tài cụ
thể. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ
thông tin cá nhân trong khuôn khổ APEC và song phương. Bộ Công Thương đã tổ chức dịch và phổ biến
tài liệu Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử của APEC, phối hợp
với Bộ Thương mại và Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ tổ chức hai hội thảo về bảo vệ thông tin
cá nhân trong năm 2007 và 2008, v.v…
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã ý thức được tầm quan trọng và quan tâm tới vấn đề bảo vệ
thông tin cá nhân. Theo kết quả khảo sát năm 2008 của Bộ Công Thương, 18% trong số 132 doanh nghiệp
cho biết đã có quy chế bảo vệ thông tin cá nhân, 40% khác sẽ xây dựng quy chế trong tương lai gần. Tuy
chưa có quy định cụ thể đối với việc thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng nhưng các
doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bước đầu kết hợp các biện pháp về quản lý và công nghệ để bảo vệ thông
tin của khách hàng. 67% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết có triển khai cả hai nhóm giải pháp công
nghệ và quản lý để bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng.
5. Thanh toán điện tử tiếp tục phát triển nhanh và đang đi vào cuộc sống
Nếu như năm 2007 được đánh giá là năm đánh dấu bước phát triển nhanh chóng và toàn diện của
thanh toán điện tử, thì năm 2008 là năm thanh toán điện tử khởi sắc và thực sự đi vào cuộc sống.
Đối với hệ thống thanh toán ở tầm quốc gia, sau nhiều năm tích cực triển khai, ngày 8 tháng 11 năm
2008 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chính thức đưa vào vận hành Hệ thống thanh toán điện tử liên
ngân hàng giai đoạn II. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đẩy mạnh công tác kết nạp thành
viên mới, mở rộng phạm vi hoạt động của Hệ thống. Dự kiến trong Quý 2 năm 2009, Hệ thống thanh toán
điện tử liên ngân hàng giai đoạn II sẽ được phủ sóng toàn quốc. Khi hoàn thiện, Hệ thống có khả năng xử
lý 2 triệu giao dịch thanh toán/ngày, góp phần quan trọng trong việc mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt
động thanh toán, chu chuyển vốn của nền kinh tế.
Dịch vụ thanh toán thẻ cũng có một năm phát triển tích cực. Đến hết năm 2008, các tổ chức ngân
hàng đã phát hành khoảng 13,4 triệu thẻ thanh toán, tăng 46% so với năm 2007. Toàn hệ thống ngân hàng
đã lắp đặt và đưa vào sử dụng 7.051 máy ATM, tăng trên 46% so với năm 2007, số lượng máy POS đạt
trên 24.000 chiếc. Hệ thống thanh toán của hai liên minh thẻ lớn nhất cả nước là Banknetvn và Smartlink
với trên 90% thị trường thẻ toàn quốc đã được kết nối liên thông.
Trong năm 2008, với sự năng động, tích cực của các ngân hàng và doanh nghiệp, một loạt dịch vụ
thanh toán điện tử với những giải pháp khác nhau đã xuất hiện. Đặc biệt số lượng website thương mại điện
tử cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến có sự phát triển nhảy vọt. Nếu năm 2007 chỉ có một vài website
thương mại điện tử cung cấp dịch vụ này thì năm 2008 đã có trên 50 website của các doanh nghiệp thuộc
nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như ngân hàng, hàng không, du lịch, siêu thị bán hàng tổng hợp,
v.v… triển khai thành công việc cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến cho khách hàng.
Theo Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán đã giảm
xuống còn 14% vào thời điểm cuối năm 2008, so với mức 18% của năm 2007.
Có thể khẳng định rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng thanh toán điện tử và các dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt trong năm 2008, giai đoạn 2009 – 2010 sẽ chứng kiến những sự thay đổi
sâu sắc trong hoạt động thanh toán tại Việt Nam.
Ngoài ra, hiện nay các Bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy việc áp dụng các
tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghệ, các
tiêu chuẩn chung sử dụng trong thương mại điện tử, đặc biệt là chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI và
ebXML). Tại Chương III của Báo cáo này sẽ cung cấp các thông tin tổng quan về tình hình phổ biến, xây
dựng và ứng dụng các tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử của các doanh nghiệp thuộc nhiều
lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Hội thảo về ứng dụng Thương mại điện tử trong doanh nghiệp
- Ngày 1/12/06, Viện tin học doanh nghiệp - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
phối hợp với Sở Bưu chính Viễn thông tổ chức buổi hội thảo “Ứng dụng thương mại điện tử trong doanh
nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển” tại tỉnh Đắklắk với mục tiêu đánh giá thực trạng ứng dụng
đồng thời cùng nhau đưa ra các giải pháp hỗ trợ nhằm giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
- Trong bối cảnh Việt Nam vừa chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO),
vấn đề ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp đang được Chính phủ cùng các doanh nghiệp hết
sức quan tâm. Hiện nay, tại hầu hết các nền kinh tế phát triển trên thế giới có đến 90% giá trị TMĐT là từ
loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (Business to Business). Theo kế hoạch phát triển tổng thể thương
mại điện tử (TMĐT) giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2010, 60%
số doanh nghiệp lớn, 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng TMĐT và 10% số hộ gia đình tham gia mua
bán qua TMĐT.
- Trong những năm gần đây, khung chính sách và pháp lý cho TMĐT ở nước ta đã hình thành và có
nhiều hoạt động hỗ trợ TMĐT, các hoạt động đào tạo nhân lực cũng đang đi vào chiều sâu. Cùng với sự
phát triển bùng nổ của CNTT và Internet, các ứng dụng trên đó cũng phát triển đa dạng và phong phú,
trong đó TMĐT phát triển với những phương thức khác nhau và phát triển nhanh. Vấn đề tồn tại lớn nhất
hiện nay của Việt Nam là hạ tầng để áp dụng TMĐT. Trong đó, những rào cản trong việc thanh toán qua
mạng, vấn đề bảo mật, an ninh mạng và đồng bộ hóa hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, … đang đòi hỏi sự
đầu tư chiều sâu và phát triển bền vững.
- Tham dự buổi hội thảo có đại diện Bộ Bưu chính viễn thông, Cục ứng dụng CNTT, các công ty và
đơn vị cung cấp giải pháp như: NH Đầu tư và phát triển VN, Công ty AZ Solution, CMS, Trung tâm điện
toán và truyền số liệu KV3 (VDC3) cùng với hơn 200 doanh nghiệp trên địa bàn khu vực Tây Nguyên. Các
đại biểu đã cùng nhau thảo luận về thực trạng và sự cần thiết của việc ứng dụng TMĐT trong doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khu vực Tây Nguyên. Đây là khu vực vẫn chưa thực hiện được một
dự án ứng dụng và triển khai TMĐT nào theo Quyết định 222/2005/QĐ-TTg.
- Thị trường TMĐT ở khu vực Tây Nguyên chủ yếu là các giao dịch hợp đồng hàng hóa theo tiêu
chuẩn trên các sàn giao dịch lớn như: NYBOT, LIFFE, CBOT, … thông qua trung gian môi giới là các
ngân hàng với các mặt hàng giao dịch chủ yếu là nông sản (cà phê, cao su, cacao). Điều này đã tạo nhiều
cơ hội mở rộng thị trường, tìm kiếm và tiếp cận với các đối tác trên thế giới đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu trong khu vực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp tự tổ chức “sàn giao dịch thứ cấp”, với khá
nhiều rủi ro không lường trước được, dẫn đến thua lỗ, phá sản. Có nhiều nguyên nhân để giải thích nhưng
quan trọng nhất đó là do các doanh nghiệp chưa thật sự tìm hiểu kỹ về bản chất của TMĐT cũng như các
hoạt động giao dịch của nó.
- Hội thảo là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp được tìm hiểu và tiếp cận với nhiều giải pháp được
cung cấp bởi những công ty hàng đầu trong lĩnh vực CNTT của Việt Nam. Cũng tại hội thảo đã diễn ra lễ
ký kết thỏa thuận hợp tác chương trình hành động năm 2007 “Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT phục
vụ Hội nhập và phát triển” giữa Viện tin học Doanh nghiệp – VCCI và Sở Bưu chính Viễn thông – UBND
tỉnh Đắklắk.
- Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Thảo, Phó tổng thư ký VCCI, Viện trưởng viện tin học
doanh nghiệp (ITB), cho biết: “Việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu hội nhập và
phát triển cần thiết phải được thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất giữa các cấp chính quyền và các
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụng TMĐT và phải
nắm rõ khả năng của mình để từ đó lựa chọn được những giải pháp đúng đắn”.
Thực trạng Thương mại điện tử ở Việt Nam
Theo thống kê mới nhất, tính đến giữa năm 2005, Việt Nam đã có khoảng 10 triệu người truy cập
Internet, chiếm gần 12,5% dân số cả nước. Tỷ lệ này cũng ngang bằng với tỷ lệ chung của toàn cầu năm
2004.
- Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2 triệu người, đến cuối năm
2004 con số này đã tăng lên gần gấp đôi, tức khoảng 6,2 triệu người, sáu tháng sau đó, con số này đã lên
đến hơn 10 triệu, dự đoán đến cuối năm 2005, số người Việt Nam truy cập Internet có thể lên đến 13 đến
15 triệu người, chiếm tỷ lệ 16% - 18% dân số cả nước. Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạc quan
về sự phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010.
- Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Thương mại, đến cuối năm 2004, Việt Nam đã
có khoảng 17.500 website của các doanh nghiệp, trong đó số tên miền .vn (như .com.vn, .net.vn, ) đã tăng
từ 2.300 (năm 2002) lên 5.510 (năm 2003) và 9.037 (năm 2004).
- Năm 2003, 2004 là năm các website sàn giao dịch B2B (marketplace), các website rao vặt, các siêu
thị trực tuyến B2C đua nhau ra đời. Tuy nhiên, các website này vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có
website nào thực sự phát triển đột phá vì nhiều nguyên do. Những mặt hàng được bán phổ biến trên mạng
tại Việt Nam hiện nay gồm: hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin (sách điện tử, CD, VCD,
nhạc ), thiệp, hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ. Các dịch vụ ứng dụng Thương mại điện tử nhiều
như: du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụ thông tin (thông tin tổng hợp, thông tin chuyên ngành ), giáo dục và
đào tạo
- Các doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệu thông tin, hỗ trợ
marketing, bán hàng qua mạng Bảng sau minh họa kết quả khảo sát của Vụ Thương mại điện tử về quan
điểm của doanh nghiệp về tác dụng của website đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tác dụng của Website đối với Doanh nghiệp
Điểm (0 là thấp nhất, 4 là cao nhất)
Xây dựng hình ảnh công ty
3,2
Mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng hiện có
2,9
Thu hút khách hàng mới
2,6
Tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động
2,0
Tăng doanh số
1,9
Bảng 1: Quan điểm của doanh nghiệp về tác dụng của website
- Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2004, Vụ Thương mại điện tử
- Kết quả khảo sát trên phản ánh thực tế đa phần doanh nghiệp có website mới chỉ xem website là kênh
tiếp thị bổ sung để quảng bá hình ảnh công ty và giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, do đó, doanh nghiệp chưa
đầu tư khai thác hết những lợi ích Thương mại điện tử có thể mang lại cho doanh nghiệp. Thậm chí việc
đầu tư marketing website để đối tượng khách hàng biết đến cũng chưa được doanh nghiệp quan tâm thực
hiện hiệu quả, bằng chứng là có nhiều website có số lượng người truy cập rất khiêm tốn sau khi khai
trương nhiều tháng, nhiều năm, và đa số các website giới thiệu thông tin, sản phẩm này của doanh nghiệp
được Alexa xếp hạng rất “lớn” (trên 500.000).
= Nhìn chung, việc phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát, chưa được
định hướng bởi chính phủ và các cơ quan chuyên môn nhà nước. Do đó, sự đầu tư cho TMĐT ở mỗi doanh
nghiệp phụ thuộc vào tầm nhìn, quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp. Cũng có nhiều cá nhân, doanh
nghiệp thành lập những website Thương mại điện tử (sàn giao dịch, website phục vụ việc cung cấp thông
tin, website rao vặt, siêu thị điện tử ) để giành vị thế tiên phong, tuy nhiên, tình hình chung là các website
này chưa thực sự được marketing tốt và phát triển tốt để mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể.
Để Thương mại điện tử phát triển, cần nhiều yếu tố thúc đẩy, làm nền tảng như:
a. Cơ sở hạ tầng công nghệ
b. Số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet
c. Nhân lực chuyên môn
d. Kiến thức Thương mại điện tử về phương diện kinh doanh, chiến lược, và nhận thức của nhà đầu tư
e. Nhận thức của cộng đồng
f. Vai trò lãnh đạo của nhà nước
g. Luật
Theo khảo sát của tác giả, 7 yếu tố trên được xếp hạng như sau (thang điểm từ 0 đến 9, 0 là hầu như chưa
có gì, 9 là mức cao nhất thúc đẩy sự phát triển Thương mại điện tử )
Yếu tố
Thang điểm (0-9)
Số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet
7
Cơ sở hạ tầng công nghệ
6
Vai trò lãnh đạo của nhà nước
5
Kiến thức Thương mại điện tử về phương diện kinh doanh,
chiến lược, và nhận thức của nhà đầu tư
4
Nhân lực chuyên môn
3
Nhận thức của cộng đồng
2
Luật
1
Bảng 2: Xếp hạng các yếu tố thúc đẩy sự phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Thương mại điện tử Việt Nam - thách thức đầu xuânl
Con số trên 97% các doanh nghiệp Việt Nam chưa ứng dụng TMĐT hoặc xây dựng website rất
đáng suy nghĩ. Phải chăng các doanh nghiệp Việt Nam bỏ quên một “cơ hội" lớn trong kinh doanh chăng?
Câu trả lời là: Đúng! Tuy nhiên, trong đó còn có cả trách nhiệm của các cơ quan quản lý khi chưa tạo ra
một môi trường tốt cho việc phát triển TMĐT. Theo ông Nguyễn Dũng, Giám đốc điều hành mạng
www.thuonghieuviet.com, việc áp dụng TMĐT bằng cách tự "bơi" là điều hết sức nguy hiểm: Luật pháp
chưa bảo vệ được các doanh nghiệp trước những hành động "bạo lực” của các hacker "mũ đen" - tức là
chưa xử lý nghiêm bằng Luật hình sự được. Trong khi đó, việc các hacker sử dựng "đòn" Dos hoặc Ddos
(tấn công từ chối dịch vụ) đã làm cho việc phát triển TMĐT đã khó lại càng khó hơn. Khâu thanh toán trực
tuyến là bài toán khó giải, đa số doanh nghiệp vẫn "thủ công” tức là thanh toán tiền dạng chuyển khoản
hoặc khi giao hàng lấy tiền mặt. Cũng có đơn vị dùng phương pháp tổng hợp như www.golmart.com và để
khách hàng thanh toán như: thẻ tín dụng quốc tế (Visa, Master), chuyển khoản, chuyển tiền bưu điện, lấy
tiền mặt Tuy nhiên, số lượng người dùng thẻ tín dụng chưa nhiều, hoặc có thì cũng chưa dám thanh toán
trực tuyến vì sợ "mất" tiền do sơ suất trong giao dịch bị hacker trộm mật mã tài khoản.
Dùng liệu pháp sốc?
Tinh thần quyết liệt áp dụng TMĐT của doanh nghiệp chính là liệu pháp gây "sốc” nhất Chị
Nguyễn Thị Cúc, Giám đốc điều hành website TMĐT chuyên kinh doanh ngành thủ công mỹ nghệ www
heavengate.us cho biết, nếu chỉ ngồi mà… "sợ” các hacker, thì bao giờ chứng ta ra được "biển lớn" bằng
con đường ngắn nhất: TMĐT! Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải "có lửa" khi đi trên con đường TMĐT để
hội nhập với kinh tế toàn cầu ông Dương Công Đông, Giám đốc chợ ảo www.camnangtieudung.net bộc
bạch: Thuyết phục các doanh nghiệp tham gia TMĐT "chính quy” rất khó, vì thế tôi chọn cách đi "đường
vòng” mời tham gia quảng cáo, tiếp thị bằng hình thù liên kết thành viên như Phát hành thẻ giảm giá mua
hàng ở các shop cho thành viên trên mạng www.camnangtieudung.net hơn là anh Nguyễn Hòa Bình, Tổng
Giám đốc www.chodientu.vn, website TMĐT được Quỹ đầu tư tập đoàn IDG (Mỹ) đầu tư khi tuyên bố.
Hack thì cứ haek, làm thì cứ làm. Chẳng lẽ mình "bó tay" không làm.
Dưới mắt bạn bè thế giới, Việt Nam đang được đánh giá là nơi có tiềm năng cho phát triển TMĐT.
Tốc độ tăng trưởng sử dụng Intetnet cao nhất trong khu vực ASEAN là: 128,4% và trên 1,9 triệu thuê bao
Intetnet là thuận lợi cho sự phát triển TMĐT. Tập đoàn IDG đánh giá về tăng trưởng thị trường CNTT
Việt Nam đến năm 2008 đạt mức chi tiêu nằm trong topten các nước tăng trưởng hàng đầu thế giới, với tỷ
lệ tăng trưởng đạt 16%.
Cơ hội đó, thử thách đó - liệu các doanh nghiệp Việt Nam có vượt thời gian để tạo được kỳ tích
chăng?
E-Commerce
. E-Commerce là gì?
E-commerce (Electronic commerce - thương mại điện tử) là hình thái hoạt động thương mại bằng
phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử
mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. (nên còn
được gọi là “thương mại không giấy tờ”)
Đầu trang
2. Lợi ích của thương mại điện tử (TMĐT)?
• TMĐT giúp cho các Doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường và đối tác
• TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất
• TMĐT giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
• TMĐT qua INTERNET giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và
chí phí giao dịch.
• TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia
vào quá trình thương mại.
• Tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hoá.
Đầu trang
3. Các công đoạn của một giao dịch mua bán trên mạng?
Gồm có 6 công đoạn sau:
1. Khách hàng, từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin thanh toán và điạ chỉ liên
hệ vào đơn đặt hàng (Order Form) của Website bán hàng (còn gọi là Website thương mại điện
tử). Doanh nghiệp nhận được yêu cầu mua hàng hoá hay dịch vụ của khách hàng và phản hồi
xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết nh mặt hàng đã chọn, địa chỉ giao nhận và số
phiếu đặt hàng
2. Khách hàng kiểm tra lại các thông tin và kích (click) vào nút (button) "đặt hàng", từ bàn phím
hay chuột (mouse) của máy tính, để gởi thông tin trả về cho doanh nghiệp.
3. Doanh nghiệp nhận và lưu trữ thông tin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp thông tin thanh toán (số
thẻ tín dụng, ngày đáo hạn, chủ thẻ ) đã được mã hoá đến máy chủ (Server, thiết bị xử lý dữ
liệu) của Trung tâm cung cấp dịch vụ xử lý thẻ trên mạng Internet. Với quá trình mã hóa các
thông tin thanh toán của khách hàng được bảo mật an toàn nhằm chống gian lận trong các giao
dịch (chẳng hạn doanh nghiệp sẽ không biết được thông tin về thẻ tín dụng của khách hàng).
4. Khi Trung tâm Xử lý thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán, sẽ giải mã thông tin và xử lý
giao dịch đằng sau bức tường lửa (FireWall) và tách rời mạng Internet (off the Internet), nhằm
mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dịch thương mại, định dạng lại giao dịch và chuyển
tiếp thông tin thanh toán đến ngân hàng của doanh nghiệp (Acquirer) theo một đường dây thuê
bao riêng (một đường truyền số liệu riêng biệt).
5. Ngân hàng của doanh nghiệp gởi thông điệp điện tử yêu cầu thanh toán (authorization request)
đến ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ tín dụng của khách hàng (Issuer). Và tổ chức tài chính
này sẽ phản hồi là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên mạng
Internet.
6. Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên Internet sẽ tiếp tục chuyển tiếp những thông tin phản hồi trên
đến doanh nghiệp, và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo cho khách hàng được rõ là đơn đặt
hàng sẽ được thực hiện hay không.
7. Toàn bộ thời gian thực hiện một giao dịch qua mạng từ bước 1 -> bước 6 được xử lý trong
khoảng 15 - 20 giây.
Đầu trang
4. Authorization number là gì?
Đây là mã số xác nhận. Sau khi kiểm tra thẻ tín dụng đã hợp lệ hay chưa, ngân hàng người mua sẽ
gởi mã số xác nhận đồng ý chi trả cho doanh nghiệp kèm theo thông số về đơn đặt hàng.
Đầu trang
5. PSP là gì?
PSP là viết tắt của các từ Processing Service Provider, tức là nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán
qua mạng.
Đầu trang
6. Merchant Account là gì?
Merchant Account là tài khoản thanh toán của các doanh nghiệp khi tham gia TMĐT mà nó cho
phép chuyển tiền vào tài khoản của doanh nghiệp hay hoàn trả lại tiền thu được cho khách hàng, nếu giao
dịch bị hủy bỏ vì không đáp ứng được những yêu cầu thỏa thuận nào đó giữa người bán và người mua
(chẳng hạn như chất lượng sản phẩm) thông qua bán hàng hoá hoặc dịch vụ trên mạng Internet.
Merchant Account phải được đăng ký tại các ngân hàng/ tổ chức tín dụng cho phép doanh nghiệp
nhận được các khoản thanh toán bằng thẻ tín dụng.
Đầu trang
7. Monthly fee là gì?
Đây là phí mà doanh nghiệp phải trả cho những khoản liên quan đến dịch vụ chẳng hạn như: bảng
kê (ghi những số tiền nhập & xuất ở tài khoản của doanh nghiệp trong một khoảng thời kỳ nhất định: hàng
tháng, hàng tuần ), phí truy cập mạng, phí duy trì dịch vụ thanh toán qua mạng,
Đầu trang
8. Transaction fee là gì?
Đây là phần phí mà doanh nghiệp phải trả cho trung tâm xử lý thẻ tín dụng qua mạng Internet.
Thông thường từ 30 - 50 cent cho mỗi giao dịch.
Đầu trang
9. Discount rate là gì?
Đây là phí chiết khấu. Phần giá trị mà doanh nghiệp phải trả cho Ngân hàng thanh toán (Acquirer).
Thông thường mức phí này chiếm từ 2,5% đến 5% tổng giá trị thanh toán qua thẻ tín dụng. Phí chiết khấu
được tính dựa vào kiểu kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trên mạng của Doanh nghiệp và các yếu tố khác
(chất lượng hàng hoá, dịch vụ, loại thẻ tín dụng )
Đầu trang
10. Search Engine là gì?
Sẽ rất khó khăn cho người sử dụng truy cập vào Internet để tìm kiếm 1 Website có chủ đề phục vụ
cho mục đích của mình vì hàng ngày có khoảng hơn 100000 Website mới được đưa lên mạng. Số lượng
Website trên mạng Internet hiện nay đã lên tới hơn 5 tỷ Website. Vì vậy, để phục vụ việc tìm kiếm nhanh
chóng Website của người sử dụng Internet, Search Engine ra đời.
Search Engine là một thư viện thông tin khổng lồ về các Website, cho phép người sử dụng có thể tìm kiếm
các Website cần quan tâm theo 1 chủ đề nào đó căn cứ vào các từ khóa (keywords) mà người đó yêu cầu
Search Engine tìm kiếm.
Một số công cụ tìm kiếm mạnh trên thế giới hiện nay: Google.com, Yahoo.com, Altavista.com,
Đầu trang
11. News Letter là gì?
News Letter là dịch vụ miễn phí của 1 Website nào đó, dịch vụ này sẽ gửi tới người sử dụng những
bản tin mới nhất về các vấn đề có liên quan đến hoạt động của Website hoặc những vấn đề, tin tức mới
nhất trong lĩnh vực mà Website đó tham gia. Bạn chỉ cần đăng ký địa chỉ e-mail của mình tại phần News
Letter của Website bạn muốn nhận thông tin, đây là cũng là một dạng Mailing List nhưng bạn không thể
gửi mail cho toàn bộ các thành viên trong danh sách mà chỉ có người quản lý Website mới có quyền gửi e-
mail tới toàn bộ mọi người tham gia.
Đầu trang
12. Kinh doanh trực tuyến là hình thức kinh doanh như thế nào?
Kinh doanh trực tuyến là hình thức kinh doanh qua mạng. Mọi giao dịch được tiến hành trực tiếp
trên mạng ví dụ từ việc hỏi hàng đến đặt hàng và thanh toán. Tìm hiểu thêm chi tiết tại
http://vnnetsoft.com/e-marketing.php
Đầu trang
13. Thương mại điện tử xuất hiện ở Việt Nam từ khi nào?
Việt Nam hoà nhập Internet vào cuối năm 1997, một thời gian sau thì thuật ngữ thương mại điện tử
bắt đầu xuất hiện song chưa phát triển.
Đầu trang
14. Khi áp dụng Thương mại điện tử thì có chiến lược kinh doanh nào là đúng đắn nhất cho
một hãng kinh doanh không?
Không có một kế hoạch nào hoàn toàn đúng đắn cho tất cả các hãng kinh doanh. Nhưng những
bước cơ bản thì hoàn toàn giống nhau. Xem kế hoạch 5 bước của chúng tôi.
Đầu trang
15. Hình thức kinh doanh thương mại điện tử có dễ áp dụng cho các hãng kinh doanh
không?
Còn tùy thuộc vào ngành nghề mà có thể áp dụng Thương mại Điện tử. Thường thì Thương mại
Điện tử rất thích hợp cho các ngành trí tuệ, đặc biệt là sản phẩm hoặc dịch vụ có thể số hoá hoặc hiển thị
được bằng kỹ thuật số. Nói chung Thương mại Điện tử có thể áp dụng cho hầu hết các hãng kinh doanh
nhưng tuỳ thuộc vào mặt hàng kinh doanh mà áp dụng vào giai đoạn thích hợp.
Đầu trang
16. Trở ngại lớn nhất để một hãng kinh doanh áp dụng Thương mại điện tử là gì?
Trở ngại lớn nhất là sự do dự. Nếu không quyết tâm thì không bao giờ thành công.
Đầu trang
17. Đầu tư cho Thương mại điện tử có tốn kém không?
Tất nhiên đầu tư là phải tốn kém. Nhưng Thương mại Điện tử mang lại những hiệu quả lớn hơn
nhiều lần so với chi phí phải bỏ ra nếu bạn biết đầu tư đúng cách. Xem chi tiết tại
http://vnnetsoft.com/faq_website.php#9
Đầu trang
18. Dùng Thương mại điện tử có phải là giải pháp tối ưu cho cạnh tranh bán hàng không?
Cho đến hiện nay, việc áp dụng Thương mại Điện tử là giải pháp tối ưu trong việc cạnh tranh bán
hàng. Bạn không cần mất nhiều thời gian cho việc giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của bạn vì khách hàng có
thể tìm hiểu trên website của bạn.
Bạn sẽ không cần phải mất thì giờ, chi phí cho việc vận chuyển, thuyết phục khách hàng. Website
tự động sẽ giúp bạn có một chính sách chăm sóc khách hàng chu đáo, đây là một trong những yếu tố quan
trọng trong việc giữ khách lâu dài. Công việc duy nhất mà bạn phải làm đóa là xây dựng một website có
tính tự động hóa cao. Một website đủ mạnh và hiệu quả sẽ giúp bạn qua mặt các đối thủ cạnh tranh, nếu
bạn còn do dự, phân vân chưa biết sẽ xây dựng website của mình như thế nào, hãy liên hệ ngay với chúng
tôi khi vẫn còn chưa muộn.
Đầu trang
19. Khi các hãng kinh doanh áp dụng thương mại điện tử, nếu có cạnh tranh nhau thì sự
cạnh tranh đó sẽ diễn ra như thế nào?
Doanh nghiệp của bạn áp dụng Thương mại Điện tử thì doanh nghiệp đối thủ cũng có thể áp dụng
Thương mại Điện tử. Cạnh tranh là điều tất yếu trong kinh doanh, không phân biệt bất cứ ở đâu, lúc nào và
đối tượng ra sao. Song nếu bạn áp dụng một cách hiệu quả thì chắc chắn bạn sẽ vượt qua đối thủ cạnh
tranh. Chúng tôi sẽ giúp bạn có được những thủ thuật và giải pháp tối ưu nhất.
Đầu trang
20. Dùng thương mại điện tử trong kinh doanh thì tính bảo mật có được đảm bảo không?
Có nhiều cấp độ bảo mật khác nhau tăng giảm tuỳ theo mức chi phí mà bạn chấp nhận. Nếu doanh
nghiệp của bạn tham gia một cách nghiêm túc vào thương mại điện tử thì nên áp dụng chế độ bảo mật tốt
nhất.
Đầu trang
21. Quảng cáo phân loại là gì?
Quảng cáo phân loại là phương pháp quảng cáo ở các trang phân loại theo loại hình, cho phép người
mua và bán đăng quảng cáo theo những nghành nghề đã được phân loại sẵn.
Đầu trang
22. Tiếp thị bằng bản tin và bằng các nhóm tin khác nhau như thế nào?
Tiếp thị bằng bản tin là hình thức tiếp thị gửi bản tin cho khách hàng còn tiếp thị bằng nhóm tin là
tổ chức những nhóm người cùng quan tâm tới một vấn đề và gửi thông tin cho nhau.
Đầu trang
23. Triển khai đại lý trên mạng là như thế nào?
Triển khai đại lý trên mạng là việc sử dụng một phần mềm cho phép bạn mở đại lý qua mạng và
theo dõi được đơn đặt hàng của khách hàng bắt nguồn từ đại lý nào.
Một số ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam gần đây
Tuy có rất nhiều rào cản, nhưng sau gần hai năm tham gia Internet, Việt nam đã đạt được những kết quả rất
đáng khích lệ, hoà nhập với xu thế phát triển chung của thế giới.
Thương mại điện tử đã bắt đầu có được chỗ đứng của mình, dù rất khiêm tốn. Ðây mới chỉ là điểm
khởi đầu, những kết quả đạt được dù rất nhỏ nhưng sẽ là nền tảng cho một sự phát triển mạnh mẽ trong
những năm tới. Sự nỗ lực của các nhà cung cấp dịch vụ Internet, sự nhạy bén của các tổ chức, doanh
nghiệp tiên phong đã góp phần đưa đến những thành công ban đầu cho thương mại điện tử Việt nam. Có
thể kể ra một số ứng dụng thương mại điện tử phổ biến hiện nay ở Việt nam.
a. Quảng cáo trên mạng
Cho đến nay, khoảng 500 doanh nghiệp Việt nam có trang web trên Internet (chiếm 1%). So với các nước
phát triển, thì đây là một tỷ lệ quá thấp (ở Mỹ tỷ lệ này là 70%) nhưng với chúng ta, đó là một con số rất
có ý nghĩa. Những doanh nghiệp có trang web thường là những doanh nghiệp lớn. Tuy chưa trực tiếp bán
hàng nhưng với việc xây dựng trang web, các doanh nghiệp Việt nam đã tạo cho mình một văn phòng giao
dịch trên mạng, chuẩn bị sẵn sàng cho các giao dịch thương mại điện tử trong thời gian tới
Ngoài ra hàng ngàn các công ty, cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng đưa thông tin quảng cáo trên các web site
của các nhà cung cấp thông tin trên Internet như VDC, FPT, Netnam, Phương nam Khi vào bất kì trang
web nào của Việt nam hiện nay, chúng ta đều thấy khá nhiều logo, banner quảng cáo của các tổ chức
doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực của nền kinh tế: từ điện tử, viễn thông, tin học, sản xuất chế biến, xuất
nhập khẩu, du lịch đến các cửa hàng kinh doanh, các nhà may, thậm chí cả các phòng tranh của các hoạ sĩ.
Trang web càng đẹp, hấp dẫn, càng nhiều người truy cập thì càng có nhiều công ty quảng cáo.
Các nhà cung cấp dịch vụ Internet cũng đưa ra những hình thức quảng cáo rất đa dạng để thu hút các
doanh nghiệp tham gia. Ngoài web, đặt logo, banner còn tổ chức các chuyên trang như Top 100, Best Ten
(trên http://www.vnn.vn/), trang kinh doanh business.vnn.vn, tổ chức các hội chợ thương mại trên Internet.
Các mục rao vặt trên Internet cũng rất phát triển, bạn có thể tìm mua các mặt hàng đơn lẻ trên mục rao vặt
của www.fpt.vn(Trở lại đầu trang)
b. Thông tin
Hiện nay, có rất nhiều thông tin thương mại được cung cấp bởi các nhà cung cấp thông tin Internet của
Việt nam tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp.
Trên trang web www.vnn.vn của VASC cung cấp cho bạn một khối lượng thông tin khổng lồ miễn phí:
+ Trang vàng: Cung cấp thông tin về các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực
+ VNN guide & shoping: Cung cấp các thông tin về các dịch vụ (máy bay, taxi, giặt là, bệnh viện), về mua
sắm
+ Bản tin thị trường: Cung cấp đầy các thông tin về giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ. Tỷ giá ngoại tệ, giá
vàng
+ Bất động sản: Cung cấp thông tin về bất động sản tại các thành phố lớn trong cả nước.
+ Tư vấn pháp luật, tư vấn đầu tư và nhiều thông tin khác
Ngoài ra bạn còn tìm thấy nguồn thông tin phong phú trên hàng loạt các trang web khác như
http://www.business.vnn.vn/ , http://www.tintuc.vnn.vn/, http://www.fpt.vn/,
http://www.vitranet.vnn.vn/
c. Xuất bản
Hiện nay, xu thế xuất bản điện tử đang diễn ra phổ biến trên thế giới và đem lại nguồn doanh thu lớn cho
các nhà xuất bản. ở nước ta, ngày càng có nhiều tờ báo điện tử xuất hiện trên mạng. Các toà soạn cuối
cùng cũng đã nhận ra xu thế phát triển tất yếu của loại hình này. Hiện nay, việc xuất bản điện tử đơn thuần
là để cung cấp thông tin, quảng bá thông tin ra nước ngoài, chưa hề có chuyện bán báo điện tử ở Việt nam,
nhưng các Báo đều hy vọng rằng điều đó sẽ diễn ra cùng với sự phổ cập của Internet trong thời gian tới.
Các Báo đi đầu trong lĩnh vực này có: Nhân Dân, Thông tấn xã Việt nam, Thời báo kinh tế, Lao động, Quê
hương, Thế giới (Trở lại đầu trang)
d. Thanh toán
Ðây là lĩnh vực ứng dụng công nghệ Internet nhiều nhất ở nước ta cho nên có thể nói hoạt động thương
mại điện tử hiện nay chủ yếu là trong lĩnh vực thanh toán và các lĩnh vực khác của ngân hàng. Ðiều đó thể
hiện qua việc hệ thống ngân hàng của Việt nam đã tham gia thanh toán quốc tế thông qua việc nối mạng
SWIFT.
Từ năm 1993, hệ thống ngân hàng đã bắt đầu ứng dụng công nghệ tin học vào công tác thanh toán chuyển
tiền nhưng mới ở trình độ bán cơ giới bằng việc hoán chuyển chứng từ bằng giấy sang dữ liệu máy tính ,
để chuyển tới ngân hàng có đơn vị thụ hưởng. Kể từ khi thực hiện thanh toán qua mạng máy tính, công
việc thanh toán được thực hiện nhanh, chính xác, tăng nhanh vòng quay vốn, tạo cho doanh nghiệp giảm
chi phí và chủ động trong sử dụng đồng vốn. Ðối với hệ thống ngân hàng đã giảm được đáng kể lượng tiền
mặt trong lưu thông kéo theo nhiều lợi ích kinh tế khác như tiết kiệm chi phí in ấn, kiểm đếm, đóng gói,
vận chuyển, bảo quản,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới bắt đầu hoạt động kinh doanh đối ngoại và thanh toán
quốc tế từ năm 1993. Gia nhập hệ thống SWIFT từ tháng 3 năm 1995, hiện đã có 20 chi nhành thực hiện
thanh toán quốc tế qua SWIFT từ cơ sở đang mở rộng đến các chi nhánh có đủ điều kiện. Tổng số điện đã
chuyển qua hệ thống SWIFT trong năm 1997 là 14.000 với tổng số tiền là 756 triệu USD.
Ngân hàng Công thương Việt nam, được đánh giá là một trong những ngân hàng dẫn đầu của Việt
nam trong lĩnh vực ứng dụng, đưa tiến bộ của công nghệ thông tin vào kinh doanh ngân hàng. Hệ thống
máy tính của ngân hàng đã được nối mạng từ cơ sở, các phòng tín dụng đến các chi nhánh về trung tâm
diện toán của ngân hàng trung ương. Hệ thống máy tính đã giúp cho việc kinh doanh tiền tệ chặt chẽ và
nhanh nhạy hơn. Gần đây, Thủ tướng chính phủ ra một văn bản cho phép sử dụng chứng từ điện tử, sau đó
Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế chuyển tiền điện tử. Trước đay, sau khi tập trung số
liệu, lưu trữ số liệu bằng đĩa mềm thì ngân hàng Công thương vẫn cứ phục hối hay là song song làm chứng
từ bằng giấy, làm như vậy rất chậm và tốn công. Tuy nhiên việc sử dụng chứng từ điện tử đối với ngân
hàng cũng chưa thể hoàn thiện ngay được, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. (Trở lại đầu trang)
e. Bán hàng trên mạng
Ngày 19/12/1998, Trung tâm Dịch vụ Gia tăng Giá trị (VASC) khai trương siêu thị điện tử đầu tiên tại địa
chỉ http://203.162.5.45/cybermall/ . Trên Cybermall bày bán khá nhiều mặt hàng và người xem có thể tự do
dạo chơi trên siêu thị, chọn mua mặt hàng mà mình thích rồi đặt mua hàng. Siêu thị được thiết kế với đầy
đủ các tính năng cần thiết để việc mua, bán hàng được thuận tiện, duy chỉ có chức năng thanh toán bằng
tiền điện tử là không thực hiện được không phải vì khả năng kĩ thuật không cho phép mà đơn giản là hệ
thống Ngân hàng Việt nam chưa áp dụng loại hình thanh toán này. Ban đầu, mọi người vào siêu thị vì tò
mò, sau thấy đơn giản tiện lợi, một số đã đặt mua hàng. Mọi chuyện diễn ra thuận lợi và một số nhà cung
cấp đã đăng kí bán hàng trên siêu thị khiến cho hàng hoá ngày càng trở lên phong phú.
Sau Cybermall, một số Siêu thị điện tử khác của Việt nam cũng đã ra đời như Siêu thị máy tính tại
http://www.bluesky.com.vn/ . Doanh số bán hàng qua mạng còn rất khiêm tốn vì nhiều lý do nhưng điều
quan trọng là người dân Việt nam đã làm quen được với một phương thức bán hàng hoàn toàn mới. Nếu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét